BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VNVIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN
---------------***-----------------
NGUYỄN QUỐC HẢI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP CANH TÁCNHẰM
NÂNG CAO NĂNG SUẤT SẦU RIÊNG MONTHONG Ở
HUYỆN KHÁNH SƠN, TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Hồ Huy Cường
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự hợp tác giúp đỡ quí báu của giáo viên hướng dẫn, cơ sở đào
tạo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy
hướng dẫn TS. Hồ Huy Cường, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tận
tình về nội dung, phương pháp nghiên cứu, phân tích kết quả và luôn luôn
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và tập thể cán bộ Ban Đào tạo
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA .......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ ii
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................... iii
MỤC LỤC .................................................................................................... iv
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ................................................. viii
DANH MỤC BẢNG ..................................................................................... ix
DANH MỤC HÌNH ...................................................................................... xi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 1
2. Mục tiêu đề tài............................................................................................ 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học..................................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................... 2
4.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 2
4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 3
1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây sầu riêng ............................................ 3
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây sầu riêng ......................................................... 5
1.2.1. Điều kiện khí hậu ................................................................................. 5
1.2.2. Điều kiện đất đai................................................................................... 5
1.3. Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây sầu riêng .................................. 6
1.3.1. Giá trị kinh tế........................................................................................ 6
1.3.2 Giá trị sử dụng ....................................................................................... 7
1.4. Tình hình sản xuất cây sầu riêng trên thế giới và Việt Nam ..................... 7
2.3.1. Điều tra hiện trạng sản xuất sầu riêng ở huyện Khánh Sơn. ................ 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
2.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón đạm và kali đến năng
suất sầu riêng Monthong ở huyện Khánh Sơn. ............................................. 31
2.3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá khắc phục sượng cơm quả
sầu riêng Monthong ở huyện Khánh Sơn. ..................................................... 32
2.3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá ................................... 33
2.3.5. Phương pháp tính hiệu quả kinh tế...................................................... 33
2.3.6. Phương pháp phân tích số liệu ............................................................ 34
2.3.7. Kỹ thuật canh tác sử dụng trong thực nghiệm ..................................... 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 35
3.1. Hiện trạng sản xuất sầu riêng tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa .... 35
3.1.1. Diễn biến diện tích, sản lượng sầu riêng ở Khánh Sơn........................ 35
3.1.2. Hiện trạng canh tác sầu riêng của nông hộ ở huyện Khánh Sơn .......... 36
3.1.2.1. Hiện trạng về các yếu tố xã hội liên quan đến canh tác sầu riêng ..... 36
3.1.2.2. Hiện trạng về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật và chất
lượng sầu riêng ............................................................................................. 39
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến năng suất
sầu riêng Monthong tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa ......................... 48
3.2.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến khả năng sinh trưởng
sầu riêng Monthong tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa ......................... 48
3.2.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất sầu riêng Monthong tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh
Hòa .............................................................................................................. 50
3.2.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến mức độ nhiễm sâu,
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤCKÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Cụm từ
CS
Cộng sự
CT
Công thức
CV%
Độ biến động của thí nghiệm
Đ/c
Đối chứng
LSD
S
Lưu huỳnh nguyên chất
Mn
Magan nguyên chất
Fe
Sắt nguyên chất
Zn
Kẽm nguyên chất
Cu
Đồng nguyên chất
B
Bo nguyên chất
TCN
Tiêu chuẩn ngành
BNN & PTNT
3.3
Lượng đầu tư phân bón của nông hộ trong canh tác sầu
riêng
3.4
Trang
37
41
45
Ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến khả năng
sinh trưởng sầu riêng Monthong tại huyện Khánh Sơn, tỉnh
48
Khánh Hòa
3.5
Ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến yếu tố cấu
thành năng suất và năng suấtsầu riêng Monthong tại huyện
50
Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
3.6
Ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, K đến mức độ
nhiễm sâu, bệnh hại sầu riêng Monthong tại huyện Khánh
Page ix
Hòa
3.11 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng quả sầu riêng
Monthong tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
65
3.12 Hiệu quả kinh tế của phân bón lá khắc phục sượng cơm
quả sầu riêng Montong tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh
Hòa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
67
Page x
DANH MỤC HÌNH
TT
Tên hình
Hình
3.1
Diễn biến diện tích, sản lượng sầu riêng từ năm 20072013 ở Khánh Sơn.
protein, chloric, carbohydrate và các chất khác rất bổ ích (Watson et al.,
1983).
Huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa có điều kiện tự nhiên tương đối
thuận lợi, quỹ đất lớn, khí hậu ôn hòa để phát triển cây sầu riêng. Hiện nay
diện tích trồng sầu riêng ở huyện Khánh Sơn là 500 ha. Diện tích có thể trồng
cây sầu riêng của huyện Khánh Sơn chưa được khai thác là khoảng 437 ha.
Mặc dù, sầu riêng là cây trồng chủ lực của huyện Khánh Sơn tuy nhiên
trong thực tế sản xuất do chế độ chăm sóc chưa hợp lý như sử dụng phân vô
cơ chưa đúng liều lượng, bón chưa cân đối; chưa sử dụng các phân bón lá
chứa các nguyên tố vi lượng nên năng suất sầu riêng ở huyện Khánh Sơn chỉ
mới đạt từ 4 - 6 tấn/ha.
Một nguyên nhân nữa làm cho thu nhập của người trồng sầu riêng của
huyện Khánh Sơn hiện nay không cao như trước đây do chất lượng sầu riêng
Monthong giảm đó là hiện tượng sượng cơm quả sầu riêng. Giống sầu riêng
Monthong thường gặp hiện tượng sương cơm, cơm cứng và mất màu hay cơm
bị nhão. Ở Thái Lan, mặc dù sầu riêng Monthong thường được trồng với diện
tích lớn, nhưng chất lượng quả sầu riêng này rất đồng đều, ít quả bị sượng,
điều này khẳng định rằng hiện tượng cơm quả bị sượng không phải do đặc
tính của giống.
Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất sầu riêng ở huyện
Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, việc:“Nghiên cứu một số biện pháp canh tác
nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sầu riêng Monthong ở huyện
Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa” là cần thiết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
2. Mục tiêu đề tài
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây sầu riêng
Sầu riêng có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á và mọc dại trong rừng
Malaysia (Sumatra và Kalimantan). Tên khoa học Durio zibethinus. Chi
Durio có nhiều loài, nhưng chỉ có 1 loài quan trọng nhất, kinh tế nhất được
trồng rộng rãi ở các nước Đông Nam Á và các nước khác là Durio zibethinus.
Một số loài khác cũng cho quả ăn được nhưng cùi mỏng, phẩm chất kém
được trồng ít hơn như Durio oxleyanus, D.lowianus, D.graveonus (Trần Thế
Tục, 2004).
Quỹ gen lưu giữ trong tập đoàn sầu riêng ở các nước Đông Nam Á
cũng rất lớn: Indonesia 5.270 loài; Malaysia 586 loài; Thái Lan 169 loài;
Philippin 97 loài có thể nói quỹ gen sầu riêng ở các nước trong vùng được
xếp hàng đầu so với quỹ gen các loại cây ăn quả khác như xoài, chôm chôm,
dứa, măng cụt, mít, lòn bon (Trần Thế Tục và cộng sự, 2004).
Ở Thái Lan: thời vua Narai năm 1962, một tác giả người Pháp là người
đầu tiên ghi chép về cây sầu riêng ở Thái Lan. Tác giả thấy người Thái Lan
rất thích ăn sầu riêng và cho rằng sầu riêng đưa vào Thái Lan từ Malaysia.
Các dòng sầu riêng ngon của loài Durio zibethinuscó nguồn gốc từ tỉnh
Thonburi nay là ngoại ô của thủ đô Băng Cốc (Trần Thế Tục và cộng sự,
2004).
Tại Indonesia là nước trồng nhiều sầu riêng xếp thứ 2 ở Đông Nam Á.
Vùng trồng tập trung nằm ở phía tây, chủ yếu ở Sumatra và Java, chiếm 75%
diện tích sầu riêng của cả nước. Nguồn tài nguyên về quỹ gen sầu riêng ở đây
rất phong phú. Có 527 mẫu giống được bảo quản trong đó có nhiều giống
hoang dại, có hàng trăm giống trồng trong sản xuất, trong đó có 17 giống tốt
nhất có ý nghĩa kinh tế như giống Sunam, Sitokong, Sucun, Petruk, Amas, Sa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây sầu riêng
1.2.1. Điều kiện khí hậu
Sầu riêng là cây ăn quả nhiệt đới điển hình, yêu cầu nhiệt độ và ẩm độ
cao. Để sinh trưởng và phát triển cần có nhiệt độ từ 24-300C, ẩm độ không khí
khoảng 75-80%, lượng mưa từ 1.500-2.000 mm/năm, lượng mưa phân bố
đều, không mưa khi quả già, sắp thu hoạch. Mùa khô không nên kéo dài quá 5
tháng theo (Nguyễn Minh Châu và cs, 1999). Sầu riêng tuy ưa khí hậu nóng
ẩm, song không ưa nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp (sự sinh trưởng của cây
sầu riêng bị giới hạn khi nhiệt độ thấp dưới 220C hoặc vượt quá 400C), yêu
cầu độ ẩm cao và ổn định, lượng bức xạ của vùng trồng không quá lớn, do đó
miền Bắc nước ta không trồng được sầu riêng vì có mùa đông lạnh, mùa hè
thì lại quá nóng do gió Lào, nhiệt độ không khí thường đạt tới 39-490C. Trong
những vùng thuộc xích đạo, sầu riêng không bị ảnh hưởng bởi quang chu kỳ
hay cảm ứng nhiệt để phân hoá mầm hoa. Ở những vùng thuộc vĩ độ 10-180
Bắc hay Nam xích đạo thường thấy hoa xuất hiện vào mùa xuân và thu hoạch
quả giữa mùa hè đến mùa thu(Trần Thế Tục và cộng sự, 2004). Gió mạnh làm
gãy cành và rụng quả nhiều ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. Ngoài ra,
gió mạnh cũng làm cây bị long gốc, dập rễ đó là điều kiện tối ưu để nấm
Phytophthora palmivora tấn công gây thối rễ và có thể dẫn đến làm chết cây.
Vì vậy, những vùng hàng năm có gió mạnh cần có đai rừng chắn gió để giảm
bớt thiệt hại do gió gây ra (Huỳnh Văn Tấn, 2001).
1.2.2. Điều kiện đất đai
Sầu riêng có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất. Đất
thịt pha cát hay thịt pha sét, đất phù sa, đất đỏ bazan, đất xám thuộc các tỉnh
miền Đông Nam bộ là loại đất phù hợp với sầu riêng (Vũ Công Hậu, 1987).
Đất cát không thích hợp với sầu riêng vì thoát nước nhanh và nghèo
với 23 tấn trong năm 2011. Năm 2014 con số này dự kiến sẽ tăng lên 300 tấn.
Tại Indonesia, sầu riêng là một trong những loại trái cây được tiêu thụ nội địa
nhiều nhất. Khối lượng trung bình của sản xuất là 549.736 tấn năm 2012.
Philippines có trung bình sản xuất 45.255 tấn. Sầu riêng ở Philippines chủ yếu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
dành cho thị trường nội địa, tuy nhiên địa phương và các nhóm liên kết sầu
riêng đang nỗ lực để thâm nhập thị trường toàn cầu.
1.3.2 Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của sầu riêng chủ yếu là phần cơm quả: Ngoài ăn tươi,
người ta còn sấy khô, làm mứt sầu riêng, và sử dụng một lượng nhỏ để pha
trộn làm bánh kẹo, kem, nước giải khát nhằm làm tăng hương vị của các sản
phẩm. Cơm sầu riêng xử lý đông lạnh -240C có thể giữ được 3 tháng không
mất mùi. Kết quả phân tích cho thấy, trong thịt quả có 30-36,1%
carbohydrate, 1,2-4,3% chất béo, 2,0-3,3% protein và các dinh dưỡng khoáng
đa, vi lượng (calcium, phosphorous, potassium, iron) cũng như các axít amin
và vitamin (Thiamine, Riboflavin, Niacin, vitamin C), (Trần Thế Tục, 1998).
1.4. Tình hình sản xuất cây sầu riêng trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình sản xuất cây sầu riêng trên thế giới
Tổng diện tích sầu riêng trên toàn thế giới khoảng trên dưới 210.000ha,
trong đó, các nước có diện tích gây trồng nhiều nhất là Thái Lan (khoảng
125.000ha), Indonesia (khoảng 44.000ha), Malaysia, Việt Nam và Philipin.
Về sản lượng sầu riêng bình quân trên toàn thế giới trong các năm qua khoảng
1.400.000 tấn/năm. Trong đó, Thái Lan đạt sản lượng cao nhất (trên 810.000
tấn/năm) và chiếm khoảng 58%, kế đến là Indonesia trên dưới 230.000
tấn/năm và phần còn lại chủ yếu tập trung tại các nước Malaysia, Việt Nam
Xuất phát từ giá trị kinh tế, yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh và đất đai,
hiện nay, cây sầu riêng ở nước ta đã và đang phát triển ở các tỉnh vùng Đông
Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Khánh Hòa, Quảng Nam
thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ.
Đến nay, tổng diện tích sầu riêng trong cả nước khoảng 13.000ha, trong
đó, phân bố ở khu vực Đông Nam bộ khoảng 55% (nhiều nhất là tỉnh Đồng
Nai tập trung ở các huyện Long Khánh, Cẩm Mỹ và Tân Phú với diện tích
4800ha. Những năm sau này diện tích sầu riêng được trồng nhiều ở các tỉnh
Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa –Vũng Tàu), đồng bằng sông Cửu Long
khoảng 40%; phần còn lại tập trung ở các tỉnh ở Tây Nguyên (nhiều nhất là ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Đắc Lắk, Đắc Nông và Lâm Đồng) và Duyên hải Nam Trung bộ (Khánh
Hòa). Ngược lại, trong tổng sản lượng sầu riêng hàng năm khoảng trên dưới
150.000 tấn (nguồn Viện Cây ăn quả miền Nam) thì ở khu vực đồng bằng
sông Cửu Long chiếm khoảng 52% so với tổng sản lượng. Sầu riêng ở đây
được trồng rải rác ở nhiều tỉnh, tập trung nhất ở Tiền Giang, Bến Tre, Cần
Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, nổi tiếng nhất là ở cù lao Ngũ Hiệp, huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Mặc dù diện tích và sản lượng sầu riêng trong cả nước ngày càng phát
triển, tuy nhiên, do nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như chất lượng sầu
riêng khi thu hoạch chưa được tốt nên phần lớn sản lượng sầu riêng của nước
ta chủ yếu tiêu thụ nội địa, trong đó, thị trường Nam bộ chiếm trên 85% và
thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiêu thụ lớn nhất. Về thị hiếu của người tiêu
dùng đối với sầu riêng, kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền
Nam cho thấy, 59% quan tâm nhiều đến kích cỡ hạt và 74% quan tâm đến
phải cạnh tranh với sầu riêng ở khu vực khác.
Chính vì vậy, sầu riêng Khánh Sơn đã được khẳng định đối với người
tiêu dùng trên thị trường trong và ngoài tỉnh Khánh Hòa. Trên cơ sở đó, lãnh
đạo huyện cùng các sở, ban ngành chức năng đã có định hướng xây dựng
thương hiệu “Sầu riêng Khánh Sơn” nhằm mục tiêu nâng cao giá trị sản phẩm
và hiệu quả trên đất canh tác sầu riêng tại đất Khánh Sơn.
1.5.Tình hình nghiên cứu sầu riêng trên thế giới và Việt Nam
1.5.1. Tình hình nghiên cứu sầu riêng trên thế giới
1.5.1.1. Nghiên cứu chọn tạo giống
Tại Thái Lan: dựa vào thời gian từ trồng đến bắt đầu cho thu hoạch và
từ lúc cây nở hoa đến lúc quả chín để chia các giống thành ba nhóm: sớm,
trung bình, muộn như: Giống chín sớm: trồng bằng cây ghép sau 4-5 năm
trồng cho quả và quả chín sau khi hoa nở 95-105 ngày bao gồm các giống:
Luang, Chanee, Kradoom, Chomposee. Giống chín trung bình: trồng bằng cây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
ghép sau 5-6 năm trồng cho quả và quả chín sau khi hoa nở 105-120 ngày bao
gồm các giống: Garnyao, Mothong, Chut Seenat, Chai Mafai, Kobs. Giống
chín muộn: trồng bằng cây ghép sau hơn 6 năm trồng cho quả và quả chín
trên 4 tháng bao gồm các giống: Enat, Gumpun, Kob Lebyiew, Kob Takum
(Trần Thế Tục và cộng sự, 2004).
Còn tại Indonesia đã chọn tạo được các giống sầu riêng: Sunam: quả
hình trứng, vỏ màu xanh nâu nhạt, có nhiều gai nhỏ cách xa nhau, trọng lượng
quả 1,5-2,5 kg. Vỏ mỏng dễbổ. Mỗi quả có 5 ô, có 20-35 múi, múi ngọt, màu
kem, hạt mỏng. Một cây cho 200-800 quả/năm. Cây tổ sống 200 năm. Chống
sâu Borevà nấm Fusadium. Giống được ưa chuộng ở Indonesia. Giống
riêng đã được báo cáo bởi Punnachit và các cộng sự (1992) chứng minh phun
Nitrat kali và các chất khác lên lá trong quá trình phát triển cây ăn quả làm
tăng kích thước tổng thể của quả, các phần ăn được của quả cây và hạt phôi
của quả(Punnachitet al., 1992).
Nhưng tại Đông và Nam Thái Lan theo Subhadrabandhu and Kesta
(2001), khuyến cáo: Sau khi thu hoạch bón phân theo tỉ lệ N: P2O5: K2O
(15:15:15) với liều lượng là 3-6 kg cho mỗi cây bón vào tháng 3-4 hàng năm.
Trước khi có hoa bón phân theo tỉ lệ N: P2O5: K2O (09:24:24) bón với liều
lượng 3-6 kg mỗi cây trong tháng Tám và tháng Chín. Phun thêm phân bón lá
có chứa phosphate cao ví dụ như phân bón N: P2O5: K2O (10:52:17). Trong
giai đoạn quả phát triển cần bón phân chứa kali cao. Ví dụ như N: P2O5: K2O
(13:13:21) hay 14:14:21 với liều lượng 1-2 kg mỗi cây chia làm 3 lần bón khi
quả đậu được bốn tuần (Subhadrabandhu et al., 2001).
Tại Philippinnes, nghiên cứu của Loquias và cộng sự (1996) cho thấy
phân bón lá có chứa 20% N; 5% P2O5; 30% K2O kết hợp với 5 kg phân bón
dạng hạt NPK: 14-14-14 (N: P2O5: K2O) với các chất như canxi, magiê, bo,
kẽm và đồng đã cải thiện năng suất và chất lượng sầu riêng với 158 quả/cây
so với 41 quả/cây chỉ áp dụng với phân bón dạng hạt NPK: 14-14-14, trong
khi chất lượng quả cây được đo bằng tổng chất rắn hòa tanvà tỷ lệ phần ăn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
được, đã được cải thiện với việc sử dụng phân bón lá với 4% N và 48% K2O
(Loquias et al., 1996).
Tại Oxtraylia theo Mansfield (1995), bón phân cho sầu riêng thời kỳ
cho quả theo tỉ lệ 13: 2,2: 13,3: 18,7 (N: P: K: S) và 4,0 kg của Dolomite,
tương đương với 650 g Nitơ, 110 g Photpho, 665 g Kali, 935 g Sulphur, 800 g
2005).
Có thể thấy lá sầu riêng có chứa Ca, K, Mg và ở mức cao hơn so với sự
tối ưu cho nảy mầm hạt phấn, trong khi B đang ở mức thấp hơn. Điều này sẽ
dẫn đến 337:1 tỷ lệ không cân bằng giữ Ca và B, so với tỷ lệ cân bằng của
200:1 Ca: B. Vì vậy, người trồng sầu riêng phun Canxi và Bo khi hoa đã phát
triển đến tuần thứ sáu sau khi xuất hiện để thúc đẩy sự nảy mầm của hạt phấn.
Do đó, để quả lớn cần một lượng lớn chất đồng hóa. Để sản xuất sầu
riêng chất lượng tốt phục vụ cho thị trường và được sự chấp nhận của thị
trường, khái niệm nguồn tích lũy và kỹ thuật canh tác thích hợp (tưới tiêu,
bón phân, phòng trừ sâu bệnh) phải được quản lý theo cách sau đây trong quá
trình phát triển cây ăn quả.
Phân bón khuyến cáo để kích thích lớn quả có tỉ lệ là N:P:K: Mg (12 :
12 : 17 :2) hoặc N:P:K (8 : 24 : 24) hoặc N:P:K (13 : 13 : 21). Điều này sẽ
được áp dụng khi quả đang ở 5-7 tuần sau khi nở.
Một loại phân bón, 0-0-50K2O, nên được áp dụng khi quả đang ở 9-10
tuần sau khi nở để cải thiện chất lượng thịt quả [33].
Trình tựcác chất dinh dưỡng cần thiết cho cây sầu riêng là N ≥ K> Ca>
P> Mg> S> Mn> Fe> Zn> Cu> B. Vấn đề khó khăn hơn là tính toán các hình
thức khác của sự mất mát chất dinh dưỡng thông qua thấm xuống sâu, rửa trôi
và bay hơi. Do đó bất kỳ chương trình thay thế phân bón lý tưởng nào nên
dựa trên trình tự, số lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây sầu riêng.
Hơn nữa nhu cầu dinh dưỡng cần thiết do mất chất dinh dưỡng và thiếu (bay
hơi, rửa trôi, dòng chảy và cố định). Slack và cộng sự, (1996) đề nghị tăng
dần phân bón bù đắp cho những yếu tố này bằng 30-50% cho N, 20-30% cho
K, Mg và Ca để bù đắp cho lọc và mất dòng chảy. Đối với P, Slack et al. cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14