Nghiên cứu công nghệ chuyển mạch quang tự động ASON và ứng dụng - Pdf 35

Đồ án tốt nghiệp Đại học

Lời mở đầu

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của mạng viễn thông
và yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng, việc đáp ứng và sử dụng hiệu
quả băng thông trở thành một vấn đề cần quan tâm hàng đầu của các nhà
khai thác mạng. Một số lý do cho việc hạn chế sử dụng băng thông trong
mạng quang hiện tại là thời gian thiết lập đường dẫn lâu, tài nguyên dự phòng
cho bảo vệ khá lớn và khả năng chuyển mạch không linh hoạt.
Vào những năm đầu của thế kỷ 21, ITU-T đã đưa ra một khái niệm
mạng truyền tải mới, mạng quang chuyển mạch tự động ASON. ASON đã
được phát triển nhằm tự động hóa mạng truyền dẫn, tăng tỉ trọng hoạt động
của thiết bị và giảm tỉ trọng tác động của con người. Kết quả là làm tăng khả
năng quản lý mạng và giảm chi phí về nhân lực. ASON có thể áp dụng cho
nhiều mạng truyền dẫn hiện tại như SDH, WDM.
Dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của cô Phạm Thị Hồng Nhung và thầy
Thái Minh Quân. Em đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp của mình với đề tài:
“Nghiên cứu công nghệ chuyển mạch quang tự động ASON và ứng dụng”. Đồ
án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về mạng quang chuyển mạch tự động ASON.
Chương 2: Báo hiệu và định tuyến trong mạng quang chuyển mạch tự
động ASON.
Chương 3: Ứng dụng công nghệ ASON.
Nội dung các chương như sau:
Chương 1: Tập trung tìm hiểu về những vấn đề cơ bản của ASON như
các kiến trúc logic và kiến trúc chức năng; các giao thức thường được sử
dụng, cũng như các chức năng mạng được hỗ trợ bởi ASON. Báo hiệu và
định tuyến là những vấn đề trọng tâm của mạng quang chuyển mạch tự động.
Chương 2: Tập trung xem xét các yêu cầu đối với báo hiệu và định

DANH MỤC HÌNH VẼ

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 3


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Danh mục bảng

DANH MỤC BẢNG

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 4


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Thuật ngữ viết tắt

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
AGC

Access Group Container
Automatically Switched Optical
ASON
Network
CAC

Internet Protocol
LC
Link Connection
LMP
Link Management Protocol
LRM
Link Resource Management
LSP
Label Switching Path
MPLS

Multi-protocol Label Switching

MSP
NE
NMI
NMS
OSPF
OTU
PC

Multiplexing Section Protection
Network Element
Network Management Interface
Network Management System
Open Shortest Path First
Optical Transponder Unit
Protocol Controller

PDH

Giao thức liên mạng
Kết nối liên kết
Giao thức quản lý liên kết
Quản lý tài nguyên liên kết
Tuyến chuyển mạch nhãn
Chuyển mạch nhãn đa giao
thức
Bảo vệ đoạn ghép
Phần tử mạng
Giao diện quản lý mạng
Hệ thống quản lý mạng
Giao thức định tuyến OSPF
Khối truyền tải quang
Bộ điều khiển giao thức
Hệ thống phân cấp số cận đồng
bộ
Giao diện vật lý
Vùng định tuyến
Trang 5


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Thuật ngữ viết tắt

RAdj
RC
RCD

Routing Adjacency

Soft Permanent Connection
Traffic Engineering
Telecommunication Management
Mạng quản lý viễn thông
Network
Bộ điều khiển báo hiệu chuyển
Transit Signalling Controller
tiếp
User Network Interface
Giao diện mạng người sử dụng
Ghép kênh phân chia bước
Wavelenght Division Multiplexing
sóng

TMN
TSC
UNI
WDM

Tạ Quang Sang – D10VT2

Liền kề định tuyến
Điều khiển định tuyến
Miền điều khiển định tuyến
Cơ sở dữ liệu thông tin định
tuyến
Hệ thực hiện định tuyến
Giao thức dành trước tài
nguyên
Kết nối chuyển mạch

gian của dịch vụ phải khai báo trên từng ring và từng điểm, tốn rất nhiều thời
gian và công sức. Khi mạng lưới phát triển mở rộng và phức tạp, rất khó để
cấu hình dịch vụ nhanh chóng.
• Mạng truyền dẫn quang WDM truyền thống cần nhiều tài nguyên dự phòng và
thiếu các kiểu bảo vệ dịch vụ tiên tiến với chức năng khôi phục và định tuyến.
Để khắc phục các nhược điểm trên và phù hợp với cấu hình mắt lưới
mà các mạng truyền tải quang sẽ được áp dụng rộng rãi trong tương lai, một
mạng truyền tải quang thế hệ mới ra đời đó là mạng quang chuyển mạch tự
động ASON (Automatically Switched Optical Network). ASON là mạng quang
chuyển mạch tự động dựa trên mặt bằng điều khiển chuyển mạch nhãn đa
giao thức tổng quát (GMPLS).
Các nhà điều hành mạng trông đợi các đặc trưng ưu việt từ ASON như
dự phòng nhanh, điều hành mạng dễ dàng hơn, độ tin cậy mạng cao hơn, khả
năng mở rộng, dễ dàng thiết kế và lập kế hoạch hơn. Dự phòng các kênh
quang trong thời gian phút thậm chí là giây sẽ mở ra một cơ hội mới để tận
dụng tài nguyên tốt hơn, tạo ra nhiều dịch vụ mới, ví dụ như một số cơ chế
phân bố lưu lượng. Các tài nguyên của mạng quang có thể được kết nối tự
động tới các mô hình lưu lượng dữ liệu trong các mạng khách hàng. Tạo một
mặt phẳng điều khiển tách biệt sẽ tác động đáng kể tới việc quản lý và điều
hành mạng. Các cơ chế bảo vệ và phục hồi cho các mạng truyền tải quang
kiểu lưới sẽ cải thiện độ tin cậy yêu cầu từ khách hàng. Mặt phẳng điều khiển
chuẩn sẽ cho phép tái sử dụng các giao thức hiện tại và giảm sự cần thiết của
các hệ thống hỗ trợ điều hành mở rộng để quản lý cấu hình. ASON thực hiện
cấu hình dịch vụ từ đầu cuối tới đầu cuối. Để cấu hình một dịch vụ, bạn chỉ
Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 7


Đồ án tốt nghiệp Đại học



Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 1: Tổng quan về ASON

Mặt phẳng quản lý thực hiện các chức năng quản lý cho mặt phẳng
truyền tải, mặt phẳng điều khiển và tất cả các thành phần khác như một hệ
thống trọn vẹn, cũng như phối hợp hoạt động cho các mặt phẳng. Các chức
năng quản lý này liên quan tới các thành phần mạng, các mạng và dịch vụ, và
thông thường ít tự động hơn so với mặt phẳng điều khiển.
Mỗi thành phần mặt phẳng điều khiển có một tập hợp các giao diện
được sử dụng để giám sát cũng như các chính sách thiết lập và ảnh hưởng
đến cách xử lý bên trong. Các giao diện này được sử dụng bởi một hệ thống
quản lý. Cần lưu ý rằng mặt phẳng quản lý không truy cập tài nguyên thông
qua các thành phần mặt phẳng điều khiển mà chỉ quản lý các thành phần này.
Mặt phẳng quản lý tương tác với các thành phần mặt phẳng điều khiển bởi
hoạt động trên một mô hình thông tin phù hợp.

1.1.1 Kiến trúc logic
Hình 1-2 dưới đây chỉ ra các giao diện (điểm tham chiếu) trong kiến trúc
logic mạng ASON. UNI là một giao diện báo hiệu giữa các thực thể mặt phẳng
điều khiển yêu cầu dịch vụ (cuộc gọi) và cung cấp dịch vụ. Giao diện trong
mạng - mạng (I-NNI) là một giao diện báo hiệu giữa các thực thể mặt phẳng
điều khiển thuộc về một hay nhiều hơn các miền có mối quan hệ với nhau và
giao diện ngoài mạng - mạng (E-NNI) là một giao diện báo hiệu giữa các thực
thể mặt phẳng điều khiển thuộc về các vùng quản lý khác nhau. Các giao diện
khác bao gồm: giao diện vật lý (PI) trong mặt phẳng truyền tải, giao diện điều
khiển kết nối (CCI) giữa các thành phần của mặt phẳng điều khiển và mặt
phẳng truyền tải, và 2 loại giao diện quản lý mạng (NMI) giữa mặt phẳng quản

mạng ASON (ASON NE), các TE link, các vùng và các kết nối cố định mềm
SPC (soft permanent connection).

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 10


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 1: Tổng quan về ASON

Hình 1-3: Kiến trúc chức năng ASON.
Hình 1-4 chỉ ra mối quan hệ giữa ASON NE và NE truyền thống.

Hình 1-4: Cấu trúc node mạng ASON.
Node ID là nhận dạng duy nhất của ASON NE trong mặt phẳng điều
khiển. Dạng của Node ID giống như địa chỉ IP.
Node ID, NE ID, và địa chỉ IP của NE độc lập với nhau.

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 11


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 1: Tổng quan về ASON

TE link là một liên kết kỹ thuật lưu lượng. ASON NE gửi thông tin băng

giống thuật toán lựa chọn tuyến. Khôi phục yêu cầu các tài nguyên dự trữ
trong mạng cho tái định tuyến dịch vụ bao gồm việc tính toán các tuyến. Khôi
phục dịch vụ mất một thời gian khá dài, luôn luôn phải mất vài giây.
Các cơ chế bảo vệ truyền thống vẫn có thể được áp dụng trong một
mạng ASON. Khi một lỗi xảy ra, chuyển mạch bảo vệ được thực hiện bởi mặt
phẳng truyền tải mà không liên quan tới mặt phẳng điều khiển.
Trong trường hợp của một mạng ASON, cơ chế tái định tuyến được áp
dụng để khôi phục các dịch vụ. Khi một LSP lỗi, node nguồn tính toán tuyến
Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 12


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 1: Tổng quan về ASON

tốt nhất để khôi phục dịch vụ và sử dụng báo hiệu để tạo một LSP. Sau đó,
tuyến mới mang các dịch vụ. Đối với các dịch vụ không trở lại, LSP ban đầu bị
xóa sau khi LSP mới được tạo, còn đối với các dịch vụ trở lại, LSP cũ sẽ
không bị xóa. Các lợi ích của việc tái định tuyến là:
• Các dịch vụ có thể được khôi phục nhanh và tự động.
• Yêu cầu dung lượng dự phòng ít hơn khi mạng ASON khôi phục trong thời
gian thực. Khả năng tận dụng băng thông tăng đáng kể.
Các cơ chế khôi phục mạng có thể được chia thành cơ chế khôi phục
tập trung và cơ chế khôi phục phân tán dựa vào kỹ thuật điều khiển.
Khôi phục tập trung yêu cầu một hệ thống điều khiển trung tâm để điều
khiển toàn bộ mạng một cách toàn diện. Hệ thống điều khiển trung tâm bao
gồm một cơ sở dữ liệu mạng rộng lớn, lưu giữ tất cả các thông tin về tất cả
các node, các liên kết và các tài nguyên dự trữ. Khi một liên kết hoặc một

hoặc các kênh DCC của OSC để phát các bản tin. Node 1 phát bản tin yêu
cầu tạo kênh điều khiển tới node 2, node 2 thực hiện kiểm tra các bản tin đã
nhận. Nếu bản tin qua được kiểm tra, node 2 trả lại bản tin cho node 1. Nếu
bản tin đó không qua được kiểm tra, node 2 trả lại một bản tin khác cho node
1, chỉ thị rằng bản tin lỗi. Node 2 đợi một kiểm tra khác. Sau đó, một kênh điều
khiển giữa 2 node được tạo.
Sau khi kênh điều khiển được tạo, 2 node lưu giữ thông tin về kênh điều
khiển và nhận dạng kênh điều khiển theo ID.
Sau khi các kênh điều khiển được cấu hình, và kiểm tra thuộc tính nhất
quán được thực hiện tới các TE link để xem nếu thông tin nhận dạng tại cả 2
đầu của các link TE được cấu hình thủ công hoặc được phát hiện động hay
không. Nếu kiểm tra thành công, giao thức OSPF được sử dụng để chuyển
thông tin của các TE link tới toàn mạng.
Như được chỉ ra trong hình 1-6, node 1 phát bản tin và nội dung đã
được kiểm tra tới node 2, node 2 kiểm tra xem nó có cùng thông tin không và
gửi kết quả kiểm tra trở lại cho node 1.

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 14


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 1: Tổng quan về ASON

Hình 1-6: Kiểm tra các TE link.
1.2.2 OSPF-TE
Mặt phẳng điều khiển thường sử dụng OSPF-TE, là một giao thức mở
rộng của OSPF, và thực hiện các chức năng sau:


Trang 15


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 1: Tổng quan về ASON

mạng, ASON cung cấp các chức năng để bảo mật các giao thức. Trong một
miền ASON, các giao thức RSVP và OSPF-TE được bảo mật nhận thực.
Nhận thực RSVP được cấu hình cho các node và nhận thực OSPF-TE
cho các giao diện liên kết (các khe và các giao diện quang). Có thể là không
nhận thực, nhận thực văn bản rõ ràng hoặc nhận thực MD5.
• Không nhận thực: Không yêu cầu nhận thực trong chế độ này.
• Nhận thực văn bản rõ ràng: Để kiểm tra khóa đặt trước. Mã nhận thực phải là
một chuỗi ký tự với không nhiều hơn 8 ký tự.
• Nhận thực MD5: Để kiểm tra thông tin đã được bảo mật bởi thuật toán MD5.
Mã nhận thực phải là một chuỗi ký tự với không nhiều hơn 64 ký tự.
Kiểm tra chỉ thành công khi các chế độ nhận thực và khóa của các node
liền kề là giống nhau.

1.3 Các liên kết ASON
Liên kết ASON bao gồm các kênh điều khiển, các liên kết điều khiển và
các TE link.

1.3.1 Các kênh điều khiển
LMP tạo và duy trì các kênh điều khiển giữa các NE. Kênh điều khiển
cung cấp một kênh vật lý cho các gói LMP. Các kênh điều khiển được chia làm
các kênh điều khiển trong sợi và ngoài sợi. Các kênh điều khiển trong sợi tự
động tìm và sử dụng mào đầu OTN hoặc các byte D4-D12 của DCC. Kênh

khiển tới các thực thể mạng. Mỗi NE chỉ quản lý và lưu giữ thông tin về các
kênh điều khiển của nó mà thôi.
TE link là một liên kết kỹ thuật lưu lượng. ASON NE gửi thông tin băng
thông của nó tới các ASON NE khác qua TE link để cung cấp dữ liệu cho việc
tính toán tuyến. TE link là một khái niệm của các tài nguyên. Các bảng khác
nhau tạo ra các TE link khác nhau. TE link có thể được chia thành các kiểu
sau:





OCh TE link.
OTU2 TE link và ODU2 TE link.
OTU1 TE link và ODU1 TE link.
OTU5G TE link và ODU 5G TE link.

1.4 Khả năng tự động phát hiện của các cấu hình mạng
Khả năng phát hiện tự động của các cấu hình mạng bao gồm phát hiện
tự động các liên kết điều khiển và các TE link.
1.4.1 Khả năng tự động phát hiện của các liên kết điều khiển
Mạng ASON tự động phát hiện các liên kết điều khiển thông qua giao
thức OSPF-TE.
Khi kết nối sợi (bao gồm sợi liên trạm tự động phát hiện và sợi trong
trạm cấu hình nhân công) hoàn thành trong một mạng ASON, mỗi ASON NE
sử dụng giao thức OSPF để phát hiện các liên kết điều khiển và sau đó phát
tán thông tin về các liên kết điều khiển của bản thân nó tới các thực thể mạng.
Kết quả là, mỗi NE thu được thông tin của các liên kết điều khiển trong toàn
mạng và cũng thu được thông tin về cấu hình điều khiển mạng - diện rộng.
Mỗi ASON NE sau đó tính toán tuyến ngắn nhất tới bất kỳ ASON NE nào và

1.5 Kết luận chương 1
Chương 1 đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản của mạng quang chuyển
mạch tự động ASON. ASON có kiến trúc 3 mặt phẳng: mặt phẳng truyền tải,
mặt phẳng điều khiển và mặt phẳng quản lý. Kiến trúc logic và kiến trúc chức
năng của ASON cũng tuân theo sự phân chia này. Trong phần 1.2 các giao
thức thường thấy trong các mạng ASON hiện tại được tìm hiểu với 3 giao thức
cơ bản: giao thức quản lý liên kết LMP, giao thức định tuyến OSPF-TE và giao
thức giành trước tài nguyên RSVP-TE. Các phần sau nghiên cứu các liên kết
của ASON với các kênh điều khiển, các liên kết điều khiển và các TE link; khả
năng tự động phát hiện của các cấu hình mạng ASON.

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 18


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 2: Báo hiệu và định tuyến trong ASON

CHƯƠNG 2: BÁO HIỆU VÀ ĐỊNH TUYẾN TRONG ASON
Chương 2 nghiên cứu những vấn đề cơ bản về việc quản lý kết nối,
cuộc gọi phân tán trong ASON cũng như định tuyến của nó. Cơ bản dựa trên
các khuyến nghị G.7713/Y.1704 Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán và
G.7715/Y.1706 Kiến trúc và các yêu cầu định tuyến cho mạng quang chuyển
mạch tự động ASON của ITU-T.

2.1 Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán (DCM)
Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán (DCM) cũng được coi là phần báo
hiệu của ASON. Nó cung cấp các yêu cầu cho việc truyền thông của các khối

điều khiển cuộc gọi liên quan tới một mạng con là các bộ điều khiển cuộc gọi
mạng (NCC) và đối với một miền riêng n, là một "NNC-n".
Các bộ điều khiển kết nối cho người sử dụng cuối được nhận biết như
CC-a và CC-z. Bên trong một miền n, các bộ điều khiển kết nối A-end, chuyển
tiếp, Z-end được biết đến như ACC-n, TCC-n, và ZCC-n.
Một bộ điều khiển báo hiệu bao gồm các chức năng điều khiển kết nối
và/hoặc điều khiển cuộc gọi. Đối với người sử dụng cuối, nó được biểu thị
bằng SC-a và SC-z. Bên trong miền n, các bộ điều khiển báo hiện A-end,
chuyển tiếp, Z-end là ASC-n, TSC-n, và ZSC-n. Nhớ rằng TSC thường không
có điều khiển cuộc gọi như trong hình 2-1.
2.1.1.1 Các thủ tục quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán
Các chức năng khối điều khiển cuộc gọi (CallC), điều khiển kết nối (CC)
và khối quản lý tài nguyên liên kết (LRM) quản lý tất cả các yêu cầu cuộc gọi
lẫn kết nối, bao gồm các hoạt động nguyên thủy của nó như thiết lập kết nối,
sửa chữa một kết nối và giải phóng kết nối. Để hoàn thành một hoạt động,
CallC, CC và LRM liên hành với các thành phần sau để thiết lập và giải phóng
kết nối.
• Khối điều khiển định tuyến (RC): Khối điều khiển định tuyến cung cấp
các thông tin tuyến khi được truy vấn bởi CC.
• Chức năng điều khiển nhận biết cuộc gọi (CAC).
• Khối điều khiển cuộc gọi (CallC).
• Khối điều khiển kết nối (CC).
• Khối quản lý tài nguyên liên kết (LRM).
Khối điều khiển cuộc gọi phía gọi liên hành với một khối điều khiển cuộc
gọi phía bị gọi bởi một hoặc nhiều hơn các khối điều khiển cuộc gọi mạng
NCC. Chức năng NCC được cung cấp tại biên mạng (nghĩa là điểm tham
chiếu UNI) và cũng có thể được cung cấp tại các cổng nối giữa các vùng
(nghĩa là các điểm tham chiếu E-NNI). Một cuộc gọi từ đầu cuối tới đầu cuối
được xem như bao gồm nhiều phân đoạn cuộc gọi khi cuộc gọi đi qua nhiều
miền. Mỗi phân đoạn cuộc gọi có thể gồm một hoặc nhiều kết nối (LC hoặc

năng độc lập, ví dụ, một miền có thể có khả năng bảo vệ 1+1 trong khi các
miền khác thì không.
NCC và CC tại biên mạng và các đường bao thực hiện các chức năng
khác nhau.
a) Tạo LC và SNC
Việc thiết lập từ đầu cuối tới đầu cuối một cuộc gọi bao gồm việc yêu
cầu cuộc gọi, yêu cầu các kết nối, và thiết lập các tài nguyên khác nhau để tạo
một kết nối. Hình 2-3 minh họa kết nối được lập để hỗ trợ một cuộc gọi.

Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 21


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 2: Báo hiệu và định tuyến trong ASON

Hình 2-3: Thiết lập LC và SNC cho một yêu cầu cuộc gọi.
Các tài nguyên sau được sử dụng để thiết lập cuộc gọi:
• Điểm mạng con SNP
• Bể SNP (SNPP)
• Kết nối liên kết (LC).
LC được thiết lập bằng cách chỉ định các SNP được dàn xếp giữa các
LRM. Sau đó cho phép CC tạo một SNC. Việc chỉ định các SNP có thể được
thực hiện như một sự thay đổi trạng thái của SNP (ví dụ, từ AVAILABLE tới
PROVISIONED; các SNP với trạng thái POTENTIAL hoặc BUSY không thể sử
dụng cho tạo kết nối). Hình 2-4 mô tả việc thiết lập LC bởi các LRM.

Hình 2-4: Thiết lập kết nối liên kết bằng cách chỉ định các SNP.

Lập một SNC là một quá trình xuất hiện ngoài một mạng con và được
điều khiển bởi CC. Một SNC được tạo sau khi xác định các SNP cho cả điểm
kết nối đầu vào và đầu ra. Các SNP đầu vào và đầu ra được nhận dạng như
một phần của việc thiết lập các LC (thông qua LRM). Hình 2-5 mô tả một SNC
được lập cùng với bộ điều khiển kết nối liên quan và đôi SNP liên quan tới
việc lập một SNC.

Hình 2-5: Tạo một kết nối mạng con SNC sau khi thiết lập các kết nối
liên kết LC.
b) Quá trình yêu cầu cuộc gọi
Để hỗ trợ dịch vụ kết nối chuyển mạch SC, một yêu cầu cuộc gọi được
bắt đầu bởi người dùng yêu cầu của người sử dụng A-end (CCC-a) qua một
bản tin yêu cầu thiết lập cuộc gọi gửi bởi CCC-a tới bộ điều khiển cuộc gọi
phía gọi. Yêu cầu cuộc gọi này xác định thông tin liên quan tới cuộc gọi mà
người sử dụng yêu cầu. Thông tin có thể bao gồm thông tin liên quan tới dịch
vụ và thông tin liên quan tới chính sách. Thông tin này được nhận bởi CallC
nằm bên trong ASC. Tiếp theo CallC xử lý yêu cầu cuộc gọi là liên hành với
các thành phần khác trong ASC để hỗ trợ yêu cầu cuộc gọi.
Để hỗ trợ dịch vụ kết nối cố định mềm SPC, bộ điều khiển cuộc gọi
khách hàng được điều khiển bởi mặt phẳng quản lý với việc yêu cầu quản lý
NCC để thiết lập cuộc gọi. Vị trí trên mặt phẳng truyền tải của điểm cuối cuộc
gọi này là một điểm kết cuối SPC, và một bộ nhận dạng tài nguyên truyền tải
UNI có liên quan. Với quản lý địa chỉ mạng truyền tải trung cho các SNPP,
Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 23


Đồ án tốt nghiệp Đại học


nhau, sự bắt đầu yêu cầu tạo kết nối có thể xuất hiện trong một trình tự khác
như được chỉ ra trong hình 2-6. Yêu cầu đó là của một mạng được tạo trước
khi cuộc gọi hoàn thành.
Sau khi xác nhận thành công quá trình yêu cầu tạo kết nối (qua tất cả các
phân đoạn cuộc gọi) yêu cầu thiết lập cuộc gọi hoàn thành thành công, và việc
chuyển thông tin đặc trưng của người sử dụng có thể bắt đầu.
Nếu quá trình yêu cầu thiết lập cuộc gọi không thành công, một thông
báo từ chối cuộc gọi được gửi tới người sử dụng.
• Giải phóng cuộc gọi
Tạ Quang Sang – D10VT2

Trang 24


Đồ án tốt nghiệp Đại học

Chương 2: Báo hiệu và định tuyến trong ASON

Hình 2-7 minh họa sự giải phóng cuộc gọi, và các luồng tín hiệu giữa
các thành phần liên quan.

Hình 2-7: Quá trình yêu cầu giải phóng cuộc gọi.
Bất kỳ bộ điều khiển cuộc gọi nào cũng có thể bắt đầu một yêu cầu giải
phóng cuộc gọi. Một yêu cầu giải phóng cuộc gọi (nhờ kiểm tra) phải luôn có
kết quả là giải phóng cuộc gọi thành công. Tuy nhiên, bất kỳ khuyết điểm nào
liên quan tới yêu cầu giải phóng cuộc gọi cũng có thể được thông báo tới một
hệ thống quản lý ngay sau đó (bao gồm thông tin cụ thể về sự suy giảm bất kỳ
kết nối thành phần nào không được giải phóng), và các thủ tục có thể được
đặt trong vị trí để tránh sự truy nhập hay sử dụng kết nối giải phóng không
thành công. Một yêu cầu giải phóng cuộc gọi bắt đầu từ bộ điều khiển cuộc




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status