Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa kinh tế & kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành kinh doanh quốc tế
đề án môn học
Đề tài:
một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy
quan hệ thơng mại Việt Nam - nhật bản
Giáo viên hớng dẫn : ts. Nguyễn thị hờng
Sinh viên thực hiện : phạm tăng kiên
Lớp : QTKDQT - B
Khoá : 39
Hệ : Chính qui
Hà Nội 10/2000
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc đó là xu thế tự
do hoá ,khu vực hoá và toàn cầu hoá về thơng mại .Những thay đổi đó, một mặt
tạo ra những cơ hội thận lợi cho các nớc đang phát triển có thể nắm bắt ,vờn tới
nhằm đạt đợc mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Mặt khác đang đặt ra những
thách thức ,những vấn đề phức tạp hơn cho mỗi quốc gia phải đối phó giải quyết
. Chính vì vậy ,ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia. Hội nhập vào xu thế này từ đại hội đảng lần thứ
VI(12/1986) Việt nam đã thực hiện chính sách đối ngoạI từ đó đã tăng cờng
các quan hệ với các nớc trong khu vực và trên thế giới,không ngừng củng cố với
các nớc bạn bè truyền thống. Mà trong đó không thể không nọi tới quan hệ giữa
việt nam và nhật bản. Hai nớc này cùng nằm trong khu vực châu á có nhiều
đIúm tơng đồng về văn hoá -kinh tế,từ lâu đã quan hệ với nhau và ngày càng
gắn bóchặt chẽ hơn trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực thơng mại.
Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ
của các thầy cô trong khoa KT&KDQT và trung tâm t liệu trờng đại học KTQD
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong khi thực hiện đề tài. Qua đây em xin bày
tỏ lòng biết ơn đến mọi ngời đã giúp đỡ em và đặc biệt là TS. Nguyễn Thị Hờng
ngời đã tận tình hớng dẫn em thực hiện đề tài này.
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn, đề tài này không tránh khỏi
thiếu xót và những hạn chế. Em rất mong nhận đợc sự chỉ bảo đóng góp ý kiến
của các thầy cô và các bạn để đề tài đợc hoàn chỉnh hơn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
Những vấn đề lý luận chung về thơng mại
quốc tế và sự cần thiết phải phát triển quan
hệ thơng mại Việt Nhật.
I- Khái luận chung về thơng mại quốc tế:
1. Khái niệm:
Thơng mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ(hàng hoá hữu hình
và hàng hoá vô hình) giữa các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi
giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá.
Thơng mại quốc tế bao gồm các hoạt động khác nhau. Trên giác độ một
quốc gia nó chính là hoạt động ngoại thơng.
Ngoại thơng là việc mua bán hàng hoá với nớc ngoài, bao gồm các hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình và vô hình (các bí quyết công nghệ,
bằng sáng chế phát minh, phần mền máy tính, các thiết kế kỹ thuật các dịch vụ
lắp ráp, thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch và các loại dịch vụ khác ), gia công
thuê cho nớc ngoài hoặc thuê nớc ngoài gia công tái xuất và chuyển khẩu và
xuất khẩu tại chỗ. Tất cả các hoạt động này đều lấy tiền tệ làm phơng tiện trung
gian.
2. Đặc điểm của thơng mại quốc tế.
Ngày nay, thơng mại quốc tế phát triển với tốc độ cao hơn so với tốc độ
do hoá thơng mại, song mặt khác giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình
thành các hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn.
II - Sự cần thiết phải phát triển quan hệ thơng mại
Việt Nhật.
1. Xu hớng toàn cầu hoá quan hệ kinh tế của các quốc gia trên thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng phải có một chính sách về thơng mại
thích hợp.
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra với quy mô
ngày càng lớn, với tốc độ ngày càng cao làm cho nền kinh tế thế giới hình thành
một chỉnh thể thống nhất trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, giữa chúng có
sự phụ thuộc lẫn nhau. Quá trình quốc tế hoá diễn ra ở những cấp độ khác nhau
trong tất cả các lĩnh vực nh tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ, giáo dục đào
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tạo, văn hoá - thể thao điều đó đ a đến sự tất yếu phải mở cửa nền kinh tế
của mỗi quốc gia ra thị trờng thế giới và phải tham gia vào phân công lao động
quốc tế, phải coi thị trờng thế giới vừa là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và
là nơi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho nền kinh tế mỗi quốc gia. Chính đây
là cơ sở khách quan cho việc hình thành chính sách mở cửa hay chính sách phát
triển thơng mại mỗi quốc gia.
Vì vậy, trong xu thế đó Việt Nam không nằm ngoài xu hớng vận động của
nền kinh tế thế giới. để tham gia vào thị trờng thế giới hay thị trờng khu vực để
phát huy lợi thế so sánh của mình, điều đó đòi hỏi Việt Nam cần phải xây dựng
các chính sách phù hợp mở cửa tự do hoá thơng mại với các nớc trên thế giới,
trong khu vực nói chung và chính sách quan hệ thơng mại Việt Nhật nói
riêng.
ở Đại hội VI (1986) Đảng ta đã đa ra chính sách mở cửa nền kinh tế, đa
phơng hoá quan hệ thơng mại và đầu t, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối
ngoại, tự do hoá thơng mại và cùng với chính sách đổi mới đó chính phủ đã
ban hành luật đầu t nớc ngoài(1987). Bộ luật này đợc Chính phủ liên tục sửa đổi
phân công lao động ,sự phân công lao động này dần dần vợt ra ngoài phạm vi
biên giới quốc gia biên giới hai nớc đa đến sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá
lẫn nhau giữa các công ty giữa hai nớc. Và đặc biệt, xuất hiện một yếu tố khách
quan là phải tiến hành chuyên môn hoá giữa các quốc gia nhằm đặt tới quy mô
tối u cho từng ngành sản xuất mà cụ thể đây là hai quốc gia Việt Nam và Nhật
Bản. Điều này có nghĩa là không phải mỗi nớc Việt Nam hay Nhật Bản đều tự
mình sản xuất mọi thứ hàng hoá để tự đáp ứng cho nhu caàu của mình kể cả tr-
ờng hợp có đủ điều kiện cho việc sản xuất. Trái lại chính dung lợng của thị tr-
ờng thế giới đòi hỏi mỗi quốc gia phải tập trung vào một số ngành và sản phẩm
nhất định của mình có lợi thế để đạt tới quy mô sản xuất tối u.
Tiếp theo đó là sự đa dạng hoá trong nhu cầu tiêu dùng của mỗi quốc gia
là một cơ sở quan trọng của việc phát triển quan hệ kinh tế thơng mại Việt
Nhật. Khi đời sống kinh tế ngày càng phong phú thì ngời tiêu dùng tìm đến
các mặt hàng phù hợp thị hiếu và khả năng thanh toán của họ. Chính vì vậy mà
quan hệ kinh tế Việt Nhật cần có sự hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển và cùng
đạt đến lợi ích chung tối u nhất giữa hai quốc gia.
3. Lợi thế so sánh giữa hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản.
a. Lợi thế so sánh của Việt Nam .
Việt Nam là thị trờng tiêu thụ lớn thứ 2 của đông nam á với dung lợng thị
trờng là 79 triệu ngời. Thị trờng lao động của Việt Nam trong khu vực tơng đối
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lớn nhng lạI rẻ chất lợng không thua kém so với một số nớc trong khu vực. Nếu
so với Nhật Bản thì giá thuê lao động ở Việt Nam hết sức rẻ: o,18 USD /giờ
trong khi đó Nhật Bản là 16,36USD /giờ. Việt Nam đang trong tình trạng d thừa
lao động quá lớn.
Việt Nam nhìn ra biển Đông với bờ biển dàI 3200 km , có nhiều đảo và
quần đảo, lại nằm trên các tuyến giao thông quốc tế nên rất thuận lợi cho việc
xây dựng các hải cảng lớn mỏ rộng giao lu buôn bán với các nớc trong khu vực
và trên thế giới. Một yếu tố quan trọng nữa là Việt Nam nằm trong khu vực phát
nghiệt. Thế nhng, Nhật Bản là một trong cờng quốc kinh tế lớn nhất thế giới, có
mức dự trữ ngoại tệ đứng đầu trên thế giới với 233 tỷ USD và trình độ phát triển
khoa học cao. Do vậy, Nhật Bản có u thế về vốn ,công nghệ và trình độ quản lý-
những cái mà nền kinh tế Việt Nam đang rất cần. Trong khi đó Nhật Bản lại
thiếu nguyên vật liệu và lơng thực thực phẩm một cách trầm trọng những cái
nền kinh tế Việt Nam đang d thừa.
Nhật Bản là cờng quốc công nghiệp số một trên thế giới nhng lại mang
tính chất á Đông gần gũi với khu vực Đông Nam châu á do vậy sản phẩm của
Nhật Bản thích nghi với ngời tiêu dùng Việt Nam. ấn tợng chữ tín của hàng
công nghiệp Nhật Bản đã ăn sâu vào tiềm thức của ngời dân Việt Nam từ những
năm của thập kỷ 50-60. Chỉ có hàng công nghiệp của Nhật Bản mới thích nghi
với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ma nhiều ở Việt Nam . không chỉ có thế nó còn
có u thế cả về chất lợng và giá cả so với hàng hoá cùng loại của các nớc công
nghiệp khác.
Hàng xuất khẩu của Nhật Bản chủ yếu là sản phẩm của các ngành công
nghiệp chế tạo những hàng hoá mà nền kinh tế Việt Nam đang rất cần, vì
hiện nay Việt Nam đang tiếan hành sự công nghiệp hoá hiện đại hoá nên rất cần
những dây chuyền công nghệ hiện đại của Nhật Bản.
Tóm lại, Nhật Bản và Việt Nam là hai nớc có nền kinh tế bổ sung cho
nhau, một nớc công nghiệp phát triển và một nớc nông nghiệp lạc hậu. Những
cái mà Nhật Bản có hay có thể nói là d thừa thì Việt Nam đang rất cần và ngợc
lại. đây là cơ sở cho việc trao đổi và là chìa khoá cho thơng mại giữa hai nớc
phát triển. Quan hệ thơng mại Việt Nhật sẽ còn tiến xa hơn nữa khi hai nớc
khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh trong buôn bán và cung hợp tác phát
triển.
4. Sự gặp gỡ lợi ích và nhu cầu tăng cờng mở rộng quan hệ từ hai phía.
Nhật Bản ngày càng chứng tỏ là một cờng quốc kinh tế và có vai trò to lớn
trong khu vực và thế giới. Gần đây, Nhật Bản đã có sự điều chỉnh và thay đổi
trong chính sách của mình bằng chủ trơng quay trở lạI châu á. Thực tế châu á
hiện đang là bạn hàng và là đối tác kinh tế chủ yếu của Nhật Bản. đầu t trực
với đông nam á trong đó có Việt Nam cũng chính là yêu cầu cấn thiết để tìm
kiếm lợi ích nói trên. Việt Nam không chỉ ở vị trí nối liền Nam và Đông á,
Đông và Bắc á mà tiêu điểm quan trọng trong quan hệ chính trị giữa các nớc
trong khu vực. Một khi Việt Nam đã mỏ cửa hội nhập và là thành viên của
ASEAN cũng nh quan hệ của Việt Nam với Mỹ và Trung quốc đã đợc caỉ thiện
vì vậy Nhật Bản tăng cờng quan hệ với Việt Nam chắc chắn sẽ có điều kiện mở
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rộng ảnh hởng của mình. Điều này không chỉ tạo ra cân bằng trong quan hệ với
các nớc mà còn là dấu hiệu về tính chủ động và độc lập trong chính sách đối
ngoại của Nhật Bản nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trờng quốc tế. đây
cũng chính là sự điều chỉnh chính sách đối ngoạI của Nhật Bản một chính
sách thờng bị phê phán chỉ là sự copy những biến tấu thay đổi của thế giới.
Cũng cần nhấn mạnh thêm là, việc mở rộng quan hệ của Nhật Bản với Việt
Nam trong giai đoạn này đã nhận đợc sự ủng hộ và đông tình của các nớc lớn,
các nớc trong khu vực và chính ngay cả trong nội bộ của Nhật Bản thân quen
hệ hai nớc trớc đây vốn bị chi phối bởi các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện
mới yếu tố kiềm chế quốc tế giảm đi sẽ là cơ hội thuận lợi để Việt Nam và Nhật
Bản có thể mở rộng quan hệ. Xét ở góc độ vì sự ổn định chung của khu vực và
thế giới, các cũng sẵn sàng ủng hộ việc hai nứoc Việt Nam Nhật Bản mở
rộng và tăng cờng quan hệ. Đây chính là thuận lợi mà trớc đây không thể có đ-
ợc. Trên thực tế hai nớc đã có nhiều sáng kiến và hành động cụ thể giải quyết
những vấn đề chung của khu vực. Việc mở rộng tăng cờng quan hệ giữa hai nớc
từ lợi ích của Nhật Bản mà còn xuất phát từ chính nhu câù và lợi ích của phía
Việt Nam .
Để thoát khỏi khủng hoảng ,bao vây cô lập thì việc cải thiện và mở rộng
quan hệ với các nớc là hết sức cần thiết đối với Việt Nam .Chính sách đổi mới
của Việt Nam thể hiện cả ở những thay đổi căn bản trong đối nội cũng nh đối
ngoaị đã chứng tỏ Việt Nam sẵn sàng hợp tác với tất cả các nớc.Nhật Bản với t
cách là một nớc có tiềm năng về kinh tế và có vai trò ổn định và hỗ trợ trong
hãy ngợc dòng lịch sử phát triển quan hệ thơng mại giữa hai nớc. Dựa vào đặc
điểm lịch sử quan hệ thơng mạI Việt Nhật có thể đợc chia thành những giai
đoạn sau:
1. Giai đoạn trớc năm 1955.
Quan hệ thơng mại Việt Nhật đã phôi thai kể từ nửa đầu thế kỷ 17 khi
tàu Goshuinsen (tàu buôn đợc shogun cấp giấy phép) chạy theo lộ trình giữa
Hội An với các thành phố cảng của Nhật Bản nh Nagasaki, sakai lúc bấy giờ
ở Nhật Bản khai thác đợc nhiều vàng, bạc, đồng Nhật Bản xuất sang Việt Nam
vàng, bạc những đồng tiền bằng đồng, gơm,đao, mành xếp, quạt xếp Còn trên
những con tàu Goshuinsen khi trở về nớc đã chất đầy tơ tầm, san hô, da hơu,
ngà voi lấy từ Việt Nam . Các th ơng gia Nhật Bản đã đem những hàng hoá
mà mình d thừa sang Việt Nam để bán cho thơng gia ở đây và mua cuả họ
những hàng hoá mà nhật không có để mang về nớc. Những hoạt động buôn bán
này thờng hết sức nhỏ bé và mang tính chất thụ động. Cho tới khi Việt Nam trở
thành thuộc địa của Pháp (cuối thế kỷ18), Pháp bắt đầu khai thác mỏ than Hòn
Gai và thơng gia Nhật đã vào mua một khối lợng lớn. Việt Nam xuất khẩu than
đá sang nhật nhiều đến mức hầu hết những ngời dân Nhật thời bấy giờ chỉ biết
đến Việt Nam là than Hòn gai. Do vậy, quy mô buôn bán Việt Nam Nhật Bản
đã đợc mở rộng và hoạt động buôn bán không còn mang tính chất tự phát nh tr-
ớc đây và đã phát triển thành những hoạt động buôn bán có tổ chức.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chiến tranh thế giới lần hai bùng nổ, Pháp hàng Đức. Tháng 9/1940 Nhật
Bản đa quân vào Đông Dơng, từ 23/9/1940 sau khi Nhật Bản cho quân dời biên
giới chiếm lạng Sơn, ném bom HảI phòng, đổ bộ lên Đồ sơn. với hiệp định
Tokyo ngày 6/5/1941 Pháp thừa nhận vị trí u đãi của Nhật trong quan hệ kinh tế
với Đông Dơng. Ngay sau đó một số công ty của Nhật vào Việt Nam và nhanh
chóng nắm các ngành kinh doanh quan trọng,khai thác nguồn lợi ở đây. Nhật
Bản đã đẩy mạnh các hoạt động buôn bán với thị truờng này, nen chỉ một thời
gian ngắn tỷ trọng buôn bán của Nhật Bản với thị trờng Việt Nam đã tăng lên
ớc nhảy vọt so với các thời kỳ trớc năm 1940.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Nhật Bản là hàng tiêu
dùng, một số t liệu sản xuất và một số hàng hoá phục vụ cho lợi ích của Nhật
Bản tại Việt Nam.
Từ năm 1943 trở đi hoạt động thơng mại Việt - Nhật giảm hẳn, trị giá
buôn bán hai chiều không đáng kể. nguyên nhân là cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc và phát xít Nhật của Việt Nam đang diễn ra ác liệt và tiến dần tới hồi
kết thúc. Tháng 8/1945 cuộc cách mạng thành công, chính quyền về tay nhân
dân, phát xít Nhật đã đầu hàng và rời khỏi Việt Nam. Sự ra đi này cũng đồng
nghĩa với việc chấm dứt thời kỳ hoàng kim của quan hệ thơng mại Việt - Nhật
kiểu thuộc địa.
Quan hệ thơng mại Việt Nhật bị chấm dứt trong giai đoạn 1945-1955.
Nguyên nhân là do phát xít Nhật bị bại trận và phải rời khỏi Việt Nam. Trong
suốt giai đoạn này tuy có những lúc không phản ánh đúng bản chất của mình
nhng vẫn toát lên sự mong muốn hợp tác của cả hai bên. Sang giai đoạn mới,
quá khứ đau thơng của hai dân tộc sẽ lùi lại phía sau, cả hai nớc cùng bớc vào
một thời kỳ mới- thời kỳ của sự hợp tác và phát triển.
2. Giai đoạn 1955-1975.
Nớc Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, miền bắc hoàn toàn
giải phóng trong khi đó miền nam lại rơi vào ách thống trị của đế quốc Mỹ.
Tình trạng này kéo dài suốt 20 năm cho tới 30/4/1975 Việt Nam mới hoàn toàn
đợc giải phóng, đất nớc thống nhất. Thời kỳ này trong quan hệ với Việt Nam ,
Nhật Bản luôn tuân thủ một cách nghiêm ngặt chính sách của Mỹ, thiết lập
quan hệ chặt chẽ với chính quyền Sài Gòn ở miền Nam và không quan hệ với
Việt Nam dân chủ cộng hoà ở miền Bắc. Nhng trong thực tế Nhật Bản vẫn duy
trì mối quan hệ không chính thức với miền Bắc Việt Nam về mặt chính trị xã
hội. Để thực hiện chủ trơng đó, năm 1955 Hội mâu dịch Việt- Nhật tổ
chức thơng mại phi chính phủ của Nhật Bản đã ra đời nhằm xúc tiến mậu dịch
với nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là bớc tiến quan trọng của phía Nhật
Bản trong việc thúc đẩy quan hệ thơng mại Việt - Nhật phát triển theo chiều h-
Bảng 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nhật 1955-1975
Đơn vị :triệu USD
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng cộng
Kim
ngạch
So với
năm trớc
(%)
Kim
ngạch
So với
năm trớc
(%)
Kim
ngạch
So với
năm tr-
ớc(%)
1956
0,34 - 0,39 - 0,72 -
1957
4,14 1217,6 3,80 974,4 7,94 1102,8
1958
3,65 88,2 4,63 121,8 8,27 104,2
1959
4,81 131,8 5,15 111,2 9,95 120,3
1960
7,56 157,2 6,57 127,6 14,12 141,9
Tổng cộng
181,01 - 162,47 - 343,41 -
Nguồn : thống kê của bộ tài chính Nhật Bản, JETRO
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam _Nhật Bản tăng nhanh so với
giai đoạn trớc tuy còn thất thờng ,nhng đặc biệt kể từ năm 1974 sau khi hai nớc
thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ,kim ngạch buôn bán hai chiều tăng vọt
lên.Năm 1973 kim nhạch xuất nhập khẩu Việt-Nhật chỉ đạt 13 triệu USD đến
năm 1974 đã tăng lên51triệu USD tăng 392,9%so với năm1973 nhng tói năm
1975 đã lên tới 93 triệu USD tăng 182,3%so với năm 1974.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong vòng hai mơi năm (1956-1975) tổng giá trị xuất nhập khẩu Việt
Nam Nhật Bản đạt 343,41 triệu USD,trong đó nhập khẩu 162,47triệu USD
,xuất khẩu 181,01 triệu USD .Việt Nam đã xuất siêu sang Nhật Bản 18,54 triệu
USD .Những kết quả đạt đợc từ hoạt động buôn bán Việt Nhật tuy còn nhỏ bé
nhng rất đáng khích lệ đói với Việt Nam .
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản là than
không khói ,hàng thuỷ hải sản và cao su.Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt
Nam từ Nhật Bản là hàng tiêu dùng đIửn tử ,máy móc thiết bị và ô to.Việt Nam
xuất sang Nhật chủ yếu là nguyên liệu thô,thực phẩm cha qua chế biến còn
nhập khẩu từ Nhật Bản các mặt hàng chế taọ.Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt
Nhật đã phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế của hai nớc.
Tháng 10/1973 sau khi hai nớc đã thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại
sứ,Nhật Bản ký một hiệp định viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam khoảng 28
trệu USD cho năm tài chính 1975.Khoản viện trợ này đợc sử dụng để mua hàng
hoá của Nhật Bản nh xe tải hạng nặng,ôtô điện,máy ủi và các loại hàng hoá
khác cần thiết cho Việt Nam khôi phục nền kinh tế.Hiệp định này đã làm cho
kim nhạch xuất khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản tăng vọt lên năm 1974 kim
nhạch xuất khẩu đạt 21 triêụ USD tăng 420% so với năm 1973,tới năm 1975 đã
tăng lên 65 triệu USD tăng 309,5% so với năm 1974.Đây cũng là nguyên nhân
thực hiện những chơng trình trên thông qua các cơ quan hợp tác quốc tế của
Nhật Bản .
Nhật Bản cũng hứa cung cấp cho Việt Nam một khoản viện trợ không
hoàn lại là 16 tỷ Yên trong 4 năm và các khoản cho vay khoảng 26 tỷ Yên.
trong năm đầu thực hiện dự án này, Nhật Bản đã chi ra 4 tỷ Yên viện trợ không
hoàn lạI và cho vay 10 tỷ yên. ngoàI ra Nhật Bản còn áp dụng chính sách bảo
hiểm thơng mại để đẩy mạnh hoạt động buôn bán với Việt Nam. Họ sử dụng
bảo hiểm thơng mạI trung và dàI hạn để bảo hiểm cho các công ty vay tiền ngân
hàng mua hàng hoá từ Việt Nam và bán chịu hàng hoá cho Việt Nam. Chính
phủ Nhật Bản dùng chính sách này để khuyến khích các doanh nghiệp Nhật Bản
mở rộng hoạt động buôn bán với thị trờng Việt Nam. Với những bớc đi này, hai
nớc ngày càng tiến xa trong quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại.
Bên cạnh chính sách khuyến khích buôn bán với Việt Nam do chịu sự chi
phối của Mỹ, Nhật Bản đã sử dụng quy chế hạn chế xuất khẩu một số mặt
hàng kỹ thuật cao, hàng chiến lợc sang các nớc xã hội chủ nghĩa trong đó
cóViệt Nam. Chính quy chế thơng mạI phần nào đã kìm hãm sự phát triển
quan hệ thơng mạI Việt Nhật. Quan hệ thơng mạI Việt Nhật đang trên đà
tiến triển tốt đẹp và theo chiều hớng thuận lợi thì vào cuối năm 1979, chính
quyền Pôl pốp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lợc một số tỉnh phía nam Việt
Nam và trung Quốc gây ra chiến tranh biên giới phía Bắc Việt Nam . Quan hệ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giữa trung quốc và chính quyền Pôl pốp của Campuchia với Việt Nam trở lên
xấu đI và cuối cùng trở thành đối nghịch.
Từ đấy quan hệ của Mỹ, Nhật Bản với Việt Nam cũng vì thế tiếp tục theo
chiều hớng đI xuống, đặc biệt là sau khi chính quyền Pôl Pốp bị đánh bạI ở Việt
Nam và một số tỉnh ở Campuchia. Một lần nữa Mỹ cùng Nhật Bản, các nớc ph-
ơng tây khác và đồng minh của Mỹ trong khu vực liên kết với trung quốc thực
hiện bao vây cô lập và cấm vận kinh tế chống Việt Nam. Dới sức ép của Mỹ và
dới áp lực mạnh mẽ của các nớc đồng minh, Nhật Bản quyết địhn đình chỉ viện
xuất
Kim
ngạch
So với
năm trớc
(%)
Kim
ngạch
So với
năm trớc
(%)
Kim
ngạch
So với
năm trớc
(%)
1976 49 - 167 - 216 - -118
1977 73 148,9 173 103,6 246 113,9 -100
1978 52 71,2 229 132,4 281 114,2 -1,7
1979 48 92,3 116 50,7 164 58,4 -68
1980 49 102,1 111 95,7 160 97,6 -62
1981 37 75,5 109 98,2 146 91,3 -72
1982 36 97,3 93 85,3 129 88,4 -57
1983 38 105,5 119 127,9 157 121,7 -81
1984 51 134,2 119 100 170 108,3 -68
1985 65 127,5 149 125,2 214 125,9 -84
Tổng cộng 498 - 1385 - 1883 - -887
Nguồn: thống kê bộ tài chính Nhật Bản, JETRO
Trong vòng 10 năm từ 1976-1985 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt
Nhậtđạt 1883 triệu USD trong đó, trong đó xuất khẩu 498 triệu USD, nhập khẩu
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Từ bỏ mô hình công nghiệp hoá cũ, chuyển hớng cơ cấu các ngành và đIều
chỉnh cơ cấu đầu t. Ưu tiên trọng tâm đợc dành cho sản xuất lơng thực,thực
phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
Mở cửa nền kinh tế, đa phơng hoá quan hệ thơng mạI và đầu t, đa dạng
hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại, tự do hoá thơng mại
Việt Nam thực hiện sự chuyển hớng chiến lợc để hấp thụ những hiệu ứng
tích cực từ cải tổ cơ cấu, dòng chảy vốn , kỹ thuật từ Nhật Bản và các nớc NICs
cho việc phát triển kinh tế nhằm thoát ra khỏi tình trạng cô lập và lạc hậu. Với
chính sách đổi mới đó tháng 12 năm 1987 luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đã
đợc ban hành và có hiệu lực thi hành vào đầu năm 1988. Từ khi Việt Nam thực
hiện chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế thì năm 1988 là năm đầu tiên
Việt Nam thực sự đổi mới với tốc độ tăng trởng kịnh tế nhanh và bộ mặt nền
kinh tế từng bớc thay đổi. Kết quả đạt đợc có sự đóng góp của chính sách tự do
hoá thơng mại và đẩy mạnh xuất khẩu.
Chính sách hớng về xuất khẩu và đẩy mạnh các hoạt đông xuất khẩu của
chính phủ Việt Nam cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy quan hệ thơng mạI Việt
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhật phát triển. Nhà nứơc Việt Nam cho phép doanh nghiệp sản xuất các mặt
hàng xuất khẩu đợc phép tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu để phục vụ
trực tiếp cho hoạt động sản xuất của mình.
Khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, chính phủ Nhật Bản đã có
cái nhìn tích cực đối với Việt Nam đó là đã cho phép các công ty Nhật Bản
vào Việt Nam thăm dò và tìm đối tác để tăng cờng buôn bán và hợp tác kinh
doanh. Nhiều đoàn doanh nghiệp của Nhật Bản đã lần lợt sang Việt Nam để
nghiên cứu thị trờng, hoạt động này đã làm tăng nhiệt độ của mối quan hệ th-
ơng mại Việt Nhật vốn đã nguội lạnh kể từ khi Việt Nam đa quan vào
Campuchia và Mỹ thực hiện lệnh trừng phạt kinh tế chống Việt Nam.
Đầu năm 1988, liên doanh dầu khí Việt Xô đã ký hai hợp đồng bán
khu vực. Các nứơc ASEAN giờ đây là bạn của Việt Nam, nhân tố này tạo tiền
đề cho Nhật Bản mở rộng quan hệ hợp tác thơng mại với Việt Nam.
Tháng 11/1992 sau Hội thảo Quốc tế về chuyển sang kinh tế thị tr-
ờngchính phủ Nhật Bản đã quyết định viện trợ trở lạI cho Việt Nam ,kết thúc
14 năm gián đoạn (1978-1992) .Tiếp sau việc nối lạI viện trợ (ODA) cho Việt
Nam ,chính phủ Nhật Bản tuyên bố huỷ bỏ quy chế hạn chế xuất khẩu một số
mặt hàng kỹ thuật cao, hàng chiến lợc sang các nớc xã hội chủ nghĩa trong đó
có Việt Nam,đã đợc áp dụng từ năm 1977.Từ nay Việt Nam đợc phép nhập
khẩu những máy móc thiết bị hiệ đại từ Nhật Bản để phục vụ cho công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tháng 2/1993 đoàn KEIDANREN (Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật
Bản ) tới thăm Việt Nam .Đến tháng 3/1993 Thủ tớng Võ Văn Kiệt chính thức
thăm Nhật Bản trong vòng 4 ngày và đã bày tỏ mong muốn Nhật Bản tăng c-
oừng hợp tác hơn nữa với Việt Nam .Chuến thăm của Thủ tớng đã có vai trò
không nhỏ trong việc cảI thiện quan hệ giữa hai nớc và thu hút đợc sự quan tâm
hơn nữa của chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam. Ngay sau chuyến thăm của
Thủ tớng Việt Nam cũng trong tháng 3/1993,Chính phủ Nhật Bản đã quyết định
tái lập bảo hiểm thơng mại trung và dài hạn sau 14 năm ngừng cung cấp (1979-
1993).
Ngày 3/2/1994 Diễn đàn thúc đẩy và phát triển hơn nữa quan hệ kinh
doanh Việt Nam Nhật Bản đã đợc tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh.Diễn đàn này sôi động và thu hút đông đảo doanh nghiệp cả 2
nớc tham gia.Sự kiện này đánh dấu một mốc phát triển của quan hệ thơng mại
Việt Nhật .Từ tháng 4/1994 Chính phủ Nhật Bản mở thêm bảo hiểm ngắn hạn
cho Việt Nam .Tiếp đó Nhật Bản ký với Chính phủ Việt Nam hiệp định tránh
đánh thuế hai lần.Cứ 6 tháng một lần phía Nhật Bản xem xét và đIều chỉnh lại
chính sách bảo hiểm thơng mại.Những bớc tiến này của phía Nhật Bản nhằm
thúc đẩy hoạt động với Việt Nam .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mại Mai văn D dẫn đầu đã sang thăm Nhật Bản. thành phần đoàn gồm có các
nhà doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách và chiến lợc phát triển thơng
mại của Việt Nam. Mục đích của chuyến thăm là thiết lập quan hệ hợp tác kinh
tế thơng mại với Nhật Bản và tiếp cận với thị trờng Nhật Bản để nắm bắt rõ
Website: Email : Tel : 0918.775.368