I.
1.
Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu
Bệnh răng miệng
Theo chuyên gia răng hàm mặt (RHM), bệnh răng miệng là các bệnh về tổ chức
cứng ở răng, tổ chức quanh răng và niêm mạc miệng, trong đó hai bệnh thường gặp là
sâu răng và viêm lợi [1].
2.
Bệnh sâu răng
Sâu răng là một quá trình bệnh lý, xuất hiện sau khi răng đã mọc, tổ chức cứng
của răng bị phá huỷ và tạo thành một hố gọi là lỗ sâu [2].
Người ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học sâu răng bằng hai quá trình huỷ
khoáng và tái khoáng. Mỗi quá trình đều do một số yếu tố thúc đẩy. Nếu quá trình huỷ
khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ xuất hiện sâu răng.
3.
Viêm lợi
Viêm lợi là sự khích thích vi khuẩn ở mảng bám răng, bờ viền lợi tròn, tấy đỏ và
phù nề, mềm. Nhóm vi khuẩn thường kết hợp với viêm lợi xoắn khuẩn Actinomyces
(Gram dương, hình sợi) và Eikenella (Gram âm, hình que).
- Viêm lợi hoại tử cấp tính là sự hoại tử gai lợi, chảy máu tự phát, có mùi hôi.
- Viêm quanh răng là thời kỳ tiếng triển nặng hơn của bệnh quanh răng: lợi , xương
và các tổ chức khác giữ răng sẽ bị phá huỷ [3].
4.
Các biện pháp phòng bệnh răng miệng
4.1. Giáo dục sức khỏe răng miệng[4]
4.1.1. Định nghĩa
Giáo dục sức khỏe răng miệng là một nghệ thuật truyền bá các kiến thức tổng
quát về nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng, cách điều trị, dự phòng các BRM đến
quần chúng, thay đổi tư tưởng và tập quán cü nhằm cải thiện tốt sức khỏe răng miệng
Tác hại của thuốc lá, trầu cau, rượu đối với ung thư vùng miệng.
Cách phát hiện sớm các BRM (chấm đen trên răng, đau khi ăn uống nóng lạnh,
chảy máu nướu, vết loét không lành sau 10 ngày điều trị kháng sinh, vết trắng,
hồng, nâu ở niêm mạc miệng, vết sùi chảy máu không đau...).
Phổ biến cách giữ gìn vệ sinh răng miệng đúng phương pháp
Là tổng hợp những biện pháp hướng tới việc làm sạch xoang miệng đặc biệt là
răng, nướu, bao gồm chải răng và súc miệng kỹ sau khi ăn, dùng tăm xỉa răng, chỉ nha
khoa.
Chải răng và súc miệng sau khi ăn:
Là một công việc hết sức nhẹ nhàng mà hữu ích, nhưng vẫn còn nhiều người chưa
quan tâm cho đó là công việc tầm thường không quan trọng. Thật ra đây là một biện
pháp hữu hiệu nhất, dễ làm nhất, rẻ tiền nhất để giữ gìn vệ sinh răng miệng phòng bệnh
sâu răng và nha chu. Chải răng là để lấy đi những mảnh vụn thức ăn, màng bám làm
giảm mức thấp nhất sự hiện diện của vi khuẩn, đồng thời còn xoa nắn lợi nhẹ nhàng và
làm sạch vùng khe lợi. Nếu chải răng đã trở thành một thói quen hàng ngày thì chải
răng là một công việc không khó và không mất thời gian, chải răng thật kỹ sau khi ăn
và trước khi ngủ tốt hơn chải nhiều lần mà cẩu thả. Muốn chải răng có kết quả (sạch
sẽ) cần phải chọn bàn chải và chải răng đúng phương pháp. Chọn và giữ gìn bàn chải.
Bàn chải sau khi dùng rẩy khô và để nơi thoáng, khi lông bàn chải bị tưa thì phải thay
bàn chải khác.
Phương pháp chải răng đúng cách:
Có nhiều phương pháp nhưng phương pháp Bass dễ thực hiện và làm sạch được
mảng bám ở cổ răng, rãnh nứơu và kẻ răng, đồng thời kích thích nướu.
• Mặt ngoài: Đặt lông bàn chải tại cổ răng, nghiêng một góc 450, hướng về
phía nướu (so với trục răng).Cử động tới lui nhẹ tại chỗ, vừa ép vừa đè cho
lông bàn chải đi vào rãnh nướu và kẻ răng, sau đó hất xuống về phía mặt
nhai. Mỗi vùng làm 5-6 lần rồi chuyển sang vùng khác.
Phổ biến các thói quen, tập quán có hại cho răng miệng
Một số thói quen xấu có thể gây ảnh hưởng đến răng như cắn nút chai, cắn chỉ,
xỉa răng, bú đêm... hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển xương hàm, khớp cắn như mút
tay, thở miệng... Ăn trầu, hút thuốc lá vấn có thể gây ung thư, vì vậy chúng ta cần phải
giáo dục cho cộng đồng, hầu làm thay đổi các thói quen có hại cho răng miệng.
4.2. Tăng sức đề kháng của răng[4]
Để tăng cường sức đề kháng của răng đối với các tác nhân gây sâu răng, chúng ta
có thể sử dụng rộng rãi Fluor và các chất trám bít hố rãnh.
4.2.1. Sử dụng Fluor
Hiện nay Fluor được dùng rộng rãi trên thế giới để phòng ngừa bệnh sâu răng.
Fluor là một chất dinh dưỡng giúp cho sự tăng trưởng, Fluor biến hydroxyapatit của
men răng thành fluoroapatit giúp răng khó hòa tan trong acit, tăng tái khoáng hoá, ngăn
cản sự bám dính của vi khuẩn... Fluor diệt vi khuẩn sâu răng đặc biệt ở pH thấp (pH
nên đi kiểm tra răng miệng định kỳ, đặc biệt là trẻ em, nhằm phát hiện sớm tổn thương,
đánh giá tình hình bệnh tật, và điều trị sớm hạn chế gây biến chứng.
II.
Thực trạng bệnh răng miệng trên thế giới và Việt Nam
1.
Thực trạng bệnh răng miệng trên thế giới
Trong những năm 1946–1975, hầu hết các nước phát triển, chỉ số sâu răng mất
trám (SRMT) của trẻ lứa tuổi 12 nằm trong khoảng 7,4–10,7 có nghĩa rằng trung bình
mỗi trẻ em sâu từ 7,4–10,7 răng, từ 1979–1982 chỉ số SRMT của trẻ lứa tuổi 12 đã
giảm hẳn xuống còn 1,7–3,0. Ở Singapo năm 1960 trẻ 12 tuổi có chỉ số SRMT > 4 và
hiện nay còn < 0,5 [5].Tại các trường phổ thông Italia: ở lứa tuổi 6 tuổi tỷ lệ sâu răng
chiếm 52,9% lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chiếm 52% và lứa tuổi 15 có tới
68,8% bị sâu răng vĩnh viễn.Tại Thái Lan, năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12 là 58–
80%.Nhìn chung ở các nước này BRM đều có xu hướng tăng rõ rệt so với các nước
phát triển ở thời điểm những năm 1960–1970. Tình hình sâu răng ở các nước đang phát
triển ở mức thấp hơn nhiều ( SRMT lứa tuổi 12 từ 0,2–2,6) những từ những năm 1970
trở đi chỉ số này lại tăng lên nhanh (từ 1,0–6,3) [6].Theo Who, năm 1978 bình quân
trên thế giới có 80% trẻ em dưới 12 tuổi và 100% trẻ em 14 tuổi bị viêm lợi mãn tính
[7].Theo nghiên cứu của các tác giả ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á đều cho thấy tỷ lệ trẻ
em bị bệnh sâu răng và viêm quanh răng cao ở mức trên 90%. Trẻ em bị bệnh quanh
răng có tỷ lệ mắc cao, nhiều nơi trên 90% trẻ em mắc bệnh này. Tuy nhiên bệnh quanh
răng trẻ em thường được biểu hiện là viêm lợi, tỷ lệ viêm lợi khác nhau theo tuổi [8].
Theo WHO năm 1997, các nước trong khu vực có trêm 80% dân số bị sâu răng và
viêm lợi. Chỉ số SRMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7–5,5 (ở Trung Quốc là 0,7, ở Lào
là 2,4, ở Campuchia là 4,9, ở Philippin là 5,5, ở Việt Nam là 0,8) [9].
2.
Thực trạng bệnh răng miệng ở Việt Nam
Cũng như các nước phát triển,Việt Nam cũng mắc các bệnh lý về răng miệng rất
1.
Trên thế giới
Trước đây bệnh sâu răng rất phổ biến ở những nước phát triển do chế độ ăn nhiều
chất đạm, đường. Nhưng khoảng 20 năm trở lại đây, có sự thay đổi về tình trạng sâu
răng ở hai nhóm quốc gia. Ở những nước nghèo tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng do
không được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục chăm sóc răng miệng và có sự thay
đổi về hành vi sinh hoạt ăn uống (đặc biệt là ăn nhiều bánh kẹo và uống nhiều nước
ngọt). Những nước giàu, tỷ lệ sâu răng ngày càng giảm do được Nhà nước coi trọng
chương trình fluor hóa nước uống, kem đánh răng có fluor, trám bít hố rãnh và coi
trọng giáo dục nha khoa. Trong vài thập kỷ gần đây, các nước đã dành 5–11% ngân
sách của y tế cho phòng BRM [15].
Từ 1908, Liên đoàn Nha khoa Quốc tế (FDI) đã quan tâm đếndự phòng sâu răng
và tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa. Tại các hội nghị của FDI năm 1951, 1960 và
1966 đều kết luận việc fluor hoá nước uống là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả và ít
tốn kém nhất. Tuy nhiên vào những năm 60-70 ngành Nha khoa của hầu hết các nước
đều tập trung vào chữa, phục hồi sâu răng và viêm quanh răng, công việc tốn kém, ít
hiệu quả. Vì vậy năm 1958, WHO đã thành lập Ủy ban nghiên cứu về fluor và chăm
sóc răng miệng [16].
Theo báo cáo của WHO năm 1978 hàng năm Mỹ tốn 100 triệu giờ công lao động,
9 tỷ USD cho việc chữa răng, phí tổn điều trị hơn 10 USD cho một răng ở trẻ em. Chi
phí cho điều trị răng một năm ở Anh là 180 triệu bảng Anh, còn ở Pháp là 8 tỷ france
và 25 triệu giờ công lao động.Sau đó các nước phát triển tập trung vào phòng bệnh, coi
như một chính sách lớn của Nhà nước và của ngành Y tế. Kết quả là 20 năm trở lại đây,
tỷ lệ sâu răng ở các nước Bắc Âu, Anh, Mỹ… đã giảm đi một nửa. Đây là một thành
tựu lớn từ đó WHO đã kêu gọi các nước chậm phát triển đẩy mạnh công tác phòng
BRM như các nước phát triển đã làm [17]. Như vậy vai trò của công tác chăm sóc
răng miệng tại cộng đồng rất lớn.
Tại Australia 50% thời gian của bác sỹ nha khoa là làm công tác phòng bệnh.
này trên thế giới và khu vực là 2.000–5.000, thấp hơn 10 lần so với thế giới [21]. Bên
cạnh đó, sự phân bố cán bộ răng hàm mặt lại không đồng đều.
Giáo dục chăm sóc răng miệng mới chỉ được đưa vào chương trình sách giáo
khoa của học sinh tiểu học. Giáo dục chăm sóc sức khoẻ răng miệng chưa được chú
trọng trong toàn dân nên hiểu biết về tự chăm sóc răng miệng, cách đánh răng đúng,
thức ăn nào tốt hoặc có hại cho răng, sự cần thiết phải đi khám răng định kỳ… của
người dân còn hạn chế.
Hiện nay tại một số trường tiểu học đã áp dụng kỹ thuật ART, đang là một kỹ
thuật chữa răng đơn giản, ít tốn kém và hiệu quả cao, thích hợp điều trị cho trẻ từ 6–9
tuổi, cho phép áp dụng rộng rãi từ thành thị đến nông thôn. Hiện nay phương pháp này
đã được áp dụng nhanh chóng ở các tỉnh thành phía Nam trong chương trình NHĐ
[22]. Kỹ thuật này nên được áp dụng rộng rãi trong cộng đồng, nhất là chương trình
NHĐ trong cả nước.
III.
1.
Một số nghiên cứu về dự phòng bệnh răng miệng trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Sức khỏe răng miệng tốt có liên quan đến khu vực sinh sống, điều kiện kinh tế,
trình độ học vấn của bố mẹ. Những phát hiện này có thể chỉ ra sự khác biệt trong việc
tiếp cận dịch vụ y tế và cấp độ khác nhau của giáo dục về sức khỏe răng miệng.Một
nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy rất ít trẻ em (4%) đã được cha mẹ hỗ trợ trong việc
vệ sinh răng miệng hàng ngày do kiến thức của cha mẹ [23].
Theo kết quả một nghiên cứu ở Burkina Faso, châu Phicủa Varenne B, Petersen
PE và Ouattara Svề hành vi sức khỏe răng miệng của trẻ em và người lớn trong khu
vực đô thị, nông thôn. Đối với cả trẻ em và người lớn, mức độ kiến thức, thái độ về
chăm sóc sức khoẻ răng miệng là rất thấp, 36% trẻ em dưới 12 tuổi và 57% người ở độ
tuổi 35-44có thực hiện vệ sinh răng miệng hàng ngày.Làm sạch răng miệng được thực
hiện chủ yếu bằng cách sử dụng tăm que. Sử dụng kem đánh răng đã hiếm, kem đánh
2-3 phút, đáng chú ý là không có học sinh nào chải răng từ 3 phút trở lên. Ở nghiên cứu
của Đỗ Văn Chiến 2008 cũng cho thấy đa số học sinh thời gian chải răng dưới 3 phút
một lần. Kết quả cho thấy có mối liên quan giữa sâu răng với số lần chải răng, tỷ lệ sâu
răng cao nhất ở nhóm chải răng dưới 3 lần (87,8%), điều đó cũng nói nên tác dụng của
đánh răng nhiều lần trong ngày và thời gian của mỗi lần đánh răng [26].
Đa số học sinh biết dự phòng sâu răng băng cách trải răng hàng ngày chiếm
72,7%, cho rằng cần ăn hạn chế chất đường chiếm 53,9%. Chỉ có tỷ lệ rất ít học sinh
(1,9%) biết biện pháp phòng sâu răng bằng cách xúc miệng bằng nước fluor. Qua kết
quả trên cho thấy rằng, vấn đề dự phòng răng miệng trong chương trình NHĐ chưa
thực sự phổ biến rộng rãi, nguồn cung cấp kiến thức về bệnh sâu răng chủ yếu là do
cha mẹ dạy bảo chiếm tới 59,7%, có tỷ lệ rất thấp (5,9%) các em học sinh cho rằng
kiến thức do thầy cô giáo cung cấp. Cha mẹ chiếm phần lớn trong việc hướng dẫn
chăm sóc cho trẻ (75,3%), từ các nguồn khác chiếm 24,7%[26][27].