nghiên cứu quy trình nhân giống in vitro cây sâm nam núi dành - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ MINH HIỀN

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG IN VITRO
CÂY SÂM NAM NÚI DÀNH

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MÃ SỐ: 60.42.02.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. TS. ĐINH TRƯỜNG SƠN
2. PGS.TS. NGUYỄN THỊ LÝ ANH

HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan, nghiêm túc và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm.
Tác giả

Nguyễn Thị Minh Hiền



MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

vi

Danh mục hình

vii

Danh mục các cụm từ và kí hiệu viết tắt

viii

MỞ ĐẦU

1


Giới thiệu về cây Sâm nam núi Dành

3

1.1.1

Điều tra cây Sâm nam núi Dành ngoài tự nhiên

4

1.1.2

Sơ bộ phân loại thực vật cây Sâm nam núi Dành

5

1.2

Công nghệ nuôi cấy mô, tế bào thực vật

8

1.2.1

Khái niệm về nuôi cấy mô, tế bào thực vật

8

1.2.2


Ứng dụng của nhân giống in vitro trong nhân giống cây thuốc và một
số loại cây trồng khác

1.3

18

Một số kết quả nổi bật về nghiên cứu thành phần hoạt chất và nhân
giống vô tính in vitro một số loài thuộc chi Millettia

Chương 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

19
22

2.1

Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

22

2.1.1

Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

22



23

Nghiên cứu ảnh hưởng của đất núi Dành đến sự sinh trưởng và
phát triển của cây Sâm nam núi Dành

2.2.4

24

Nghiên cứu ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân nhanh chồi
Sâm nam núi Dành

2.2.5

24

Nghiên cứu sự phát sinh hình thái của lớp mỏng tế bào mô lá Sâm nam
núi Dành

25

2.2.6

Nghiên cứu sự phát sinh hình thái của callus Sâm nam núi Dành

26

2.2.7



Điều kiện nuôi cấy

30

2.3.4

Các chỉ tiêu theo dõi

30

2.3.5

Phương pháp xử lý số liệu

31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1

32

Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nền đến sự sinh trưởng và
phát triển của cây Sâm nam núi Dành

3.2

32

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ pH môi trường đến sự sinh trưởng và

3.5.1

Nghiên cứu ảnh hưởng của 2,4-D đến sự phát sinh hình thái của lớp
mỏng tế bào mô lá Sâm nam núi Dành

3.5.2

Nghiên cứu ảnh hưởng của αNAA đến sự phát sinh hình thái của lớp
mỏng tế bào mô lá Sâm nam núi Dành

3.5.3

39
40

Nghiên cứu ảnh hưởng của BA đến sự phát sinh hình thái của lớp
mỏng tế bào mô lá Sâm nam núi Dành

42

3.6

Nghiên cứu sự phát sinh hình thái của callus Sâm nam núi Dành

43

3.6.1

Nghiên cứu ảnh hưởng của picloram đến sự phát sinh hình thái của
callus Sâm nam núi Dành

3.7.1

Nghiên cứu ảnh hưởng của αNAA đến sự hình thành rễ của chồi
Sâm nam núi Dành

3.7.2

Nghiên cứu ảnh hưởng của αNAA và IBA đến sự hình thành rễ của
chồi Sâm nam núi Dành

3.7.3

51
52

Nghiên cứu ảnh hưởng của αNAA đến sự tái sinh tạo củ của lớp mỏng
tế bào mô lá Sâm nam núi Dành

54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

57

1

Kết luận

57


3.2

33

Ảnh hưởng của độ pH môi trường đến sự sinh trưởng và phát triển của
cây Sâm nam núi Dành (sau 8 tuần nuôi cấy)

3.3

35

Ảnh hưởng của đất núi Dành đến sự sinh trưởng và phát triển của
cây Sâm nam núi Dành (sau 12 tuần nuôi cấy)

3.4

36

Ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân nhanh chồi cây Sâm nam
núi Dành (sau 8 tuần nuôi cấy)

3.5

37

Ảnh hưởng của 2,4-D đến sự phát sinh hình thái của lớp mỏng tế
bào mô lá Sâm nam núi Dành (sau 8 tuần nuôi cấy)

3.6


Ảnh hưởng của nguồn mẫu nuôi cấy và nồng độ đường đến sự phát sinh
hình thái của callus Sâm nam núi Dành (sau 6 tuần nuôi cấy)

3.11

48

Ảnh hưởng của AgNO3 đến sự phát sinh hình thái callus Sâm nam
núi Dành (sau 6 tuần nuôi cấy)

3.12

50

Ảnh hưởng của αNAA đến sự hình thành rễ của chồi Sâm nam
núi Dành (sau 8 tuần nuôi cấy)

3.13

51

Ảnh hưởng của αNAA và IBA đến sự hình thành rễ của chồi Sâm nam
núi Dành (sau 6 tuần nuôi cấy)

3.14

53

Ảnh hưởng của αNAA đến sự tái sinh tạo củ của lớp mỏng tế bào
mô lá Sâm nam núi Dành (sau 12 tuần nuôi cấy)

nước Anh

6

1.4

Hình thái của một số loài thuộc chi Callerya

7

3.1

Cây Sâm nam núi Dành trong các môi trường nuôi cấy (sau 6 tuần
nuôi cấy)

3.2

33

Sự tái sinh tạo callus của lớp mỏng tế bào mô lá Sâm nam núi Dành
trên môi trường có bổ sung 2,4-D (sau 8 tuần nuôi cấy)

40

3.3

Các hình thái callus tái sinh từ lớp mỏng tế bào mô lá Sâm nam núi Dành

41


3 môi trường có bổ sung αNAA (sau 12 tuần nuôi cấy)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

55

Page vii


DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Viết tắt

Viết đầy đủ

ABA

Abscisic acid

BA (6-BA)

Benzyladenine (6-Benzyladenine)

cs

Cộng sự

CT

Công thức


Murashige và Skoog (1962)

NXB

Nhà xuất bản

αNAA

Anpha-Naphthaleneacetic acid

TB

Trung bình

TN

Thí nghiệm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong dân gian, sâm là tên gọi khái quát chỉ một số loài cây mà củ và rễ
được sử dụng làm thuốc từ rất lâu đời tại nhiều nước châu Á. Chính vì vậy, có rất
nhiều loài sâm thuộc nhiều chi, họ khác nhau nhưng chủ yếu là các loài thuộc chi
Sâm (Panax). Rất nhiều loại củ sâm có hình dáng hao hao giống hình người, đặc


2.1. Mục đích
Bước đầu xây dựng quy trình nhân nhanh cây giống Sâm nam núi Dành
bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật.

2.2. Y êu cầu
- Tạo được nguồn vật liệu ban đầu (tạo cây in vitro sạch vi sinh vật).
- Xác định được phương thức và môi trường nuôi cấy phù hợp trong giai
đoạn nhân nhanh chồi.
- Xác định môi trường phù hợp trong giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1. 1. Giới thiệu về cây Sâm nam núi Dành

Hình 1.1. Hoa và quả Sâm nam núi Dành

Hình 1.2. Củ Sâm nam núi Dành
(Hình ảnh được cung cấp bởi tác giả Trần Đình Dũng, Trung tâm Khoa học
Công nghệ và Môi trường huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang)
Thông thường, để có thể có được phương pháp nghiên cứu cũng như cách
tiếp cận hợp lý nhằm xây dựng được quy trình nhân giống in vitro thì việc tham

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Sâm nam núi Dành còn có tên gọi khác là Cát sâm hay Sâm Bảo Sơn. Trung
tâm khoa học công nghệ và môi trường huyện Tân Yên (Bắc Giang) đã thực hiện
Đề án để nhân giống loại sâm quý này từ năm 2009 tại chính các gia đình đang sống
ở núi Dành. Tuy nhiên, hệ số nhân giống rất thấp. Hiện tại (năm 2015), làng Hậu có
khoảng 100 gốc sâm 3 lá và làng Đầm Sen, xã Việt Lập có trên 600 gốc sâm 5 lá.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


Từ xa xưa người dân trong vùng đã coi Sâm nam núi Dành như một loại
thần dược dùng để chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, chưa có một nghiên
cứu khoa học cụ thể nào khẳng định điều này. Chính vì vậy, cần có những nghiên
cứu, đánh giá đồng thời tìm cách nhân giống để bảo tồn và phát triển loại thảo
dược quý này.

1.1.2. Sơ bộ phân loại thực vật cây Sâm nam núi Dành
Mô tả:
* Đặc điểm hình thái
Cây Sâm nam núi Dành là cây nhỡ leo, dài 1,5 - 5m hay hơn, cành non phủ
lông dày màu nâu nâu.
Lá kép lông chim, lá chét 3 - 7, hình bầu dục dài hay trái xoan, dài 3 - 8 cm,
rộng 1 - 3 cm, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới xanh xám nâu; gân bên 5 - 6, dính
nhau ở gần mép lá (Hình 1.1).
Hoa sâm có màu trắng ngà, mùi thơm nhẹ, mọc thành chùm kép ở đầu cành
tạo thành chùy dài 10 - 20 cm, cuống có lông. Đài 5 mảnh dính với nhau, tràng 5
cánh không đều nhau, tiền khai hoa cờ: cánh cờ (ở trên) lớn nhất, có màu sắc đẹp
hơn và ở ngoài cùng, 2 cánh bên nhỏ hơn, trong cùng là 2 cánh thìa dính lại với
nhau ở đáy tạo thành cấu trúc tương tự như cái thuyền con mang nhị và nhụy. Nhị
10, 9 chiếc dính lại với nhau ở phần chỉ nhị thành 1 bó bao quanh nhụy, 1 chiếc rời.

tôi cũng thấy có rất nhiều nét tương đồng của cây Sâm nam núi Dành với một
số loài thuộc chi này. Các chi Callerya Endl. được tách ra từ chi Millettia bởi
Geesink (1984) và Schot (1994) dựa trên hình dạng của cụm hoa. Thêm vào đó,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


có một số chi khác trong
Tông

(tribus)

Millettieae

cũng có cụm hoa có hoa
hình chùy. Chính vì vậy,
việc phân loại giữa các loài
thuộc

Tông

Millettieae

thường khó khăn.
Từ những kết quả
quan sát và so sánh trên, do
không có được tiêu bản
chuẩn của các loài nên cho


Millettia (Chi thàn mát) hoặc Callerya (Chi thàn mát lưỡng thể)
Công dụng
Theo người dân ở khu vực núi Dành thì Sâm nam núi Dành được sử dụng

chủ yếu trong y học cổ truyền làm thuốc bổ mát, chữa nhức đầu, bí đái, ho, sốt…
Củ dùng dưới dạng tươi, ngâm rượu hoặc thuốc sắc uống.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


1.2. Công nghệ nuôi cấy mô, tế bào thực vật

1.2.1. Khái niệm về nuôi cấy mô, tế bào thực vật
Nuôi cấy mô, tế bào thực vật là phạm trù khái niệm chung cho tất cả các
loại nuôi cấy nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật, trên các môi
trường dinh dưỡng nhân tạo, trong điều kiện vô trùng, bao gồm:
Nuôi cấy cây non và cây trưởng thành
Nuôi cấy cơ quan (rễ, thân, lá, hoa, quả, noãn chưa thụ tinh)
Nuôi cấy phôi (phôi non và phôi trưởng thành)
Nuôi cấy mô sẹo (callus)
Nuôi cấy tế bào trần (protoplast)
Nuôi cấy tế bào đơn (huyền phù tế bào) (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2005).

1.2.2. Cơ sở của kĩ thuật nuôi cấy mô, tế bào thực vật
Cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô, tế bào thực vật đó là tính toàn
năng của tế bào do Haberlandt nêu ra năm 1902. Theo quan niệm sinh học hiện đại
thì tính toàn năng của tế bào là mỗi tế bào riêng rẽ đã phân hóa đều mang toàn bộ

được hài hòa.
Như vậy, kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật xét cho cùng là kỹ
thuật điều khiển sự phát sinh hình thái của tế bào thực vật (khi nuôi cấy tách rời
trong điều kiện nhân tạo và vô trùng) một cách định hướng dựa vào sự phân
hóa và phản phân hóa của tế bào trên cơ sở tính toàn năng của tế bào thực vật
(Nguyễn Quang Thạch và cs., 2005; Nguyễn Như Khanh, 2006).

1.2.3. Các bước chính trong nhân giống vô tính in vitro
Theo George (1993) quá trình nhân giống vô tính in vitro bao gồm các
bước sau:
Bước 1: Chọn lọc và chuẩn bị cây mẹ
Trước khi tiến hành nhân giống in vitro cần chọn lọc cẩn thận cây mẹ (nguồn
mẫu nuôi cấy). Các cây này cần phải sạch bệnh, đặc biệt là sạch vi rút và ở giai đoạn
sinh trưởng mạnh. Việc trồng các cây mẹ trong điều kiện môi trường thích hợp với
chế độ chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hiệu quả trước khi lấy mẫu nuôi cấy sẽ làm
giảm tỷ lệ mẫu nhiễm, tăng khả năng sống và sinh trưởng của mẫu cấy.
Bước 2: Nuôi cấy khởi động
Là giai đoạn khử trùng và đưa mẫu vào nuôi cấy in vitro. Các giai đoạn này
cần đảm bảo các yêu cầu sau: tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ sống cao, mô tồn tại và sinh
trưởng tốt. Khi lấy mẫu cần chọn đúng loại mô, đúng giai đoạn phát triển của cây.
Mẫu cấy phù hợp nhất là đỉnh chồi ngọn, đỉnh chồi nách sau đó là đỉnh chồi hoa,
cuối cùng là đoạn thân, mảnh lá. Ngoài ra, người ta cũng có thể sử dụng hạt làm
nguồn mẫu để nuôi cấy khởi động tạo cây in vitro.
Bước 3: Nhân nhanh
Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng nhanh số
lượng thông qua các con đường: hoạt hóa chồi nách, tạo chồi bất định hay tạo phôi
vô tính. Chúng ta cần phải xác định được môi trường và điều kiện ngoại cảnh thích

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


nhất về mặt di truyền và duy trì được các tính trạng của cây mẹ. Tái sinh trực tiếp
cũng có thể xuất phát từ những tế bào không nằm trên đỉnh sinh trưởng đó là các
đoạn thân, mảnh lá, cuống lá, mảnh hoa… Trong trường hợp này, các tế bào
thường phân chia nhưng không hình thành các tế bào mô sẹo mà tạo thành các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


điểm sinh trưởng phụ sau đó tái sinh thành cây con. Xác suất biến dị và đột biến
thường cao hơn so với tái sinh từ đỉnh sinh trưởng (Đỗ Năng Vịnh, 2002).
* Tái sinh gián tiếp
Mẫu cấy khi nuôi cấy trong môi trường thích hợp có chứa auxin và cytokinin
có thể đem lại sự gia tăng thành khối tế bào không tổ chức. Đó chính là các tế bào mô
sẹo. Sự tăng sinh của các tế bào callus có thể được duy trì nhiều hay ít là không hạn
định, chỉ cần mô sẹo được cấy chuyển sang môi trường mới theo chu kỳ. Tuy nhiên,
tế bào mô sẹo khi cấy chuyển nhiều lần sẽ không ổn định về mặt di truyền. Để tránh
tình trạng này nên sử dụng các loại mô sẹo vừa mới phát sinh. Nuôi cấy mô sẹo có vai
trò vô cùng quan trọng trong công nghệ sinh học thực vật. Tỷ lệ auxin và cytokinin
trong môi trường có thể dẫn tới sự phát triển của ngọn, rễ hay phôi soma. Từ đó có
thể tạo thành cây hoàn chỉnh. Nuôi cấy mô sẹo cũng có thể được sử dụng để mở đầu
nuôi cấy tế bào dịch huyền phù hay tạo ra hạt nhân tạo.
Để có thể thực hiện nuôi cấy có kết quả tốt, dù bằng con đường nào đi chăng
nữa cũng cần chú ý tới các yếu tố ảnh hưởng tới nuôi cấy; vì chính các yếu tố này
quyết định đường hướng vô tính cũng như chất lượng của cây giống thu được.

1.2.5. Ý nghĩa nhân giống cây trồng bằng phương pháp nuôi cấy mô, tế bào
Nuôi cấy mô, tế bào thực vật là phương pháp nhân giống vô tính. Đối với
nhiều loài thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế và ý nghĩa sinh học cao mà gặp
khó khăn trong vấn đề nhân giống hữu tính thì nhân giống vô tính in vitro là

nhân giống rất lãng phí, tốn kém.
Để khắc phục những nhược điểm trên, nhân giống cây trồng bằng phương
pháp nuôi cấy mô, tế bào đã mang lại nhiều hiệu quả kinh tế và ý nghĩa sinh học to
lớn thực sự. Việc sử dụng các mô nuôi cấy có kích thước nhỏ làm cho mô nuôi cấy
dễ phân hóa và dễ tái sinh hơn. Kỹ thuật nhân nhanh in vitro có những ưu việt mà
các phương pháp khác không có được: Có thể nhân giống cây trồng ở quy mô
công nghiệp (kể cả trên các đối tượng khó nhân bằng phương pháp thông thường),
hệ số nhân rất cao và cho các cá thể hoàn toàn đồng nhất về mặt di truyền. Kỹ
thuật nhân nhanh in vitro có thể được ứng dụng vào các mục đích như duy trì và
nhân nhanh các kiểu gen quí làm vật liệu cho công tác giống; nhân nhanh các loài
hoa, cây cảnh khó trồng bằng hạt; duy trì và nhân nhanh các dòng bố mẹ và các
dòng lai để tạo hạt giống cây rau, cây hoa và cây trồng khác; nhân nhanh kết hợp
làm sạch virut; bảo quản tập đoàn gen (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2005).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


1.2.6. Một số nhân tố ảnh hưởng tới quá trình nuôi cấy mô, tế bào thực vật
1.2.6.1. Ảnh hưởng của điều kiện khử trùng mẫu cấy
Việc khử trùng mẫu trước khi đưa vào nuôi cấy là một vấn đề cần thiết vì mẫu
cấy ở trong tự nhiên tiếp xúc với môi trường xung quanh mang rất nhiều vi sinh vật.
Tuy nhiên, mức độ nhiễm và đặc điểm của từng loại mẫu là khác nhau. Do đó, ta cần
có sự thử nghiệm về khử trùng mẫu cấy nhằm thu được lượng mẫu vô trùng nhiều nhất
mà tốn ít nguyên liệu ban đầu.
Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào loại chất khử trùng, nồng độ, thời gian
xử lý và mức độ xâm nhập của chất khử trùng vào các kẽ và những phần gồ gề
trên bề mặt của mô cấy. Để làm tăng hiệu quả, người ta thường nhúng mẫu vào
ethanol 70% trong 30 giây hoặc sử dụng tween nhằm làm giảm sức căng bề mặt

Nitơ, phốt pho, kali, magie, canxi và lưu huỳnh là cần thiết và thay đổi
theo đối tượng nuôi cấy. Trong môi trường nuôi cấy, nồng độ các nguyên tố này
khoảng trên 30 mg/l và được cung cấp dưới dạng muối vô cơ. Nó có mặt trong các
hợp chất quan trọng (protein, diệp lục, axit nucleic…), tham gia vào các quá trình:
điều chỉnh áp suất thẩm thấu của tế bào, vận chuyển năng lượng trong hô hấp và
quang hợp, thực hiện vai trò tín hiệu tế bào…
Môi trường giàu nitơ và kali thích hợp cho việc hình thành chồi. Nitơ được
sử dụng ở 2 dạng là NH4+ và NO3- riêng rẽ hoặc phối hợp với nhau. Điều đáng lưu
ý là nếu chỉ dùng NH4+ thì sinh trưởng của tế bào giảm hoặc ngừng hoàn toàn.
Nguyên nhân chính là do quá trình trao đổi ion của tế bào bị lệch dẫn đến tình
trạng thay đổi pH của môi trường. Cụ thể, khi chỉ dùng NO3-, độ pH của môi
trường tăng dần và khi chỉ dùng NH4+ thì độ pH của môi trường giảm dần do tế
bào hấp thụ chúng và thải ra ngoài môi trường loại ion có giá trị tương đương.
Lưu huỳnh: chủ yếu và tốt nhất là dùng dạng muối SO42- còn các dạng khác
thường kém tác dụng, thậm chí còn độc.
Phốt pho: Mô và tế bào thực vật nuôi cấy có nhu cầu phốt pho rất cao. Nó
không chỉ là một trong những thành phần cấu trúc của tế bào mà khi phot pho ở
dạng H2PO4- và HPO42- còn có tác dụng như một hệ đệm làm ổn định pH của môi
trường trong quá trình nuôi cấy (Nguyễn Văn Uyển, 2000).
* Các nguyên tố vi lượng
Thường được dùng với nồng độ rất thấp khoảng < 30 mg/l. Các nguyên tố
thường được dùng trong nuôi cấy mô là: sắt, kẽm, mangan, iốt, đồng, coban, bo.
Nó đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của enzim, tham gia vào các phản
ứng trao đổi điện tử, sinh tổng hợp diệp lục… Riêng sắt được sử dụng ở dạng
phức: Fe - NaEDTA.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


đến tốc độ sinh trưởng và khả năng sinh tổng hợp các chất của mô thực vật trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15


nuôi cấy in vitro cũng như trong cây hoàn chỉnh (Võ Châu Tuấn, 2014). Zhao và cs
(2001) đã nghiên cứu ảnh hưởng của 2,4-D và αNAA phối hợp với BA ở các nồng
độ khác nhau lên sinh trưởng và tích lũy jaceosidin của tế bào cây hoa sen tuyết
(Saussurea medusa). Kết quả cho thấy, các môi trường có sự phối hợp giữa BA với
2,4-D thì không thích hợp cho sinh trưởng của tế bào; khi nồng độ 2,4-D gia tăng,
khả năng sinh trưởng của tế bào giảm đi rõ rệt. Sử dụng các môi trường bổ sung
phối hợp giữa BA với αNAA, lượng jaceosidin tích lũy trong tế bào tăng tỷ lệ thuận
với sự gia tăng nồng độ của αNAA (Zhao, 2001). Mô của cây cà trái vàng (Solanum
xanthocarpum) khi nuôi cấy trên môi trường chứa 2,4-D thì cây tích lũy solasodine
nhưng khi nuôi cấy trên môi trường có chứa IAA hoặc IBA thì cây lại không tích
lũy được chất này (Narayanaswany, 1994).
* Nguồn cacbon
Mô và tế bào thực vật trong nuôi cấy in vitro sống chủ yếu dựa theo phương
thức dị dưỡng. Vì vậy, việc bổ sung vào môi trường nuôi cấy nguồn carbon hữu cơ
là điều bắt buộc. Nguồn carbon trong môi trường nuôi cấy tế bào thực vật thường
được cung cấp dưới dạng carbohydrate. Carbon vừa tham gia tổng hợp các thành
phần của tế bào vừa cung cấp năng lượng cho quá trình sinh trưởng và tồn tại của
tế bào. Ngoài ra, carbohydrate cũng là nguồn cung cấp carbon cần thiết cho sự
hình thành các sản phẩm trung gian thông qua trao đổi chất (Zhong and Yoshida,
1995). Trong phần lớn các môi trường nuôi cấy, nguồn carbon được bổ sung chủ
yếu là đường sucrose và glucose với nồng độ 20 – 40 g/l. Gautheret (1959) cho
rằng đối với phần lớn các mô và tế bào nuôi cấy, đường sucrose và glucose là
nguồn carbon tốt nhất; trong một số trường hợp khác, có thể dùng fructose,
galactose và maltose (Nguyễn Đức Thành, 2000). Ảnh hưởng của nồng độ sucrose


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status