QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT
CÁC DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG
KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Sinh viên thực hiện
Giảng viên hướng dẫn

: Nguyễn Văn Giới
: Th.S Lê Văn Lợi

BÌNH ĐỊNH – 2016


1

1.Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời Hồ Chí Minh đã khẳng định “Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đại đoàn kết là một
nội dung lớn xuyên suốt trong tư tưởng cũng như hoạt động thực tiễn
của Hồ Chí Minh. Theo Người, lực lượng và phương diện đoàn kết gồm
một hệ thống rộng lớn: đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp, các đảng
phái, các tôn giáo trong xã hội, với cả kiều bào nước ngoài và đoàn kết

dân tộc nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng. Tiếp nối tư tưởng
của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta xem đoàn kết các
dân tộc thiểu số là vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng và phát
triển đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã
nêu: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng
xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy
bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta”[7, tr. 17].
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu thực hiện
chính sách dân tộc trong thời kì đổi mới là: Thực hiện chính sách bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi
điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát
triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam, giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư
tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải
phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc
thiểu số.
Như vậy, trong quá trình đổi mới Đảng ta luôn xác định xây dựng
khối đoàn kết dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là đường lối
chiến lược, là nguồn sức mạnh, là động lực quan trọng nhằm phát huy
sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền thống
nhất Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Huyện An Lão là một huyện miền núi của tỉnh Bình Định, có
nhiều dân tộc thiểu số. Việc phát triển của huyện không thể tách rời sự
phát triển của cộng đồng dân cư này. Trong đó, xây dựng khối đoàn kết
các dân tộc thiểu số có thể nói là vấn đề mang tầm chiến lược. Vì vậy,
nghiên cứu “Quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam và vận dụng vào việc xây dựng khối


- Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Văn Khoan, (1999): “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và Mặt trận đoàn kết dân tộc”, Nhà xuất
bản Lao động, Hà Nội. Tác phẩm đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết và Mặt trận đoàn kết dân tộc. Phần phụ lục giới thiệu biên


4

niên hoạt động xây dựng Mặt trận đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
- Tư tưởng đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới (2004), Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Tác phẩm đã tuyển chọn những bài tham luận trong Hội
thảo Khoa học có chủ đề về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và
sự vận dụng tư tưởng ấy trong quá trình Cách mạng Việt Nam.
- Hoàng Trang (2005): “Toàn dân đoàn kết chống Mỹ, cứu nước
dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Trong tác phẩm này đã trình bày lý luận về tư tưởng đại đoàn
kết của Hồ Chí Minh sự vận dụng linh hoạt nhuần nhuyễn quan điểm cơ
bản, những giải pháp và nguyên tắc của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Minh một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
- Đặng Nghiêm Vạn: “Quan hệ tộc người trong một quốc gia dân
tộc”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993. Tác phẩm nêu lên
mối quan hệ giữa cộng đồng tộc người và cộng đồng chính trị - xã hội
trong lịch sử, dân tộc Việt Nam và các dân tộc ở Việt Nam.
- Vũ Văn Hậu (2009): “Củng cố mối quan hệ dân tộc và tôn giáo
ở Việt Nam trong bối cảnh hôm nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tác
phẩm đã trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ
giữa dân tộc và tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh; quan hệ giữa dân
tộc và tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, củng cố quan hệ

Minh học”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trên cơ
sở nghiên cứu tình hình thực tiễn về việc thực hiện quyền bình đẳng
giữa các dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên, tác giả Vũ Thị Thuỷ đã đưa ra
những nhóm giải pháp hữu hiệu, có tính thuyết phục nhằm củng cố và
xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh ở tỉnh Thái
Nguyên, để tăng cường việc thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc ở
tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Ngô Minh Hoàng (2007): “Đại đoàn kết dân tộc thiểu số trong
tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị,
chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh. Luận văn đã nghiên cứu tình hình thực tiễn ở địa phương Tây
Nguyên, đặc biệt sau sự kiện bạo động chính trị, gây chia rẽ khối đoàn


6

kết giữa đồng bào kinh với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, từ
đó đưa ra những nhóm giải pháp hữu hiệu, có tính thuyết phục nhằm
củng cố và xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc thiểu số ở địa bàn Tây
Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Trần Phú Quý (2008): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc thiểu số và vận dụng vào giải quyết vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh
Gia Lai”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí
Minh học, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Tựu trung, các luận án, luận văn với những nội dung nghiên cứu
kể trên là nguồn tư liệu rất bổ ích cho tôi tham khảo trong quá trình thực
hiện luận văn của mình ở khía cạnh vận dụng tư tưởng đoàn kết các dân
tộc thiểu số của Hồ Chí Minh trong thực tiễn thời kỳ đổi mới đất nước.
Về báo và tạp chí:

- Xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc xây dựng
khối đoàn kết các dân tộc thiểu số và phân tích làm rõ thực trạng khối
đoàn kết các dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong giai
đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường xây dựng khối
đoàn kết các dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định hiện nay
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
4.1. Đối tượng
- Những quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc
trong cộng đồng dân tộc Việt Nam thể hiện trong các tác phẩm, bài nói,
bài viết và hoạt động thực tiễn của Người.
- Thực tiễn xây dựng khối đoàn kết các dân tộc thiểu số và kết quả
thực hiện chính sách dân tộc của huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong giai
đoạn 2010- 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết có nhiều nội dung, đối
tượng đoàn kết rất rộng, bao gồm các giai cấp, tầng lớp,….Khóa luận
này chỉ nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc
trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
- Thực trạng công tác xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ở
huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2010 – 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận


8

5.1. Cơ sở lý luận
Quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng

con người, là hình thức phát triển xã hội được hình thành trên cơ sở
cùng có chung đời sống kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ và những đặc điểm
về văn hóa, kinh tế, ý thức, tâm lý riêng của mình.
Dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít trong một quốc gia đa dân
tộc, có nơi sinh sống và cư trú vùng núi, có những nét đặc trưng riêng
về kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, tạo nên sự đa dạng cho
quốc gia dân tộc. Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng biệt nhưng đều
là thống nhất với nhau tạo nên một quốc gia đa dân tộc.
Đoàn kết là sự kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu
thuẫn, chống đối nhau vì cùng mục đích chung nào đó và đồng thời
mang tính đa dạng phong phú giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn
giáo.
Đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết toàn
dân rộng rãi tất cả những người Việt Nam không phân biệt giai cấp, giới
tính, tôn giáo, thành phần xã hội, đa số hay thiểu số, ở trong nước hay
đang sinh sống ở nước ngoài, miễn là người đó có tinh thần yêu nước.
1.2. NỘI DUNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN
KẾT CÁC DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT
NAM
Đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là một
vấn đề xuyên suốt, nhất quán nổi bật lý luận cũng như hoạt động thực
tiễn của Hồ Chí Minh. Từ truyền thống đoàn kết của dân tộc, với nhãn
quan chính trị thiên tài, Hồ Chí Minh đã khơi dậy và phát huy cao độ
sức mạnh của cả dân tộc, từ lực lượng công – nông – trí thức cách
mạng, đến các tầng lớp trung gian, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam, để tạo thành lực lượng tổng hợp trong cuộc kháng chiến


10


tưởng của Người. Hồ Chí Minh luôn coi đoàn kết các dân tộc trong


11

cộng đồng dân tộc Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với
cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xây dựng khối đoàn kết các
dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam dựa trên những giá trị
truyền thống dân tộc và văn hóa nhân loại, đặc biệt là những nguyên
lý của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là truyền thống yêu nước, nhân văn
được hun đúc qua lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm, đấu
tranh không mệt mỏi khắc phục thiên tai, chống giặc ngoại xâm của
một quốc gia nhỏ bé, đa dân tộc, đa tôn giáo.
Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc
trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, Đảng ta xác định: Đoàn kết các
dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách
mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa... Đó là quan
điểm đúng đắn, không chỉ là định hướng cho một giai đoạn cách
mạng mà đồng thời làm cho quan điểm đoàn kết các dân tộc trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh trở thành sức mạnh
vật chất to lớn cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


12

CHƯƠNG 2

13

qua vai trò Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Trong lãnh đạo triển
khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước của huyện, các cấp chính quyền từ huyện đến cơ sở thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; chủ
động xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể và phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng đẩy mạnh cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp,
nông thôn theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với tình hình
đặc điểm của mỗi xã khác nhau.
Thứ hai, Thực hiện sự mong mỏi của Người, Đảng và Nhà nước
ta đã quan tâm, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân
tộc thiểu số và miền núi, nhằm từng bước đưa miền núi tiến kịp miền
xuôi, xóa bỏ dần sự chênh lệnh giữa các dân tộc, các vùng miền hướng
tới mục tiêu đoàn kết, bình đẳng dân tộc, thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội. Các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về
phát triển kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi được
Huyện ủy và Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân An Lão triển khai
kịp thời, đúng đối tượng và phát huy được hiệu quả, góp phần phát triển
kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, Thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ huyện An
Lão, trong những năm qua được sự chỉ đạo, giúp đỡ của các ngành, các
cấp, Ủy ban nhân dân huyện An Lão đã xây dựng thành những kế hoạch
cụ thể để chủ động triển khai thực hiện công tác bảo tồn, phát huy bản
sắc văn hóa các dân tộc, giá trị các di tích lịch sử và phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Huyện đã chú trọng giữ gìn và phát huy những giá trị truyền
thống mang đậm bản sắc của các dân tộc thiểu số, tiêu biểu là kho tàng
văn hóa đồng bào H’rê, Bana ở miền núi và khu vực đồng bào Kinh.

hiện tượng xói mòn bởi sự lan truyền của văn hóa hiện đại đã và đang
xâm nhập vào đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đặc biệt, thanh
niên hiểu biết về phong tục, tập quán, văn hóa của dân tộc mình chưa
nhiều làm giảm lòng tự hào dân tộc.


15

2.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN
KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO
Thứ nhất, chú trọng xây dựng củng cố hệ thống chính trị và
công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở miền núi
Đảng và Nhà nước cần quan tâm tăng cường xây dựng khối
đại đoàn kết các dân tộc thiểu số
Đảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện cần phải xây dựng và quán
triệt các chính sách dân tộc một cách sâu rộng để tăng cường, củng cố
khối đoàn kết đến các dân tộc thiểu số. Nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của hệ thống chính trị về vị trí, nhiệm vụ của công tác xây
dựng khối đoàn kết các dân tộc thiểu số. Xem việc quán triệt và
thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường
xuyên và quan trọng của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền,
Mặt trận, đoàn thể.
Phát huy vai trò của cán bộ dân tộc thiểu số
Một trong những chính sách quan trọng giúp cho xây dựng
khối đoàn kết các dân tộc thiểu số của huyện An Lão là chú trọng
phát huy vai trò của cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở miền
núi. Đây là khâu rất quan trọng quá trình xây dựng khối đoàn kết
các dân tộc.
Tăng cường sức mạnh của các tổ chức đoàn thể và người có uy
tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, xây dựng mạng
lưới y tế cơ sở, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các
dân tộc.
Một là, cần khắc phục những mặc cảm, tự ti với vốn văn hóa,
trình độ xã hội của dân tộc mình địa phương mình, dẫn đến tâm lý
hướng ngoại. Một số người chỉ coi những giá trị văn hóa, nếp sống và tổ
chức xã hội của người Kinh, người phương Tây mới coi là hiện đại, tiên
tiến. Để xóa dần khoảng cách giữa các dân tộc giúp phát huy sức mạnh
khối đoàn kết các dân tộc trên địa bàn huyện An Lão.
Hai là, cần được thông tin về thời sự, chính sách, những thành
tựu văn hóa tiên tiến đến đồng bào các dân tộc thiểu số. Trên địa bàn
huyện, chủ yếu là đồng bào dân tộc H’rê và Ba na vì vậy cần bảo tồn và
phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc sử dụng
ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào


17

dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thông thạo tiếng nói, chữ
viết của dân tộc mình.
Ba là, việc dạy và tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu
số trong nhà trường phải thực hiện tốt theo quy định của Chính phủ.
Phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu ở các xã và
địa phương. Thực hiện các chính sách để bảo tồn và phát huy các di sản
văn hóa, lập quy hoạch dự án, dự án tôn tạo, bảo tồn những di tích lịch
sử - văn hóa đặc biệt quan trọng. Có thể nói đến như Di tích vụ thảm sát
làng Đá Bàn, Di tích trận chiến đấu chống càn ở gộp đá An Quang gắn
với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đinh Ruối.
Bốn là, gìn giữ và phát huy các di sản phi vật thể của đồng bào
H’rê và Ba na như hát Mon, Ta lêu, các bài chòi, các phong tục tập

đến việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế. Quan điểm đoàn kết các dân
tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh là cơ sở lý
luận, là phương châm để Đảng bộ huyện An Lão tiếp tục phát huy
thành quả, khắc phục hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng khối
đoàn kết các dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu cải thiện và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần đem lại “cơm ăn, áo mặc, học hành”
cho đồng bào dân tộc trên toàn huyện.
Khóa luận này, đã nêu một số giải pháp, hy vọng sẽ đóng góp
được phần nào trong việc xây dựng khối đoàn kết các dân tộc thiểu số ở
An Lão, góp phần xây dựng huyện An Lão ổn định và phát triển toàn
diện, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu chung “Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ công bằng, văn minh” mà Đảng đã đề ra ./.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status