BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH HÀ NỘI
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN MINH NGUYỆT
MÃ SINH VIÊN
: A19177
CHUYÊN NGÀNH
: NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VIỆT NAM
đề tài hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin cảm ơn các anh, chị, cán bộ nhân viên trong ngân hàng TMCP
Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội đã giúp đỡ, cung cấp những thông tin, số liệu
cần thiết và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Minh Nguyệt
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Minh Nguyệt
Thang Long University Library
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.............................................. 1
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại ................................................................. 1
2.2.1. Kết quả hoạt động huy động vốn ......................................................................31
2.2.2. Kết quả hoạt động sử dụng vốn ........................................................................33
2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh ..........................................................................35
2.3. Phân tích thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP
Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội ..................................................................37
2.3.1. Một số quy định trong về thời hạn định lại lãi suất thực tế ............................37
2.3.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn .............................................................................38
2.3.3. Tình hình sự biến động của nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất ......................42
2.3.4. Phân tích cơ cấu tài sản ....................................................................................46
2.3.5. Tình hình sự biến động của tài sản có nhạy cảm với lãi suất .........................47
2.3.6. Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây
dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội ...........................................................................50
2.4. Nghiên cứu, dự báo mức thay đổi của lãi suất .................................................56
2.4.1. Tình hình lãi suất trên thị trường.....................................................................56
2.4.2. Công tác nghiên cứu, dự báo biến động lãi suất của chi nhánh ....................57
2.5. Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng
Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội....................................................................................57
2.5.1. Kết quả đạt được trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất ..............................57
2.5.2. Những mặt còn tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất .....................58
2.5.3. Nguyên nhân......................................................................................................59
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ
RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG TMCP XÂY DỰNG VIỆT NAM –
CHI NHÁNH HÀ NỘI ...................................................................................... 62
3.1. Định hƣớng phát triển của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam ..............62
3.2. Định hƣớng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây
dựng Việt Nam .............................................................................................................63
3.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng
Tên đầy đủ
BCKD
Báo cáo kinh doanh
MTV
Một thành viên
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHNN VN
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTM
Ngân hàng thương mại
NIM
Hệ số thu nhập lãi cận biên
PGD
Phòng giao dịch
Bảng 2.8: Tình hình tài sản của chi nhánh các năm 2012 - 2014 ................................. 46
Bảng 2.9: Tình hình tài sản có nhạy cảm với lãi suất của chi nhánh các năm 2012 2014 .............................................................................................................................. 48
Bảng 2.10: Phân tích trạng thái nhạy cảm với lãi suất tại chi nhánh các năm 2012 2014 .............................................................................................................................. 51
Bảng 2.11: Phân tích sự thay đổi của thu nhập ròng nếu lãi suất giảm 1% ................. 54
Bảng 2.12: Phân tích sự thay đổi của thu nhập ròng nếu lãi suất tăng 1% .................. 55
Bảng 2.13: Tình tình thu nhập lãi thuần của chi nhánh ................................................ 55
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại ................... 13
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP XDVN Chi nhánh Hà Nội ............ 28
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn qua các năm 2012 - 2014 ................................. 32
Biểu đồ 2.2: Diễn biến lợi nhuận trước thuế các năm 2012 - 2014 .............................. 36
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh các năm 2012 - 2014 .......................... 39
Biểu đồ 2.4: Tiền gửi của khách hàng có thời hạn định lại lãi suất trên 1 tháng và dưới
12 tháng của chi nhánh các năm 2012 - 2014 .............................................................. 45
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh là điều không
thể tránh khỏi, nhất lả đối với các ngân hàng. Ngân hàng là một trong những đối tượng
có khả năng gặp rủi ro cao nhất và cũng gây ảnh hưởng lớn nhất đến toàn bộ nền kinh
tế khi ngân hàng gắp phải rủi ro. Trong khi đó, sự phát triển của hệ thống ngân hàng
lại rất quan trọng đối với nền kinh tế. Bởi vậy công tác quản trị các loại hình rủi ro
trong ngân hàng ngày càng được chú trọng và phát triển hơn, cùng với đó là sự ra đời
của các công nghệ, khoa học và các công cụ quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Các ngân hàng tại Việt Nam đã không còn xa lạ trong việc áp dụng các
phương pháp quản trị rủi ro và các công cụ đo lường rủi ro hiện đại. Tuy nhiên việc
quản trị rủi ro của các ngân hàng vẫn còn rất hạn chế, tồn tại nhiều khó khăn cần giải
quyết và vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Bên cạnh đó một trong số các loại
rủi ro cần ngân hàng phải quan tâm theo dõi chặt chẽ hơn là rủi ro lãi suất bởi tính chất
bất ổn định của lãi suất thị trường và quy mô ảnh hưởng của nó lên kết quả hoạt động
quản trị rủi ro lãi suất.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh... với hệ
thống sơ đồ, bảng biểu và số liệu thực tế trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại
ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội để trình bày các nội dung
lý luận và thực tiễn.
5. Kết cấu khóa luận
Nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng
TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại
ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại
a) Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã định nghĩa: “Ngân
hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi
nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh và cung ứng thường
xuyên một hoặc một số nhiệm vụ như: nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ tín dụng, dịch
vụ thanh toán”.
Có thể hiểu ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan, được thành lập theo
quy định của pháp luật và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Ngoài ra, ngân hàng
lãnh, cho thuê tài chính...
c) Hoạt động trung gian:
Các hoạt động trung gian bao gồm: thanh toán hộ, chuyển tiền, đổi tiền, thu hộ,
mở L/C, cung cấp thông tin về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp, quản lý hộ
tài sản…
d) Hoạt động khác
Ngoài ra trong ngân hàng thương mại còn có các hoạt động khác liên quan đến
việc quản lý và thực hiện trong ngân hàng như: hoạt động ngân quỹ, quản lý ngoại tệ,
đầu tư và mua cổ phần, hoạt động quản trị rủi ro, hoạt động giám sát và điều hành ...
1.1.3. Hoạt động quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại
Từ những năm trước đây, vấn đề quản trị rủi ro đã được các chuyên gia trong
nước và quốc tế nhắc đến. Thậm chí, đã có nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật để cải thiện hệ
thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng nhưng kết quả chưa cao. Một trong những
nguyên nhân là hầu hết các ngân hàng chỉ chủ yếu chú trọng rủi ro tín dụng mà xem
nhẹ công tác quản trị các loại rủi ro khác. Mà trên thực tế, rủi ro ngân hàng khá đa
dạng: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro
chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tập trung...
Do vậy, các ngân hàng thương mại cần phải chú trọng hơn trong việc quản trị
các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải. Mỗi ngân hàng đều phải tuân thủ quy
định, quy trình và ý thức được trách nhiệm đánh giá, phát hiện sớm rủi ro và tìm cách
ngăn ngừa các rủi ro phát sinh. Hoạt động quản trị rủi ro nên thức hiện một cách chặt
chẽ, chính xác, liên tục và trải dài trên toàn bộ hệ thống trong ngân hàng. Quản trị rủi
ro cần được thực hiện bởi cả hệ thống, chứ không phải là trách nhiệm riêng của khối
quản trị rủi ro trong ngân hàng.
1.2. Tổng quan về rủi ro và rủi ro lãi suất của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Tổng quan về rủi ro của Ngân hàng thương mại
a) Khái niệm rủi ro của Ngân hàng thương mại
Rủi ro là một yếu tố khách quan, con người không thể loại trừ hay kiểm soát
được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện cũng như mức độ thiệt hại do chúng gây
ra. Nó có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực và mang đến những tổn thất vô
Rủi ro của Ngân hàng thương mại không khác quá nhiều so với rủi ro của các
loại hình tổ chức kinh doanh khác nhưng vẫn mang những đặc điểm riêng biệt xuất
phát từ tính đặc thù trong hoạt động ngân hàng. Những rủi ro trong Ngân hàng thương
mại được phân ra làm nhiều loại khác nhau.
b) Phân loại rủi ro của Ngân hàng thương mại
Những rủi ro chủ yếu mà Ngân hàng thương mại có thể gặp phải bao gồm: Rủi
ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược,
rủi ro hoạt động và rủi ro tập trung.
Rủi ro tín dụng: là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ
của mình theo cam kết với bên cấp tín dụng.
3
Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng
khoán và giá hàng hóa trên thị trường gây ra. Rủi ro thị trường bao gồm: rủi ro lãi suất,
rủi ro tỷ giá và rủi ro giá.
Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc
có sai xót; do con người; do các hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài.
Rủi ro danh tiếng: là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc
công chúng có phản ứng tiêu cực về mức độ tín nhiệm của ngân hàng.
Rủi ro chiến lược: là rủi ro do ngân hàng không ứng phó kịp thời trước các thay
đổi của môi trường kinh doanh; do các chiến lược, chính sách kinh doanh sai lầm hoặc
do thực hiện không đúng các chiến lược, chính sách kinh doanh của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản: là rủi ro do ngân hàng không có khả năng thực hiện các
nghĩa vụ tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài chính hoặc ngân hàng có khả năng thực
hiện nghĩa vụ khi đến hạn những phải chịu tổn thất lớn để thực hiện nghĩa vụ đó.
Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng tập trung tín dụng hoặc hoạt động kinh
doanh khác vào một hoặc một số đối tác, khách hàng, lĩnh vực kinh doanh, địa bàn ở
của các khoản trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các
khoản mục thuộc nợ phải trả. Chính sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và
nợ phải trả này làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro giảm lợi nhuận khi lãi suất trên thị
truờng biến động. Như vậy, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và nợ phải trả với
những kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những rủi ro lãi suất trong việc
tái tài trợ tài sản có và nợ phải trả; hoặc rủi ro lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi
khi lãi suất thị trường biến động.
Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro cơ bản, luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại nên việc xây dựng một chương trình quản lý rủi ro
lãi suất là công việc rất quan trọng trong công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng
thương mại hiện nay. Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi
suất, không dự báo được xu hướng biến động của lãi suất thì các ngân hàng thương
mại có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này.
1.2.3. Các loại rủi ro lãi suất
a) Rủi ro thu nhập
Khi lãi suất trên thị trường có sự biến động sẽ gây ra rủi ro làm giảm thu nhập
lãi ròng của ngân hàng. Đây là sự rủi ro mà sự thay đổi của lãi suất sẽ khiến các chi
phí về huy động vốn và các khoản lãi thu được từ các khoản cho vay thay đổi những
lượng khác nhau. Điều này khiến cho thu nhập của ngân hàng bị thay đổi theo.
Trong đó, thời hạn của nguồn vốn mà ngân hàng huy động được và thời hạn của
các khoản cho vay, đầu tư của ngân hàng sẽ quyết định tính chất rủi ro mà ngân hàng
phải đương đầu. Dựa vào tính chất rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, ta có thể phân
làm 2 loại rủi ro sau:
Rủi ro tái tài trợ (Refinancing risk): Khi kỳ hạn của tài sản cho vay, đầu tư của
ngân hàng dài hơn kỳ hạn của vốn huy động, nếu lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho
chi phí tái huy động vốn cao hơn khoản tiền lãi thu được. Điều này gây ra rủi ro làm
giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Rủi ro tái đầu tư (Reinvestement Risk): Khi kỳ hạn của tài sản cho vay, đầu tư
của ngân hàng ngắn hơn kỳ hạn của vốn huy động, nếu lãi suất thị trường giảm sẽ làm
cho thu nhập từ lãi của các tài sản đầu tư thấp hơn chi phí tái huy động vốn. Điều này
cận biên) giảm. Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Tuy nhiên, ngân hàng có thể tiến hành dự báo với một độ tin cậy nhất định và
đưa ra các phương pháp điều chỉnh hành động phù hợp với từng trường hợp lãi suất
trong tương lai để có thể đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất.
b) Sự không phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản
Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh cao và đầy biến động như hiện nay,
các ngân hàng không có nhiều sự lựa chọn về kỳ hạn, quy mô... của các khoản đầu tư
và huy động theo đúng như mong muốn của mình. Chính vì vậy, luôn xuất hiện sự
không phù hợp giữa về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản. Điều này làm cho khi có sự biến
động lãi suất sẽ gây ra rủi ro ảnh hưởng tới ngân hàng.
Đối với ngân hàng thương mại, các tài sản và nguồn vốn luôn luôn có những kỳ
hạn khác nhau. Ngân hàng sẽ dựa vào kỳ hạn mà đưa ra lãi suất phù hợp. Để có thể
giảm thiểu được rủi ro lãi suất thay đổi quá lớn mà vẫn đưa ra được nhiều dạng kỳ hạn,
ngân hàng đã đưa ra kỳ hạn đặt lại lãi suất. Đây là kỳ hạn mà khi kết thúc, lãi suất sẽ
6
Thang Long University Library
thay đổi theo lãi suất thị trường. Từ đó, ngân hàng có thể chia tài sản và nguồn vốn
làm hai dạng: nhạy cảm với lãi suất và kém nhạy cảm với lãi suất:
Tài sản và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất là loại mà số dư sẽ nhanh chóng
chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi. Ví dụ: tài sản, nguồn ngắn
hạn, các khoản có kỳ hạn đặt lại lãi ≤ 12 tháng, tài sản và nguồn trung, dài hạn có thời
gian đáo hạn ≤ 12 tháng...
Tài sản và nguồn vốn kém nhạy cảm với lãi suất là loại mà lãi suất của số dư sẽ
ít có sự biến động khi lãi suất thị trường thay đổi, thường có thời gian dài, trung hoặc
dài hạn với lãi suất cố định.
Sự không phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi
suất:
Có rất nhiều các nguyên nhân khác nhau có thể mang lại rủi ro lãi suất cho ngân
hàng. Cho nên ngân hàng cần tăng cường quản lý, điều chỉnh hoạt động kinh doanh
sao cho có thể hạn chế tối đa các nguyên nhân này. Tuy nhiên có rất nhiều những
nguyên nhân mà ngân hàng không thể kiểm soát được, cho nên ngân hàng có thể dựa
trên mức độ rủi ro lãi suất đo lường được theo từng trường hợp mà phân loại để quản
lý và có biện pháp phù hợp nhằm ngăn hừa rủi ro xảy ra.
1.2.5. Đo lường rủi ro lãi suất
Để phòng tránh rủi ro lãi suất, đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường công tác quản
lý, trong đó quan trọng nhất là cần áp dụng đúng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi
suất. Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất đang được các ngân
hàng hiện đại áp dụng là: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình định giá lại và mô hình
thời lượng.
a) Mô hình kỳ hạn đến hạn
Mô hình kỳ hạn là một phương pháp trực quan để lượng hóa rủi ro lãi suất qua
đánh giá sự cân xứng về kỳ hạn giữa Nợ phải trả và Tài sản có trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng.
Quy tắc chung của mô hình này khi đo lường rủi ro lãi suất là:
Một sự tăng (giảm) của lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự tăng (giảm) của
giá trị tài sản (danh mục tài sản).
Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì tài sản (danh mục tài sản) có kỳ hạn càng
dài sẽ giảm (tăng) giá càng lớn nhưng tốc độ thiệt hại sẽ giảm dần khi kỳ hạn tăng lên.
Như vậy, nếu kỳ hạn bình quân của Tài sản có dài hơn kỳ hạn bình quân của
Nợ phải trả, khi lãi suất tăng lên thì giá trị Tài sản có sẽ giảm nhiều hơn so với Nợ
phải trả. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro gây ra nguy cơ mất khả
năng thanh toán hoặc là mất chi phí bù đắp để giải quyết nguồn vốn.
Có 2 phương pháp để lượng hóa mô hình này là: phương pháp lượng hóa rủi ro
lãi suất đối với một tài sản và phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với danh mục
tài sản:
Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản:
Công thức tính:
là kỳ hạn đến hạn của Nợ phải trả thứ j
Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là không đề cập đến yếu tố thời lượng
của các luồng Tài sản có và Nợ phải trả. Do tính đơn giản và trực quan nên nó được
sử dụng khá phổ biến, điều này cũng phù hợp với Việt Nam hiện đang trong quá trình
hiện đại hóa ngân hàng.
b) Mô hình định giá lại
Nội dung cơ bản của mô hình này là việc phân tích các luồng tiền dựa trên
nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ Tài sản có
và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định.
Theo phương pháp này, các ngân hàng tính số chênh lệch giữa tài sản có và nợ
phải trả đối với từng kỳ hạn và đặt chúng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm với lãi
suất của thị trường. Độ nhạy cảm với lãi suất trong trường hợp này được xác định dựa
trên khoảng thời gian mà tài sản có và nợ phải trả được định giá lại theo mức lãi suất
mới của thị trường.
Công thức để tính mức độ thay đổi thu nhập ròng khi lãi suất thay đổi như sau:
(
Trong đó:
)
là sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm i
là chênh lệch giá trị ghi sổ giữa tài sản có và nợ phải trả
của nhóm i
9
là mức thay đổi lãi suất của nhóm i
là giá trị ghi sổ tài sản có thuộc nhóm i
sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó.
Công thức tính trong mô hình thời lượng :
∑
(
)
;
∑
10
Thang Long University Library
Trong đó:
là giá trị hiện tại của luồng tiền xảy ra tại thời điểm t
là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t
R
n
t
D
N
là mức lãi suất thị trường hiện hành (%/ năm)
là số lần luồng tiền xảy ra trong một năm
là sự thay đổi của thị giá trái phiếu
là sự thay đổi của lãi suất thị trường
là giá trị hiện tại của trái phiếu (thị giá)
là lãi suất hiện hành của thị trường (%/năm)
là thời lượng của trái phiếu
Như vậy, nếu thời lượng D càng lớn thì chỉ cần lãi suất thay đổi một lượng nhỏ
cũng sẽ làm cho thị giá có sự biến động lớn. Ngoài ra, khi lãi suất thay đổi thì thị giá
trái phiếu biến động ngược chiều theo tỷ lệ thuận với độ lớn của thời lượng D. Tức là
nếu lãi suất tăng thì thị giá của trái phiếu sẽ giảm một lượng bằng D lần lượng tăng của
lãi suất.
11
Đối với kinh doanh ngân hàng, việc sử dụng mô hình thời lượng để quản trị rủi
ro lãi suất là một giải pháp thích hợp. Một chức năng quan trọng của mô hình thời
lượng là cho phép ngân hàng thương mại phòng ngừa được rủi ro đối với toàn bộ hay
một bộ phận riêng lẻ của bảng cân đối tài sản. Tuy nhiên mô hình thời lượng là một
mô hình phức tạp, đòi hỏi nhà quản trị phải thường xuyên cơ cấu lại bảng cân đối tài
sản để thời lượng của tài sản có và nợ phải trả cân xứng nhau, nhưng việc này không
phải lúc nào cũng làm được. Mặc dù vậy, ngày nay với việc mở rộng các nghiệp vụ
trên thị trường: buôn bán vốn, chứng khoán hóa tài sản, thị trường buôn bán lại nợ ...
đã làm đơn giản, tăng tốc độ và giảm được chi phí giao dịch rất nhiều trong việc cơ
cấu lại bảng cân đối tài sản. Hơn nữa các ngân hàng cũng có thể sử dụng mô hình này
thông qua các giao dịch nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, tương lai, giao dịch quyền
chọn, hoán đổi... mà không nhất thiết phải cơ cấu lại bảng cân đối tài sản.
Cuối cùng, các ngân hàng thương mại nên lựa chọn một biện pháp đo lường rủi
ro lãi suất phù hợp với điều kiện công nghệ và thực trạng rủi ro của mình.
1.3. Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại
≤ 1 tháng
≤ 6 tháng
≤ 1 năm
≤ 4 năm
≤ 8 năm
≤ 16 năm
≤ 20 năm
>20 năm
Hệ số lãi suất
0,00
0,70
1,25
2,25
3,75
5,25
7,50
12,50
(Nguồn: BIS 2006)
Ủy ban cũng yêu cầu phải giám sát hoạt động quản trị rủi ro lãi suất đối với các
sổ ngân hàng và vấn đề này được nêu rõ trong trụ cột thứ 2 của Basel II. Trụ cột thứ 2
như là một cảnh báo sớm đối với các nhà giám sát, trong đó các ngân hàng sẽ báo cáo
và giải thích cách tính những mô hình mà mình đã áp dụng trong tính toán các chỉ tiêu
do Ủy ban Basel yêu cầu. Trong trường hợp rủi ro lãi suất mà ngân hàng gặp phải vượt
quá mức trong tương quan với số vốn đủ tiêu chuẩn của ngân hàng thì các giám sát sẽ
có yêu cầu tăng mức vốn cần thiết hoặc yêu cầu giảm rủi ro mà ngân hàng đang gặp
phải hoặc có thể kết hợp cả hai biện pháp. Cụ thể, các giám sát đặc biệt chú ý đến các
ngân hàng có rủi ro lãi suất vượt quá 20% số vốn cấp 1 và 2. Khi đó, họ phải thực hiện
việc thử nghiệm về tình huống khi mà lãi suất tăng giảm 2% để xem xét tác động của
quả, tuân thủ các chuẩn mực phân tách trách nhiệm trong điều hành. Các nhân tố chính
của quá trình giám sát bao gồm kiểm tra quá trình quản trị rủi ro lãi suất và những hạn
mức rủi ro hiệu quả do ban điều hành của ngân hàng đề ra thông qua một số phương
pháp quản trị rủi ro lãi suất hiện hành.
Tài trợ rủi ro: ngân hàng cần đánh giá lại các hoạt động quản trị rủi ro lãi suất
định kỳ; giám sát tình hình rủi ro hiện tại và tiềm năng thường xuyên để đảm bảo rằng
các hoạt động đều nhất quán với các mục tiêu đã đề ra và xử lý kịp thời những tổn thất
xảy ra.
Trên đây chỉ là các bước cơ bản nhất trong quá trình quản trị rủi ro lãi suất của
ngân hàng thương mại. Các ngân hàng cần dựa vào đó và thay đổi quy trình tùy thuộc
theo đặc điểm, khả năng và tình trạng riêng của mỗi ngân hàng để hoạt động quản trị
rủi ro lãi suất có thể đạt hiệu quả cao nhất. Tất cả các bước trong quy trình này đều
quan trọng và có liên quan mật thiết tới nhau. Thực hiện đầy đủ và chính xác những
bước trên, ngân hàng đã thành công một phần trong việc ngăn ngừa rủi ro trong tương
lai.
1.3.3. Các phương pháp quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại
a) Sử dụng các hợp đồng phái sinh
Hợp đồng kỳ hạn:
Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) là một thỏa thuận giữa người mua và
người bán tại thời điểm hiện tại (t = 0) rằng người mua sẽ thanh toán cho người bán
theo giá kỳ hạn đã được thỏa thuận tại thời điểm t = 0 và người bán sẽ trao hàng cho
người mua khi hợp đồng đáo hạn.
+ Hợp đồng kỳ hạn trái phiếu:
Khi sử dụng hợp đồng kỳ hạn trái phiếu, ta có thể xác định sự thay đổi thị
giá của trái phiếu khi lãi suất thay đổi theo công thức đã nêu ở mô hình thời lượng:
= -D
Như vậy, thị giá trái phiếu biến động ngược chiều với lãi suất thị trường.
Các nhà quản trị ngân hàng có thể sử dụng quy tắc này để phòng ngừa rủi ro lãi suất
đối với những loại trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Nếu dự báo lãi suất thị trường sẽ