Tài liệu Tiểu luận: “Qua những trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, phân tích nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” - Pdf 96

Tiểu Luận
1
Qua những trận quyết chiến
chiến lược trong lịch sử dân tộc,
phân tích nghệ thuật đánh giặc
giữ nước của dân tộc Việt Nam
Qua những trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, phân tích nghệ
thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam
MỞ ĐẦU
Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước
đã hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi cuộc
chiến tranh, mỗi giai đoạn, thời kì đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giải
phóng và bảo vệ đất nước. Lịch sử tiến hành các cuộc chiến tranh yêu nước,
chính nghĩa chống ngoại xâm của dân tộc ta là lịch sử của những cuộc chiến
tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật quân sự của chiến
tranh nhân dân.
Lịch sử chiến tranh giải phóng bảo vệ đất nước đã nghi nhận rằng:
Nghệ thuật quân sự là một nhân tố quan trọng trong chiến tranh. Nhân dân
Việt Nam thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng ý chí quật cường mà còn là
sự kết hợp chặt chẽ ý chí với tài trí sáng suốt, thông minh, đánh bằng mưu kế
- thắng bằng thế thời. Lịch sử chiến tranh đã diễn ra các cuộc chiến quyết
chiến lược đã chứng minh điều đó, trong đó cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy muà Xuân năm 1975 là bước phát triển mới về chỉ đạo chiến lược,
nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Nghệ thuật quân sự Việt Nam đạt tới
đỉnh cao vừ hàm chứa tính hiện đại của cuộc chiến tranh thế kỉ XX, vừa mang
nét đặc trưng nghệ thuất quân sự truyền thống của dân tộc.
Biết bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu vô cùng anh dũng, cực kì
thông minh và trí tuệ đã để lại một di sản tinh thần, một di sản đạo đức vô
cùng quý giá, một di sản nghệ thuật quân sự vô cùng phong phú. Những di
sản có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ấy cần được giữ gìn và nghiên cứu, vận

Chọn hướng quyết chiến là chọn hướng công kích chủ yếu của tiến
công hoặc phản công chiến lược.
Chọn hướng quyết chiến không những là nơi ta có điều kiện thế mạnh
áp đảo đối phương mà còn là nơi để gây ra nao núng và rối loạn cho đối
phương trên toàn cuộc, là cái huyệt hiểm mà mỗi đòn của ta giáng xuống đều
có khả năng làm cho đối phương tê liệt và ngã quỵ.
- Phải có thời cơ quyết chiến:
Thời cơ xuất hiện vào thời kì tiến công và phản công chiến lược, lúc so
sánh lực lượng đã có chiều hướng nghiêng về phía ta hoặc đã ngả hẵn về phía
ta. Có thể đó là lúc địch mạnh nhưng bộc lộ nhiều chủ quan sơ hở, cũng có
thể là lúc địch lúng túng khó khăn, trên đà suy yếu hoặc suy yếu sõ sệt, thậm
chí đã mưu toan tháo chạy, còn ta thì cả thế lẫn lực đều đang ở thế đi lên.
- Có lực lượng và cách sử dụng lực lượng tham chiến:
Lực lượng của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của ta lực lượng
toàn dân, dân quân địa phương kết hợp với bộ đội chủ lực.
- Tướng cầm quân giỏi:
Trận quyết chiến chiến lược có quy mô lớn và có ý nghĩa chiến lược
sâu sắc, những vấn dề cần được giải quyết càng nhiều và càng gay go, phức
tạp. Do vậy đòi hỏi người chỉ huy trận đánh phải có nhãn quan chiến lược sâu
sộng, nghệ thuật thực hành chiến lược tài giỏi, đồng thời có quyền lực điều
động, sử dụng lực lượng một cách nhanh nhất.
Lịch sử dân tộc đã diễn ra các trận quyết chiến chiến lược sau:
Trận quyết chiến lược trên sông Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938,
Ngô Quyền đánh bại Hoằng Tháo, giành độc lập cho Tổ quốc.
Trận quyết chiến lược trên sông Như Nguyệt, mùa Xuân năm 1077 của
Lý Thường Kiệt đánh bại quân Tống.
4
Trận Chương Dương – Thăng Long năm 1285. Trần Quang Khải đánh
bại Thoát Hoan theo kế chính – kì của Trần Hưng Đạo.
Trận Bạch Đằng lần thứ hai tháng 4/1288 của Hưng Đạo Vương Trần

binh”
Hai là: “ Lấy đoản chế trường, lấy yếu trị mạnh, lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ
thắng lớn”.
Hai điểm cơ bản kể trên là là điều kiện, đồng thời cũng là quy luật tiến
hành chiến tranh chống xâm lược của tổ tiên ta, được quán triệt sâu sắc trong
các vấn đề chỉ đạo chiến tranh, trong nghệ thuật chiến lược cũng như trong
nghệ thuật chiến dịch, chiến đấu. Những trận quyết chiến chiến lược dù diễn
biến nhiều hình thức, nhiều vẻ nhưng cũng không vượt ra ngoài quy luật đó.
Nghệ thuật quyết chiến chiến lược
Nghệ thuật chọn hướng quyết chiến
Trong thế trận quyết chiến chiến lược chung, hướng quyết chiến chiến
lược là nơi quan trọng nhất “quyết định chín phần mười thắng lợi của cuộc
chiến tranh”. Bỡi vậy chọn hướng quyết chiến chẵng những có khả năng tạo
ra được so sánh lực lượng, có lợi để giành chiến thắng quyết định ở khu vực
quyết chiến mà còn tạo ra sự chấn động lớn, làm rung chuyển toàn bộ và thay
đổi cục diện chiến tranh.
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mỗi vị tướng đều có cách
chọn hướng và đối tượng quyết chiến khác nhau, tuỳ theo tình hình so sánh
lực lượng hai bên đối chiến.
Lý Thường Kiệt và Quang Trung công kích ngay vào hướng tiến công
chủ yếu của địch, vào đại quân chủ yếu là bộ thống soái của địch. Trần Hưng
Đạo và Lê Lợi – Nguyễn Trãi lại chọn công kích vào hướng địch yếu, đạo
quân yếu trước rồi mới đến đạo quân mạnh nhất của địch.
Tuy nhiên với đặc điểm chỉ đạo tác chiến “ lấy ít đánh nhiều, lấu ít trị
mạnh, lấy nhỏ thắng lớn”, nhìn chung các nhà chiến lược thiên tài của ta đều
lợi dụng chỗ yếu, chỗ sơ hở và nhằm vào chỗ hiểm yếu của các lực lượng vũ
6
trang xâm lược để tiến công, và từ đó làm cho cái mạnh của chúng nhanh
chóng yếu đi để tiêu diệt toàn bộ.
Nguyễn Trãi thường nói “Tránh chỗ mạnh, lợi dụng chỗ yếu”, “tránh

7
chúng không kịp trở tay, khiến cho chúng bị tiêu diệt ngay từ lúc chưa kịp
triển khai lực lượng để đối phó với ta.
Bởi vậy, để dành bất ngờ các nhà chiến lược của ta thường hành động
ngoài dự kiến của địch, khiến chúng không phán đoàn kịp phương hướng
đánh, cách đánh cũng như thời gian đánh của ta.
Trong trận tuyến trên sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã nắm chắc
tư tưởng trễ nải của địch cũng như tình hình lực lượng bị tiêu hao của quân
Tống để kịp thời mở cuộc vượt sông tập kích lớn vào trại quân Triệu Tiết,
khiến cho chúng bị tiêu diệt đến năm – sáu phần mười.
Thế - thời trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa : thế là chia cắt địch ra, đánh
nhiều hướng để phân tán đối phó với địch. Mũi chính đánh ở Ngọc Hồi, các
mũi phối hợp chia địch ra mà đánh; đặc biệt mũi Đống Đa là mũi bao vây vu
hồi và là mũi kỳ binh. Thời là khi Quang Trung với Hứa Thế Hanh chọi nhau
kịch liệt ở Ngọc Hồi thì Đặng Tiến Đông vu hồi vào Đống Đa làm bàn đạp để
nhanh chóng chọc sâu vào Tây Long cung, đánh bại Tôn Sĩ Nghị.
Thế - thời trong chiến cục mùa Xuân năm 1975. Quyết tâm của ta là
giải phóng Buôn Ma Thuật trước. Muốn chắc thắng , ta phải kìm được hai sư
đoàn tổn dự bị của địch là sư dù và lính thuỷ đánh bộ ở Sài Gòn và Huế - Đà
Nẵng. Để chúng không thể phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuật được. Thế tác
chiến của ta là bố trí Quân đoàn 2 ở Tây Huế, Quân đoàn 4 ở Đông Bắc Sài
Gòn để kìm chân địch và bố trí đến 4 sư đoàn ở vùng Tây Nguyên để tiến
công giải phóng Buôn Ma Thuật.
Thế của ta là giăng địch ra chiến trường rất lợi hại, cũng là nhằm phân
tán địch.
Thời được sử dụng khi hai quân đoàn của ta cùng lực lượng vũ trang ba
thứ quân của các quân khu kìm được địch ở hai vùng Nam – Bắc chiến tuyến,
ta lập tức đánh giải phóng Buôn Ma Thuật.
Tất cả những chiến công rực rỡ của tổ tiên ta chứng tỏ: các nhà chiến
lược thiên tài của ta chẳng những đã phát hiện rất nhạy bén và không bỏ qua

Tuy nhiên vai trò nòng cốt của các trận quyết chiến chiến lược vẫn là
lực lượng vũ trang tập trung, bao gồm:
Quân chủ lực của triều đình: Là những đơn vị cơ động tác chiến trên cả
nước, những quả đấm mạnh được bố trí thành từng khơi trên từng địa bàn
chiến lược để khi cần thiết có thể di chuyển địa bàn quyết chiến để thực hiện
9
các cuộc phản công hoặc tiến công chiến lược. Đây là những đơn vị tinh nhuệ
nhất, có quân bộ và quân thuỷ, có kỵ bing, pháo binh, tượng binh.
Quân các đạo, các lộ do chính quền địa phương quản lý, hoặc quân của
các vương hầu chịu sự chi phối thống nhất của triều đình.
Ở thời hiện đại đó là lực lượng bộ đội chính quy, bộ đội chủ lực tinh
nhuệ, kinh hoạt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Mặc dầu được tập hợp một cánh tối đa nhưng số lượng quân đội của ta
phần lớn vẫn thua kém đối phương. Nhưng dựa trên cơ sở nhân hoà, địa lợi,
thiên thời, với tư tưởng chỉ đạo “lấy ít đánh nhiều” và nghệ thuật dùng binh
có hiệu quả, tổ tiên ta từng đánh thắng oanh liệt những kẻ thù đông hơn ta gấp
bội.
Tiêu biểu như trận đánh trên sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã
dùng 6 vạn quân đánh bại khoảng 10 vạn quân của Quách Quỳ, trận Bạch
Đằng khoảng 3 - 4 vạn quân nhà Trần đã tiêu diệt được cả đạo quân thuỷ
khoảng 6 -7 vạn quân Mông Nguyên, Nguyễn Huệ với 10 vạn quân tinh nhuệ
đại phá 20 vạn quân Thanh….
Muốn thực hiện “lấy ít thắng nhiều” cần phải có các điều kiện sau:
Chính trị, tinh thần “ kẻ có nhân lấy yếu trị mạnh. Kẻ có nghĩa lấy ít
địch nhiều”(Bình Ngô đại cáo) tức là dựa vào dân, đoàn kết với dân chiến đấu
vì nghĩa lớn.
Đội quân tinh nhuệ, vì “binh quý ở chỗ tinh, không quý ở chỗ đa”
(Trần Quốc Tuấn).
Có cách đánh thích hợp: Biết đánh địch nhanh chóng bất ngờ, tạo thời
cơ, nắm thời cơ, làm cho địch suy yếu sơ hở “ lấy nhàn đánh mệt”

Trận Ngọc Hồi – Đông Đa, trên hướng chính tiến vào Thăng Long,
Nguyễn Huệ đã tổ chức mũi đột phá vào hướng Hà Hồi – Ngọc Hồi và mũi
chọc sâu vào Đống Đa. Đồng thời lại tổ chức hai mũi bao vây vu hồi rộng:
mũi gần ở Hải Dương nhằm uy hiếp và chặn địch ở phía Đông, mũi xa ở Lạng
Giang – Phượng Nhãn nhằm chặn đường rút chạy của địch về phía Bắc.
Riêng hướng đột phá vào Ngọc Hồi lại có mũi bao vây vu hồi hẹp ở Đầm
Mực để vét ngọn đám quân tan vỡ từ Ngọc Hội chạy về Thăng Long.
11
Bên cạnh đánh tiêu diệt ngọn, khi cần thiết tổ tiên ta cũng kiên quyết
tập trung lực lượng đánh những trận cường tập vào thành luỹ của địch và
giành thắng lợi vẻ vang.
Tiêu biểu như Lý Thường Kiệt vây đánh thành Ung Châu, Lê Lợi hạ
thành Xương Giang và Nguyễn Huệ diệt đồn Ngọc Hồi.
Dù sử dụng hình thức chiến thuật nào: Phục kích hay tập kích, kỳ tập
hay cường tập, tổ tiên ta cũng đều luôn luôn hành động một cách chủ động,
nhanh chóng, bí mật và mưu trí, linh hoạt.
Cách điều động địch theo hướng của mình: Đây là một yêu cầu quan
trọng trong nghệ thuật lấy ít đánh nhiều. Tổ tiên ta thường dựa theo quy luật
hoạt động của địch, dựa theo chiều hướng hành động cử địch, dung lực lượng
hợp lý của ta để dụ địch, dẫn dắt địch từng bước, ép chúng phải hành động
theo ý đồ của ta, đưa chúng vào trận địa đã chuẩn bị của ta mà tiêu diệt.
Tiêu biểu cho nghệt thuật dụ địch là hai trận Bạch Bằng của Ngô
Quyền và Trần Hưng Đạo: Cả kai vị tướng đều nắn rất rõ quy luật hoạt động
của địch, nhử địch vào trận địa mai phục đã cài rẵn, kiềm chế để buộc chúng
phải ra vào bẫy ở những điều kiện thuận lợi nhất, vào thời cơ có lơi nhất cho
ta.
Phát huy truyền thống đó, trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953 -1954
đứng trước âm mưu tập trung quân ở Đồng bằng Bắc Bộ của Nava, chủ tịch
Hồ Chí Minh với cách xoè bàn tay năn ngón biểu hiện cho năm hướng đánh,
ta đánh địch theo cách của ta, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó

nên địch ra vào trí của ta, lại cứ đem mưu trước mà làm thì ít khi không bị
địch đem kế để phá vậy.”
Hành động mưu trí của tổ tiên ta còn thể hiện ở cách vận dụng binh
pháp của Tôn Tử về chính binh và kì binh trong chiến đấu. Tổ tiên ta dung cả
chính cả kỳ, biết kết hợp cả chính và kì, nhưng do yêu cầu phải lấy ít đánh
nhiều nên ta chủ yếu sử dụng kì binh.
Nhìn chung các trận đánh của dân tộc ta là đánh rấy linh hoạt, thiên
biến vạn hoá, trên cơ sở một ý chí thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ
phận, nhằm mục đích rất kiên quyết là tiêu diệt từng đạo quân lớn của địch.
Sử dụng các phương tiện kĩ thuật khéo léo
Do thường xuyên phải đương đầu với giặc ngoại xâm, trong điều kiện
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, vũ khí của dân tộc ta nhìn chung có sự chênh
lệch so với đối phương. Tuy nhiên tổ tiên ta đã có nhiều cố gắng trong việc sử
13
dụng các phương tiện kĩ thuật và khéo léo tổ chức phát huy sức mạnh của
từng “binh chủng kĩ thuật” mình có
Trong các trận vùng biển sông Bạch Đằng, tổ tiên ta sử dụng cả quân
thuỷ, quân bộ, cả lực lượng trên bờ lẫn trên sông và biết phối hợp thuỷ bộ tác
chiến một cách thành thục và có hiệu quả tiêu diệt lớn.
Về hoả lực: Lúc chưa có sung Lý Thường kiệt Đã biết dùng tên lửa thô
sơ kết hợp với máy bắn đá vào Ung Châu, đốt cháy và phá rập kho tàng,
doanh trại quân địch trong thành. Trần Hưng Đạo dùng kế hoả công, lấy
nguyên liệu tại chỗ để thiêu cháy thuyền giặc. Những khẩu thần công được
Nguyễn Huệ bố trí một cách sáng tạo, hợp đồng chặt chẽ với quân thuỷ bộ
tiêu diệt hàng loạt quân Xiêm.
Về Tượng binh: Đây là một binh chủng đặc biệt được cha ông ta sử
dụng khi quân xâm lược không có. Trận cường tập Ngọc Hồi hơn 100 con voi
chiến, trên lưng đặt đại bác hoặc hoả hổ được Nguyễn Huệ sử dụng như một
khâu pháo tự hành hoặc những xe tăng đột kích mạnh, xuyên thủng đội hình
địch và nhanh chóng đánh tan đội quân thiện chiến, tinh nhuệ nhất của quân

mãnh liệt và liên tục. Đó chính là nghệ thuật quyết chiến có truyền thống lâu
đời của dân tộc ta.
Thắng lợi của nhân dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng và
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi của đường lối quân sự đúng đắn của
15
cha ông. Đường lối ấy được Đảng kế thừa và vận dụng trên cơ sở học thuyết
Mác - Lênin và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội
vào điều kiện thực tế của Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những
kinh nghiệm quân sự thế giới đã giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ và vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ngày nay.
Mục Lục
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status