Tiểu luận sự biến đổi văn hóa gia đình ở vùng tái định cư huyện kỳ anh tỉnh hà tĩnh - Pdf 35

5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khoa học
Trong tiến trình phát triển của lịch sử, gia đình có một vị trí và vai trò đặc biệt.
Từ gia đình, con người được sinh ra và trưởng thành cả về thể chất và nhân cách.
Chính gia đình là mảnh đất gieo mầm, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn nhân lực cho
đất nước. Với hai chức năng cơ bản: tái sinh con người để duy trì nòi giống và xã
hội hoá cá nhân để hình thành nhân cách, gia đình sẽ tồn tại mãi trong đời sống của
nhân loại. Sức mạnh trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc, xã hội phụ thuộc rất
nhiều vào sự tồn tại, phát triển của gia đình và văn hoá gia đình.
Gia đình Việt Nam phát triển qua nhiều thế hệ và đã tạo dựng nên những
chuẩn mực giá trị tốt đẹp như lòng yêu nước, hiếu nghĩa, ham học, thuỷ chung, cần
cù và sáng tạo trong lao động, kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách. Sau
gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của các gia
đình Việt Nam đã được cải thiện đáng kể nhờ những thành tựu của phát triển kinh
tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, và các lĩnh vực khác. Chính những
thành tựu này đã góp phần quan trọng làm cho niềm tin, trách nhiệm của từng cá
nhân và toàn xã hội đối với gia đình được nâng lên.
Nghiên cứu VHGĐ không phải là chủ đề nghiên cứu mới nhưng luôn mang
tính thời sự, là chủ đề luôn được sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước,
trên thế giới và ngày càng có sự quan tâm hơn trên nhiều khía cạnh và góc độ khác
nhau, hiện tại đã có rất nhiều công trình khoa học bàn về vấn đề này. Các công trình
nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề lý luận về tầm quan trọng của gia đình trong
xã hội và phát triển xã hội. Đã có những công trình nghiên cứu về gia đình và
VHGĐ theo hướng thực nghiệm. Những công trình này, thường tập trung ở các đề
tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, các luận văn, luận án. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu về di cư - định cư. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sự
biến đổi VHGĐ ở vùng TĐC. Do vậy, nghiên cứu sự biến đổi VHGĐ ở vùng TĐC
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, vẫn được xem là vấn đề còn bỏ ngỏ.

cách nhanh chóng. Ngược lại, một bộ phận gia đình không có khả năng thích ứng
với những cơ hội do quá trình hội nhập mang lại, họ trở thành những người thua
cuộc ngay chính trên mảnh đất của quê hương mình. Sự biến đổi VHGĐ ở Khu


7

TĐC huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là một trong những minh chứng cụ thể cho điều
đó.
Ảnh hưởng bởi dự án Formosa, nhân dân một số vùng các xã Kỳ Lợi, Kỳ
Liên, Kỳ Long, Kỳ Phương, Kỳ Thịnh đều phải di dời TĐC. Tại nơi ở mới, công
trình hạ tầng xã hội như điện, nước, giao thông; các công trình văn hóa, giáo dục,
hành chính như: trường học, trụ sở xã, hội quán thôn, đài tưởng niệm liệt sỹ… đều
được đầu tư xây dựng mới khang trang, hiện đại. Nơi ở cũ hàng bao đời nay của
một vùng quê nghèo đã được giải phóng hoàn toàn để phát triển công nghiệp, cuộc
sống mới theo hướng đô thị đã và đang được hình thành.
Các gia đình nơi đây phải từ bỏ miền quê đã gắn bó bao đời để đến lập nghiệp
ở một vùng đất mới đầy bỡ ngỡ. Bộ mặt KT-XH có nhiều khởi sắc, nhưng trong
lòng nó, vấn đề VHGĐ, phương thức sản xuất, thói quen, nếp nghĩ, cách làm của
người dân từ miền biển lên núi, từ đồng bằng phì nhiêu lên canh tác ở sườn đồi tất
yếu có sự thay đổi. Như một quy luật của quá trình phát triển, khi có sự thay đổi về
môi trường sống, thay đổi về phương thức sản xuất, thay đổi về các mối quan hệ
văn hóa cộng đồng thì tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi của VHGĐ.
Với một đối tượng và một phạm vi nghiên cứu được giới hạn như vậy, NCS
hy vọng vấn đề sẽ được phân tích và lý giải sâu sắc hơn, qua đó, những vấn đề lý
luận về VHGĐ, biến đổi VHGĐ sẽ được làm sáng tỏ, góp phần mang lại cơ sở khoa
học cho chính sách TĐC trong mối quan hệ với phát triển bền vững của địa phương
huyện Kỳ Anh nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, NCS chọn đề tài Sự biến đổi
văn hóa gia đình ở vùng tái định cư huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh làm đề tài luận

hưởng và sẽ làm biến đổi VHGĐ của đồng bào TĐC theo chiều hướng gia đình hiện
đại đan xen cả những mặt tích cực và tiêu cực. Toàn bộ kết quả khảo sát trong luận
án chứng minh cho giả thuyết khoa học này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tổng hợp, hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về gia đình, VHGĐ, biến
đổi VHGĐ.
5.2. Phân tích thực trạng biến đổi VHGĐ ở vùng TĐC huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh với mong muốn giữ gìn và phát huy những giá trị VHGĐ truyền thống; xây


9

dựng những giá trị mới, tích cực cho gia đình hiện đại. Đồng thời, đề xuất một số
giải pháp hạn chế những biến đổi của VHGĐ theo chiều hướng tiêu cực.
5.3. Cung cấp bức tranh toàn cảnh về sự biến đổi VHGĐ ở vùng TĐC, góp
phần giúp các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, những cơ sở khoa học, có
kinh nghiệm trong việc di dân TĐC ở các dự án khác trên địa bàn toàn tỉnh, đồng
thời làm tư liệu tham khảo có ý nghĩa đối với công tác nghiên cứu và học tập.
5.4. Đề xuất những giải pháp khắc phục một số hạn chế trong chính sách TĐC
ở Hà Tĩnh nói chung và các khu TĐC ở Kỳ Anh nói riêng.
6. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến đổi văn hóa gia đình
vùng tái định cư, NCS lựa chọn phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học với
mong muốn đây là phương pháp tiếp cận hữu hiệu cho đề tài luận án.
Sau đây là một số phương pháp cụ thể được sử dụng thường xuyên trong quá
trình thực hiện đề tài:
6.1. Điều tra xã hội học
Điều tra qua bảng hỏi (Để phục vụ cho luận án, NCS chuẩn bị 360 bảng hỏi
trên các đối tượng nông dân, công nhân, lao động tự do, kinh doanh buôn bán, cán
bộ công chức, học sinh, hưu trí; tuổi từ 18 - 60 tuổi). Tổng số gồm 6 mẫu thiết kế,

triển của quê hương, đất nước.
Đề xuất được các giải pháp để gìn giữ và phát huy những nét đẹp của VHGĐ
truyền thống, hạn chế những biến đổi mang tính tiêu cực, góp phần xây dựng những
giá trị mới cho gia đình hiện đại.
8. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu (6 tr), kết luận (4 tr), danh mục tài liệu tham khảo (8 tr) và
phụ lục (83 tr), nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, tổng quan về vùng tái định cư và văn hoá gia đình
của cư dân huyện Kỳ Anh trước tái định cư (45 tr).
Chương 2: Thực trạng văn hoá gia đình sau tái định cư ở huyện Kỳ Anh (52
tr).
Chương 3: Nhân tố tác động, xu hướng biến đổi và giải pháp cho việc xây
dựng văn hóa gia đình ở vùng tái định cư huyện Kỳ Anh (28 tr).


11

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ VÀ
VĂN HOÁ GIA ĐÌNH CỦA CƯ DÂN HUYỆN KỲ ANH
TRƯỚC TÁI ĐỊNH CƯ
1.1. Cơ sở lý luận về văn hóa gia đình và biến đổi văn hóa
1.1.1. Cơ sở lý luận về văn hóa gia đình
1.1.1.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người sinh ra, bắt đầu một cuộc
sống. Đúng như quan niệm của nhà nghiên cứu Lê Minh: “Trong suốt cuộc đời cho
đến khi kết thúc, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn của tình cảm, là cái nôi của
sự yên bình trong ấm êm” [56, tr.11].
Khái niệm gia đình thường được dùng để chỉ một nhóm xã hội được hình
thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn

khoa học khác nhau, thuộc nhiều chuyên ngành và vì thế định nghĩa gia đình cũng
rất phong phú.
Theo phương pháp chiết tự từ, nhà khoa học Hoàng Tiến khi nghiên cứu về
gia đình đã chỉ ra: chiết tự chữ gia theo nghĩa Hán gồm bộ miên, mang ý nghĩa mái
lợp trùm nhà ngoài nối nhà trong. Dưới có chữ thỉ, nghĩa là lợn. Chữ gia mang ngữ
nghĩa nhà ở, chắc chắn phải xuất hiện từ thời loài người đã biết chăn nuôi. Chiết tự
chữ đình, gồm bộ nghiễm tức mái nhà (cũng đọc là yêm), dưới là đình với ý nghĩa là
nơi phát chính lệnh cho cả nước theo (như triều đình). Với phương pháp này, nghĩa
xa xưa của gia đình hẳn là một đơn vị kinh tế nhỏ, chung sống dưới mái nhà trong
cộng đồng xã hội. Định nghĩa này đã khái quát được một số dấu hiệu đặc trưng của
gia đình (chung sống cùng mái nhà, là đơn vị kinh tế), nhưng chưa khái quát được
cơ sở hình thành gia đình cùng với một số chức năng quan trọng khác của gia đình.
Từ góc nhìn XHH, tác giả Lê Như Hoa trong công trình khoa học của mình
cho biết: “Một số nhà XHH quan niệm gia đình là một nhóm người” [31, tr.24]. Tác
giả đã trích dẫn các quan điểm tiêu biểu của các nhà XHH phương Tây
E.W.Burgess và H.J.Cocker: Gia đình là một nhóm người được thống nhất với nhau
bởi những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi; tạo thành một
hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội riêng của từng
người trong số họ: là chồng vợ, là mẹ cha, anh trai và em gái, tạo thành một nền văn


13

hoá chung. Theo Kingley Davis gia đình: “Là một nhóm người mà quan hệ của họ
với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau” [31,
tr.24].
Các định nghĩa nói trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh của gia đình nhưng còn
khá chung chung, không rõ bản chất, chức năng và sự tác động của gia đình với xã
hội và ngược lại.
Nhà nghiên cứu Lê Thi trong tác phẩm Vai trò của gia đình trong việc xây

đình của Tâm lý học, XHH.
Qua phân tích, chúng tôi thấy rằng, cần phải kế thừa các quan điểm tiêu biểu
trên, khái quát lại và bổ sung để có định nghĩa gia đình vừa đảm bảo tính khái quát,
tính hệ thống, tính lôgíc và toàn diện về những nét bản chất đặc trưng của gia đình.
Đây là vấn đề không đơn giản, đặc biệt trong xã hội hiện đại, cùng với sự vận động,
biến đổi của xã hội thì các hình thức, kiểu loại gia đình cũng biến đổi hết sức phức
tạp, đa dạng. Trong thực tế, có những gia đình không có con cái, có gia đình nhiều
“chủng loại” con cái, gia đình đơn thân, gia đình khuyết thiếu... Nhìn chung trong
các kiểu, loại gia đình thì gia đình hạt nhân vẫn chiếm đa phần (ở Việt Nam, theo
điều tra, có từ 60 đến hơn 70%). Chính vì vậy, có thể lấy gia đình hạt nhân làm đối
tượng để đưa ra một định nghĩa về gia đình.
Qua một số định nghĩa đã đề cập ở trên, chúng tôi nhận thấy, gia đình được
xác định dựa trên 5 tiêu chí: là một nhóm người (có từ hai người trở lên); có quan
hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng; có đặc trưng giới
tính qua quan hệ hôn nhân; cùng chung sống; có ngân sách chung. Trong 5 tiêu chí
này, quan hệ hôn nhân và huyết thống là tiêu chí cơ bản nhất để nhận diện gia đình.
Trên cơ sở thừa nhận sự đa dạng trong quan niệm về gia đình, có thể rút ra
định nghĩa chung nhất như sau:
Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng,
gắn bó với nhau về tình cảm, kinh tế, trách nhiệm và quyền lợi, chịu sự ràng buộc
có tính pháp lý được xã hội, nhà nước thừa nhận và bảo vệ.
1.1.1.2. Khái niệm văn hoá gia đình


15

Để tìm hiểu về văn hoá gia đình, trước tiên phải đề cập đến khái niệm văn hoá.
Đã có rất nhiều ý kiến và định nghĩa về văn hoá, chúng tôi xin lựa chọn một định
nghĩa được cho là thỏa đáng, đó là ý kiến của tổ chức UNESCO: “Văn hoá là tổng

gia đình. Vì vậy, có gia đình thì tất yếu phải có VHGĐ.
Chúng ta đã biết, gia đình là một hiện tượng văn hoá của loài người, gia đình
chỉ xuất hiện trong xã hội loài người. Ở những động vật khác, dù là động vật cấp
cao như loài khỉ, chỉ có sự kết hợp sinh học mà chưa thể có gia đình. Cái mà một số
người gọi là gia đình ở động vật này chỉ là những gắn bó tính dục và bản năng.
Bước nhảy từ sự kết hợp tính dục và bản năng của động vật sang gia đình của con
người mang tính văn hóa rõ rệt. Văn hóa ở đây hiểu theo nghĩa là những gì con
người sáng tạo nên ngoài những gì tự nhiên dành sẵn cho con người.
Gia đình của con người là tâm điểm để tạo ra những quan hệ rộng lớn theo
chiều dọc và chiều ngang. Từ một đôi vợ chồng, sẽ tạo nên các thế hệ và các quan
hệ của nó với các thế hệ đó: ông bà - bố mẹ - con - cháu - chắt... được gọi là quan
hệ dọc. Cùng với các quan hệ dọc là quan hệ ngang họ hàng nội ngoại, bên chồng,
bên vợ... Ý thức được và ứng xử được với các quan hệ đó là một đặc trưng văn hoá
của con người, không có trong đời sống bầy đàn của động vật. Từ đó có thể khẳng
định: gia đình của con người là một hiện tượng văn hoá hoàn toàn khác về chất so
với hình thức kết đôi, sinh con của động vật. Nó không chỉ bị quy định bởi nhu cầu
sinh học mà còn được biến đổi về chất do nhu cầu xã hội (nhu cầu người) để trở
thành hiện tượng văn hoá.
Gia đình là một giá trị văn hoá khi nó đáp ứng nhu cầu tồn tại và các nhu cầu
đặc biệt thiêng liêng không vụ lợi của con người. Đó là tình thương yêu, hạnh phúc,
trách nhiệm, nghĩa vụ mang tính người của con người. Gia đình là vành nôi yêu
thương, che chở từ khi con người được sinh ra, lớn lên, trưởng thành cho đến khi
tuổi già và mất đi. Tất cả những sự kiện đó đều mang theo những nội dung văn hóa
nhất định. Chúng đụng tới những nhận thức và tình cảm sâu sắc và thiêng liêng nhất
của con người. Con người nhận thức được về địa vị và thân phận xã hội của cá nhân
mình thông qua nhận thức về địa vị và thân phận của gia đình mình. Những tình
cảm mạnh mẽ nhất của con người cũng biểu hiện trước hết trong các quan hệ gia
đình: tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng, tình cha con, mẹ con, tình anh chị em,



giá trị, chuẩn mực trở thành định hướng mà mỗi thành viên trong gia đình chấp


18

nhận, tuân theo và có nghĩa vụ thực hiện. Mỗi gia đình được tồn tại và phát triển
thông qua sự vận hành của các thành tố: cấu trúc gia đình, chức năng của gia đình,
mối quan hệ nội tại và môi trường sống của gia đình.
Trong đời sống xã hội, văn hoá tích luỹ vào mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, vì
vậy mới hình thành nên văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng. Với văn hoá cộng
đồng nói chung, người ta căn cứ vào hai dạng hoạt động sản xuất vật chất và sản
xuất tinh thần để phân chia cấu trúc văn hoá thành hai lĩnh vực: văn hoá vật chất và
văn hoá tinh thần. Nhưng với văn hoá gia đình, cấu trúc phức tạp hơn, bởi gia đình
còn thêm một lĩnh vực sản xuất đặc thù đó là sản xuất con người, tái tạo nòi giống.
K. Marx đã chỉ rõ:
Tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử, hàng ngày tái tạo
ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người
khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con
cái, gia đình... Như vậy là sự sản xuất ra đời sống, ra đời của bản thân
mình bằng lao động, cũng như đời sống của người khác bằng việc sinh
con đẻ cái - biểu hiện ngay là một quan hệ song trùng: một mặt là quan
hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội [51, tr.41- 42].
Trong văn hoá gia đình giá trị cấu trúc là giá trị tồn tại bên trong gia đình thể
hiện ở sự gắn bó giữa các thành viên của cộng đồng đặc biệt này. Đó là các giá trị
được biểu hiện trong các quan hệ cơ bản của gia đình: quan hệ giữa vợ và chồng,
quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ giữa các anh chị em.
Nghiên cứu về cấu trúc văn hoá gia đình, có thể có nhiều hình thức khác nhau
nhưng cơ bản nhất, theo các nhà nghiên cứu, có 2 dạng: dạng hoạt động cơ bản của
gia đình và dạng hệ giá trị của gia đình. Vấn đề này trong công trình nghiên cứu
Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị [25] của nhóm tác giả Lê Quý Đức và

nhà nghiên cứu, đặc biệt là tác giả Lê Minh trong đề tài khoa học Văn hoá gia đình
Việt Nam và sự phát triển xã hội [56] cho rằng có 3 loại giá trị:
Thứ nhất: Các giá trị cấu trúc, đó là các giá trị gắn với các quan hệ bên trong
của gia đình. Chúng thể hiện thái độ lựa chọn cơ cấu gia đình và phương thức ứng
xử của con người trong các quan hệ gia đình ở mỗi thời đại và mỗi nền văn hoá.
Thứ hai: Các giá trị chức năng, khẳng định vai trò, vị trí của gia đình đối với
sự phát triển của xã hội, với bốn chức năng cơ bản: chức năng tái sản xuất ra con


20

người; chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình; chức năng giáo dục; chức
năng thoả mãn các nhu cầu tâm lý, tình cảm của gia đình.
Thứ ba: Các giá trị tâm linh, đây là hạt nhân bất biến của văn hoá gia đình.
Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm
linh, có nghĩa là tuân theo, tôn thờ những giá trị không vụ lợi, những giá trị bắt
nguồn từ cái thiêng liêng và cái bí ẩn. Nếu những giá trị ấy mất đi thì con người
không tồn tại như con người.
Tuy nhiên, sự chia tách trên đây cũng chỉ là tương đối. Nghiên cứu một vấn đề
thực tiễn của VHGĐ không phải là việc dễ dàng, bởi nội hàm khái niệm VHGĐ
rộng, phức tạp, luôn có sự biến đổi cùng với sự biến đổi của văn hóa và KT-XH.
Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Văn cũng đã từng khẳng định:
Khi nghiên cứu cấu trúc VHGĐ, người ta thường chú ý đến các mối quan
hệ tiền hôn nhân, quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa các thế hệ, quan hệ
thân tộc... Trong quan hệ tiền hôn nhân, người ta chú ý đến vấn đề lựa
chọn bạn đời, động cơ kết hôn, quyền quyết định hôn nhân, nghi thức
pháp lý và phong tục cưới xin. Trong quan hệ vợ chồng, người ta chú ý
đến việc phân công lao động giữa vợ và chồng, quyền quyết định các vấn
đề quan trọng trong gia đình, sở hữu tài sản giữa vợ chồng và chồng,
quan hệ tình dục, bạo lực gia đình, ly hôn, ly thân... Trong quan hệ giữa

gia giáo (sống thuận hoà, biết kính trên nhường dưới, con cháu học hành thành đạt,
nên người…). Trong mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề giáo dục gia đình luôn có sự thay
đổi để thích ứng với tình hình KT-XH. NCS tìm hiểu sự thay đổi đó trên ba phương
diện: nội dung giáo dục, hình thức giáo dục và vai trò của các thành viên trong gia
đình đối với việc giáo dục con cái.
Vấn đề các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng trong gia đình: đây là yếu tố quan
trọng tạo ra nét văn hoá riêng của mỗi gia đình. Trong đời sống con người, nếu mặt
hiện hữu có thể nhận thức qua những tiêu chuẩn sờ mó được, thì mặt tâm linh bao
giờ cũng gắn với những cái trừu tượng mông lung nhưng không thể thiếu. Con
người sở dĩ trở thành người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh. Để tìm
hiểu vấn đề này một cách sâu sắc, cặn kẽ, thực sự là một điều không dễ. NCS đã cố
gắng tìm hiểu các hình thức nghi lễ, vai trò của các thành viên trong gia đình đối


22

với nghi lễ để thấy được đời sống tâm linh phong phú, đa dạng của cư dân vùng
TĐC.
1.1.1.4. Vai trò của văn hoá gia đình
Văn hóa gia đình có vai trò to lớn đối với sự hình thành nhân cách mỗi cá
nhân, sự phát triển bền vững của xã hội và đối với việc giữ gìn bản sắc VHDT. Gia
đình trong ý thức mỗi cá nhân vẫn là một tổ ấm không thể thay thế, vẫn là nơi chốn
đi về để mỗi cá nhân có thể thư giãn, sống thật là mình nhất. Gia đình là bệ phóng
bình yên, an toàn nhất, hội đủ mọi yếu tố nhất để mỗi cá nhân có thể đạt tới đích
khát khao, tới chân trời mơ ước của mình. Và trên hết, gia đình là một tế bào nhỏ
nhất cấu thành nên xã hội.
Trên thế giới, theo quan điểm duy vật lịch sử, sự sản xuất và tái sản xuất ra tư
liệu sản xuất và con người là nhân tố nền tảng có tính quyết định của xã hội. Sự
phát triển của gia đình cũng gắn với sự phát triển của sản xuất, tái sản xuất vật chất
và tinh thần cũng như tái sản xuất ra con người. Trong Nguồn gốc của gia đình, của

hy vọng vào cuộc đời, khát khao thành người có ích cho cộng đồng và người thân.
Chính vì thế, đối với mỗi cá nhân, gia đình thực sự có vị trí, ý nghĩa hết sức
quan trọng. Gia đình không chỉ là hạt nhân tốt của xã hội mà còn là chiếc cầu nối
ngắn nhất nhưng đẹp đẽ nhất, thuận lợi nhất giữa cá nhân với xã hội.
Gia đình là sản phẩm của lịch sử. Trình độ phát triển KT-XH quyết định quy
mô, kết cấu, hình thức tổ chức và tính chất của gia đình. Tuy nhiên với tư cách là
“tế bào của xã hội”, gia đình đã tác động to lớn đến tiến trình phát triển xã hội. Cho
nên, với hàng triệu tế bào tốt thì ắt hẳn sẽ xây dựng một xã hội tốt. Ngược lại, nó sẽ
là tác nhân gây nên sự suy đồi, làm đảo lộn đời sống xã hội. Lịch sử phát triển của
nhân loại trải qua nhiều triều đại hưng suy, nhiều nền văn minh bị đổ vỡ nhưng
VHGĐ vẫn là “chiếc phao” che chở, dẫn dắt mỗi cá nhân vượt qua mọi khốn khó.
Chính “chiếc phao” ấy đã, đang và sẽ truyền dẫn nền văn minh lại cho mỗi thế hệ
khi bước vào giai đoạn lịch sử mới.
Tính đa chức năng của gia đình đã tạo nên sự bền chặt, quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau rất sâu sắc của các thành viên trong gia đình. Trước sự xuất hiện của xu hướng
đề cao cá nhân, tính chất đa chức năng và chú trọng quan hệ chiều dọc của gia đình
truyền thống đang có xu hướng dần dần bị thay thế.


24

Có thể thấy, gia đình là thiết chế đa chức năng. Thông qua việc thực hiện
những chức năng này mà gia đình tồn tại, phát triển, đồng thời tác động đến sự tiến
bộ chung của xã hội. Trong thế giới đang cạnh tranh cao độ như hiện nay, để thúc
đẩy sự tăng trưởng và phát triển KT-XH, không thể không phát huy sức mạnh của
VHGĐ trong mối quan hệ chặt chẽ với xã hội.
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, VHGĐ Việt Nam đang có
biến đổi về nhiều mặt. Đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện và từng bước
nâng cao, VHGĐ Việt Nam tiếp thu nhiều đặc điểm tiến bộ của gia đình trên thế
giới nhưng cũng chịu ảnh hưởng của những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị

từ thế kỷ XIX, khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu
hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa. E.Taylor cho rằng “sự phát triển tiến bộ,
tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người. Xu hướng
phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có
thể sắp xếp vào trong một trật tự xác định mà không thể làm ngược lại” [9, tr.53]
Theo mô hình phát triển tiến hóa đơn tuyến này, những nền văn hóa ngoài phương
Tây được nhìn nhận là kém văn minh, con người sống trong sự ràng buộc chặt chẽ
của phong tục, vì vậy sự biến đổi diễn ra rất chậm chạp… Văn hoá phương Tây
“văn minh”, năng động, biến đổi nhanh. Mô hình tiến hóa đơn tuyến về sự phát
triển và biến đổi văn hóa này đã bị phản đối rộng khắp trong giới nghiên cứu và đây
cũng là tiền đề cho nhiều lý thuyết mới về biến đổi văn hóa ra đời và phát triển.
Truyền bá luận như một phương thức nghiên cứu văn hóa xuất hiện vào cuối
thế kỷ XIX. Khái niệm này có nghĩa là truyền bá các hiện tượng văn hóa thông qua
những cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc bằng buôn bán, di dân, xâm lược. Các đại biểu
của xu hướng này cho rằng, truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn
hóa là nội dung chủ yếu của quá trình lịch sử. Truyền bá luận đã phổ biến ở các
nước Âu Mỹ. Ở Đức, Ph.Ratxen (1844-1904) với các công trình như Địa lý học
nhân loại, Nhập môn dân tộc học đã đưa ra những kết luận về sự truyền bá các nền
văn hóa trong không gian, về sự hình thành và nguồn gốc của chúng.
Thuyết Vùng văn hoá, đại diện là C.L.Wissler [117], A.L.Kroeber [111] đưa
ra các khái niệm cơ bản về vùng văn hoá, loại hình văn hoá, trung tâm văn hoá, tổ
hợp văn hoá, sự biến đổi văn hoá diễn ra rất đa chiều và nhiều cấp độ tuỳ thuộc vào


26

việc cộng đồng đó là trung tâm hay ngoại vi hay vùng chuyển tiếp, môi trường và
sự chuyên môn hoá của cộng đồng.
Một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có tác động lớn từ những năm
1920 đến 1950, đó là thuyết chức năng liên quan đến Radcliffe Brown [114];

quan trọng trong việc chi phối sự biến đổi văn hóa. Với quan điểm này các nhà sinh
thái học văn hóa đã chưa tường minh khi họ không thể xem xét các hệ thống tư duy
văn hóa trong quá trình phân tích sự biến đổi văn hóa.
Tham khảo trong Từ điển Nhân học, chúng tôi thấy tương đối thống nhất định
nghĩa: biến đổi văn hoá bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu
dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hoá. Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội
nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi.
Các khái niệm gần với biến đổi văn hoá được xác định là truyền bá, tiếp biến, tiến
hoá và phát triển.
Chúng ta biết rằng, phát triển là qui luật tất yếu của bất cứ xã hội nào và nó
kéo theo những sự biến đổi mà trong đó biến đổi văn hoá là vấn đề cốt lõi và luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học. Quá trình biến đổi hiện nay đã làm
thay đổi cả những nhận thức về văn hoá ở tầm lý thuyết tưởng như đã tồn tại khá
vững chắc và lâu dài. Văn hoá không chỉ hạn chế ở việc định hình những chuẩn
mực và giá trị, điều mà các cá nhân thu được thông qua xã hội hoá, tiếp thu và nhớ
lại qua quá trình trải nghiệm cuộc sống, hơn thế đã luôn có sự liên kết giữa những
biến thể khiến cho những luận điểm chung về văn hoá trở nên khó hiểu hơn khi nó
được thừa nhận rằng nhiều xã hội hiện nay phát triển với những hình ảnh rất khác
và có thể phân biệt với chính xã hội đó.
Ngày nay, giới nghiên cứu văn hóa khi đề cập đến biến đổi văn hóa khuynh
hướng chung là đặt biến đổi văn hóa trong sự ảnh hưởng mạnh mẽ của toàn cầu hóa,
của những quá trình giao lưu vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, của những xã hội đang
chuyển đổi. Trên thực tế hiếm có công trình khoa học chỉ khảo sát về biến đổi văn
hóa dựa trên một khía cạnh nêu trên mà thường xuyên có sự tác động qua lại với
nhau. Trong các nghiên cứu này, quan điểm của nhà nhân học Mỹ S.Spindler [116],
về mối quan hệ giữa biến đổi văn hóa với văn hóa truyền thống đáng được chú ý
hơn cả. Nghiên cứu của ông đối diện với mô hình lớn của sự biến đổi văn hóa xã
hội trong đó xác định ba cấp độ phân tích (văn hóa, xã hội, cá nhân) trong những



phân biệt này, tác giả cho rằng: “Sự lưỡng phân vĩ đại giữa xã hội hiện đại và truyền


29

thống chính là quá trình hiện đại hóa” [106, tr.7]. Không tuyệt đối hóa quan điểm
của Karl Marx hay Daniel Bell là sự phát triển kinh tế mang đến sự lan tràn của biến
đổi văn hóa, Samuel P.Huntington cho rằng những giá trị văn hóa có sự ảnh hưởng
lâu dài và tự trị trong xã hội.
Bên cạnh đó, Ronald Inglehart và Wayne E.Baker (2000) đã có những tìm
hiểu về Hiện đại hóa, biến đổi văn hóa và sự tồn tại bền bỉ của các giá trị truyền
thống [108]. Nếu như khái niệm HĐH được gắn liền với những mô hình phát triển
của phương Tây và Mỹ trong suốt nhiều thập kỷ, thì chỉ trong một vài thập kỷ cuối
của thế kỷ XX cho đến nay, sự phát triển và tăng trưởng nổi trội của các xã hội
ngoài phương Tây và Mỹ đã khiến cho các nhà khoa học cần thiết phải nhìn lại
nhiều khía cạnh quan trọng của HĐH.
Sự phát triển kinh tế xã hội những năm gần đây được gắn với sự thịnh
hành một cách đối lập hai trường phái quan điểm: thứ nhất, nhấn mạnh
sự hội tụ của những giá trị như là kết quả của hiện đại hóa, sự vượt trội
của các động lực kinh tế chính trị đã khiến cho văn hóa biến đổi. Vì thế,
có thể đoán định trước được sự suy tàn của những giá trị truyền thống và
sự thay thế của những giá trị hiện đại. Thứ hai, nhấn mạnh sự bền bỉ của
những giá trị truyền thống bất chấp sự biến đổi kinh tế, chính trị, những
giá trị này tương đối độc lập với sự phát triển kinh tế. Vì thế, có thể tiên
đoán rằng sự hội tụ của một số tập hợp những giá trị hiện đại là không
chắc chắn và những giá trị truyền thống sẽ tiếp tục đưa đến sự ảnh hưởng
độc lập đến sự biến đổi văn hóa có nguyên nhân từ sự phát triển kinh tế
[108, tr.20].
Thực tế thì phát triển kinh tế đã đẩy xã hội vào những chiều hướng biến đổi
chung. Tuy nhiên, không hoàn toàn chỉ là sự biến đổi đơn nhất mà sự biến đổi đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status