Đọc bài phú Sông Bạch Đằng qua nguyên tác
Sông Bạch Đằng từ lâu đã soi bóng lịch sử dân tộc như một huyền thoại, như một biểu
tượng của tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc. Những
chiến công hiển hách của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo đã làm nên một dòng sông lịch sử;
Bài phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú) của Trương Hán Siêu (?-1354) lại cho
chúng ta thêm yêu một dòng sông văn học. Đã có khá nhiều tác phẩm viết về sông Bạch
Đằng, lấy cảm hứng từ sông Bạch Đằng, nhưng xứng đáng là bài ca bất hủ về địa danh
chiến tích này chỉ có thể là Bạch Đằng giang phú.
Sự tài hoa của các dịch giả tên tuổi như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (NHT), Nguyễn
Đổng Chi (NĐC), Bùi Văn Nguyên (BVN)... đã chắp cánh cho Bạch Đằng giang phú bay
cao, ngân xa trong lòng người mộ thưởng. Thế nhưng, xem xét, đối chiếu các bản dịch
với nguyên tác, chúng tôi nhận thấy ở khá nhiều chỗ, việc chú giải chưa đầy đủ, rõ ràng;
thậm chí do gò vần ép đối mà bản dịch đã rời xa nguyên tác. Bài viết này mong muốn chỉ
ra những sai lệch của các bản dịch, góp phần tôn lên những giá trị nội dung và vẻ đẹp
nghệ thuật của tác phẩm thông qua việc bám sát nguyên tác.
1. Từ những chỗ bất ổn trong các bản dịch
Trong số các bản dịch Bạch Đằng giang phú hiện nay, bản dịch của NHT đăng lần đầu
trên tạp chí Nam Phong có thể coi là sớm nhất. Sau đó NĐC, BVN, Lê Trí Viễn (LTV),
người sau có sự kế thừa nhất định từ người trước, đều đã dịch tác phẩm này. Nhưng ngay
từ NHT đã dịch khá “thoát” nguyên tác. Nên sai lầm lại kế tiếp sai lầm, đặc biệt là bản
dịch đang được sử dụng trong các sách giáo khoa phổ thông, giáo trình đại học của BVN.
Ví dụ 1: Câu đầu, nguyên văn: “Quải hãn mạn chi phong phàm, thập hạo đãng chi hải
nguyệt” 掛汗漫之風凡,拾浩蕩之海月. (Tạm dịch: Treo cánh buồm căng gió [để mặc
trôi] lênh đênh; nhặt ánh trăng biển [lấp lánh như những hạt ngọc trai] trong mênh mông)
so với “Chèo quế bơi trăng, buồm mây giong gió” (NHT) và “Giương buồm giong gió
chơi vơi, lướt bể chơi trăng mải miết” (BVN) thực thấy khác nhau.
Những mĩ từ: “chèo quế”, “buồm mây”, “chơi vơi”, “mải miết” đều không phản ánh đúng
nguyên tác.
thắng đó. Dù là cùng trời cuối đất, nếu đã từng có dấu chân người thì cũng là nơi lữ
khách từng du ngoạn. Tưởng vậy là đã thoả “tráng chí” tung hoành bốn phương, nào ngờ:
“Hung thốn Vân Mộng giả sổ đắc, nhi tứ phương chi tráng chí do khuyết như dã” (Ngực
nuốt vài trăm đầm Vân Mộng(3), mà chí lớn tung hoành bốn phương vẫn còn chưa thỏa).
Chưa thoả! chỉ vì còn thiếu một nơi, ngay trên đất Việt: danh thắng - chiến tích sông
Bạch Đằng!
Tác giả đã chuẩn bị kỹ lưỡng tâm thế cho người đọc trước khi đến với sông Bạch Đằng.
Lý do để đến đây, không đơn thuần là một cuộc du hý (như các dịch giả đã chú(4), mà ví
như trọng trách của Tử Trường Tư Mã Thiên đời xưa. Tư Mã Thiên thác mệnh cha, 20
tuổi, bôn tẩu khắp núi non, sông bể Trung Hoa để tìm kiếm, thu thập sử liệu trong dân
gian mà làm thành bộ Sử ký, đáng để loài người phải nghiêng mình thán phục. Trương
Hán Siêu cũng vậy: đến Bạch Đằng để viết lại trang sử hào hùng, ghi dấu chiến công
oanh liệt cho muôn đời hậu thế! Nếu cần tìm một câu chủ đề cho bài phú, thì đó chính là
câu: “Nãi cử tiếp hề trung lưu, tòng Tử Trường chi viễn du” (Bèn nâng mái chèo giữa
dòng, học theo thú viễn du của Tử Trường.)
Và đây, sông Bạch Đằng đã hiện ra: bồng bềnh sóng nước (thị phiếm thị phù). Nhưng
đằng sau khung cảnh ấy là hình ảnh con người với khí phách mạnh mẽ: "Đón sóng kình
ngoài xa thẳm; Dìm sao Vĩ dưới đáy sâu". Ngòi bút tác giả bỗng rung động trước cảnh
sắc thiên nhiên tuyệt đẹp: phong cảnh tàn thu, trời nước biếc màu (thủy thiên nhất sắc,
phong cảnh tam thu). Ở đây, tác giả đã khéo léo vận dụng các ý thơ cổ, thổi vào đó hồn
thiêng Bạch Đằng.
Cảm hứng ngợi ca của tác giả trước hết bắt nguồn từ phong cảnh thiên nhiên kì vĩ của
Bạch Đằng. Cảm hứng ấy dâng cao trong niềm tự hào vô bờ bến khi hồi tưởng về những
trận chiến ác liệt, về tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Bằng giọng
văn hào sảng, say sưa tự hào, ta nhận ra "hào khí Đông A" là đây! Khí phách Trần triều là
đây! Là người trong cuộc(5), tác giả không trực tiếp nói đến chiến công mà nhường lời
cho các bô lão: “Trục lư thiên lý, tinh kì ỷ nỉ; tỳ hưu lục quân, binh nhận phong khỉ”
(Thuyền bè ngàn dặm, cờ xí phấp phới; tỳ hưu hùng dũng, gươm giáo xông pha). Cuộc
ngoạn trên sông Trường Giang, đương khi cùng khách uống rượu vui vẻ dưới trăng, bất
giác hồi tưởng về chiến địa Xích Bích(7) mà lòng chợt ủ ê, u hoài (Tô Tử thiểu nhiên,
chính khâm nguy tọa). Cùng là cái tâm sự hoài cổ, tiếc quá khứ huy hoàng, thương anh
hùng đã đi vào dĩ vãng. Nhưng điểm khác nhau cơ bản là văn nhân, thi sĩ Trung Hoa
ngậm ngùi nhớ người bại trận; còn Trương Hán Siêu lưu luyến chiến công, muốn công
nghiệp to lớn ấy sống mãi với thời gian.
Trương Hán Siêu còn thể hiện một tâm sự ưu thời mẫn thế, bày tỏ thái độ của mình đối
với cuộc sống và cả những “triết luận về vũ trụ và nhân sinh” như những dòng văn đầy vẻ
bi ai dưới đây:
“Chử địch ngạn lô, sắt sắt sâu sâu. Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu” (Bến lau
xào xạc, bờ lách rì rào. Giáo gãy chìm sông, xương khô đầy gò).
“Hoài cổ nhân hề vẫn thế, lâm giang lưu hề hậu nhan” (Đến chơi sông chừ ủ mặt, Nhớ
người xưa chừ lệ chan - BVN dịch).
Như vậy, để bạn đọc ngày nay có thể tiếp cận dễ dàng hơn với văn bản Bạch Đằng giang
phú của Trương Hán Siêu, thiết nghĩ chúng ta cần phải đưa ra được một bản dịch đáng tin
cậy. Đây là vấn đề quan trọng có tính cấp thiết vì tác phẩm này hiện đang được giảng dạy
ở các cấp học. Việc phân tích, làm rõ các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
càng giúp ta thêm hiểu rằng bản hùng văn Bạch Đằng giang phú xứng đáng có một vị trí
đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà.
Ths. Đỗ Phương Lâm
Đại học Hải Phòng
Chú thích:
([1]) Xin xem: Nguyễn Phạm Hùng: Văn học Lí - Trần nhìn từ thể loại, Nxb. GD, H.
1996, tr.146.
(2) Trong một bài viết mới đây: "Về cách hiểu một câu trong bài Bạch Đằng giang phú",
chúng tôi đã phân tích và đề nghị cách hiểu mới về câu văn này.
(3) Vân Mộng là cách nói hình tượng về chí lớn của nam nhi. Tư Mã Tương Như (đời
Hán) từng viết: “Thốn nhược Vân Mộng giả, bát cửu ư kỳ hung trung” (Nuốt vào trong
bụng tám, chín cái đầm Vân Mộng).
(4) Sách Ngữ văn 10, tr.101 có chú: “... Tư Mã Thiên, người đã đi du lịch nhiều nơi thắng