Mẫu hình nhà Nho hành đạo Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học dân tộc, chủ đề yêu nước là chủ đề lớn, xuyên suốt
hàng nghìn năm, từ văn học dân gian sang văn học thành văn. Với văn học thành
văn thì lịch sử của nó có độ dài hàng nghìn năm. Với các thời kỳ khác nhau của lịch
sử, cảm hứng yêu nước được biểu hiện ở nhiều góc độ riêng biệt. Do những đặc thù
và phẩm chất đó nên việc nhận diện và khảo sát nó luôn là cần thiết và cũng chưa
bao giờ là kết thúc.
Nhà Nho hành đạo nửa cuối thế kỷ XIX là loại hình nhà Nho tiêu biểu của
văn học yêu nước cuối mùa trung đại. Đặc biệt, ở giai đoạn giao thời, loại hình nhà
Nho này có sự chuyển biến về mô hình nhân cách và phương thức biểu hiện nhân
cách trong văn chương. Sự thay đổi này đánh dấu những rạn vỡ cơ bản của ý thức
hệ tư tưởng chính thống cùng với sự lụi tàn của giai cấp phong kiến. Thời kì này nổi
bật lên một số tác giả với nhiều đóng góp đáng kể cho văn hóa dân tộc trong lĩnh
vực thơ văn như Nguyễn Đình Chiểu với hai truyện thơ nôm nổi tiếng là Lục Vân
Tiên và Dương Từ - Hà Mậu, ngoài ra còn nhiều bài thơ và văn tế khác thể hiện tư
tưởng nhân nghĩa, yêu nước yêu dân của ông; thơ văn Nguyễn Thông thể hiện tấm
lòng ưu ái đối với những người xấu số, sự quan tâm đến nghề làm ruộng và gắn bó
với đời sống của nông dân. Ông ca ngợi và xót thương những người hy sinh trong
cuộc chiến đấu chống Pháp, mà nổi bật và bao trùm là tấm lòng yêu mến quê hương
mà ông phải lìa bỏ vì không chịu sống trên đất kẻ thù đã chiếm đóng như trong Việt
sử thông giám cương mục khảo lược, Ngọa du sào tập… ngoài ra Phan Văn Trị,
Đào Tấn cũng đều là những nhà Nho yêu nước có đóng góp rất nhiều cho thơ văn
thời bấy giờ.
Kiểu tác giả nhà Nho hành đạo ở giai đoạn chuyển tiếp này biểu hiện độc
đáo trong văn chương. Đến nay, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu và khai thác
trên bình diện rộng, vì vậy cần có những công trình nghiên cứu, khảo sát, xác định
một cách cụ thể, hệ thống trên nhiều phương diện. Đặc biệt, nghiên cứu về mẫu
hình nhà Nho hành đạo nửa cuối thế kỉ XIX sẽ đóng góp rất nhiều cho việc nghiên

dễ thấy cái nhìn của ông đối với một nhà Nho hành đạo như Nguyễn Đình Chiểu và
thơ văn của ông.
-“Vấn đề xuất xử của nhà Nho và sự phát triển trong thơ tam nguyên yên
đổ”. Bàn về vấn đề xuất xử trong thơ Nguyễn Khuyến, “Xuất xử - ra làm quan hay
không ra làm quan – vốn là vấn đề lớn thường làm các nhà Nho băn khoăn suy
nghĩ.” [4, 204].


3

Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử
cũng điểm qua việc phân loại tác giả nhà Nho. Ông khẳng định nhà Nho sự tồn tại
của ba loại hình nhà Nho trong lịch sử văn học: “Việc phân chia nhà Nho thành các
kiểu nhà Nho hành đạo, nhà Nho ẩn dật, nhà Nho tài tử có ý nghĩa để nghiên cứu
loại hình tác giả văn học trung đại. Đặc biệt nhà Nho tài tử là một hiện tượng độc
đáo.” [8, 52]
Trong quá trình kế thừa và tiếp nối, phát triển các kiểu loại tác gia ở chặng
đường văn học thế kỷ XVIII – XIX, có thể nói trong ba loại hình nhà Nho thì nhà
Nho hành đạo có sức hấp dẫn riêng. Với công trình Loại hình học tác giả văn học:
Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam [12], Trần Ngọc Vương đã tiến sâu vào lãnh
địa khảo sát loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam. Thông qua việc xác lập
các phương diện cơ bản của loại hình nhà Nho tài tử, ông đã ít nhiều bàn đến những
tố chất của nhà Nho hành đạo trong tương quan với nhà Nho tài tử. Tuy nhiên, trong
công trình nghiên cứu ấy vẫn còn một số vấn đề còn bỏ ngỏ làm cơ sở đề các công
trình tiếp sau phát triển theo hướng nghiên cứu loại hình tác giả nhà Nho, đặc biệt là
nhà Nho hành đạo.
Năm 2014, Nguyễn Đình Thu, trong tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, tr.
92-100. Với bài viết Kiểu tác giả nhà Nho hành đạo Đào Tấn. Trên cơ sở những
vấn đề xoay quanh cuộc đời, sự hình thành hệ tư tưởng của Đào Tấn, tác giả đã đi
sâu hơn về đạo đức, phẩm chất của nhà Nho hành đạo Đào Tấn, một nhà Nho cuối

Khóa luận sử dụng phương pháp hệ thống trong quá trình nghiên cứu để tạo
sự logic, chặc chẽ, khoa học.
4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Để thực hiện đề tài này cùng với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu
trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích các vấn đề về tư tưởng, ngôn
ngữ, giọng điệu của các nhà Nho sử dụng trong các tác phẩm của mình. Từ đó khái
quát, tổng hợp những đặc điểm chung của họ để đưa ra mẫu hình chung của các nhà
Nho hành đạo ở nửa cuối thế kỉ XIX .
Trên cơ sở đã tìm đọc, sưu tầm các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài và
qua quá trình tập trung nghiên cứu, khảo sát tổng thể vấn đề để lần lượt đi vào giải
quyết từng vấn đề đã đặt ra ở mục đích nghiên cứu.
5. Đóng góp của khóa luận
Đề tài nghiên cứu này góp thêm tiếng nói trong việc nghiên cứu mẫu hình
nhà Nho hành đạo trong lịch sử văn học dân tộc. Ở nửa cuối thế kỷ XIX, nhà Nho
hành đạo mang một dáng dấp riêng so với các nhà Nho hành đạo ở các giai đoạn


5

trước. Đề tài đi sâu chỉ ra những khác biệt này để thấy những đóng góp tích cực của
họ đối với tiến trình văn học dân tộc.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa
luận được kết cấu thành 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề tổng quan của đề tài
Chương 2: Mẫu hình nhà Nho hành đạo trong văn học Việt Nam nửa cuối thế
kỉ XIX - nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Mẫu hình nhà Nho hành đạo trong văn học Việt Nam nửa cuối thế
kỉ XIX - nhìn từ phương diện hình thức nghệ thuật


học, phê bình văn học. Tuy nhiên đến khoảng những năm 70 của thế kỷ 20 đã xuất
hiện bộ môn “Phương pháp luận nghiên cứu văn học”. Theo đó nghiên cứu văn học
theo phương pháp loại hình đã được giới nghiên cứu thế giới đề xuất và ứng dụng.
Ở nước ta, phương pháp nghiên cứu này cũng được nhiều học giả vận dụng và đạt


7

được thành tựu đáng kể như Trương Tửu với Nhà Nho tài tử Nguyễn Công Trứ,
Trần Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Trần Ngọc
Vương với Loại hình học tác giả văn học nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam…
Như vậy nghiên cứu văn học theo loại hình là tiếp cận, giải thích, đánh giá,
tìm hiểu về một loạt các sự vật, hiện tượng có bản chất, kiểu mẫu giống nhau từ đó
rút ra các đặc điểm riêng của loại hình văn học đó.
1.1.2. Khuynh hướng nghiên cứu loại hình tác giả văn học
Tác giả văn học là người làm ra tác phẩm nghệ thuật ngôn từ như các bài thơ,
bài báo, cuốn sách, vở kịch, các tác phẩm văn học... Tên tác giả được nêu cùng tên
tác phẩm, họ là chủ thể của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, là phạm trù khó xác định
đối với người nghiên cứu. Có thể hình dung hai bình diện giới hạn của phạm trù này.
Ở bình diện xã hội học lịch sử, tác giả là một con người xã hội, thuộc một giới, một
nhóm xã hội nhất định, có vai trò văn hóa xã hội nhất định trong các giai đoạn lịch
sử. Ở bình diện thẩm mỹ - nghệ thuật tác giả là những dấu ấn văn hóa nhân cách hiện
diện ở sáng tác. Khảo sát tác giả ở bình diện kể trước là một đề tài lớn của sử học.
Khảo sát tác giả ở bình diện kể sau là đề tài của nghiên cứu văn học, nó đòi hỏi tập
trung chú ý vào tài liệu sáng tác hơn là phương diện con người ngoài sáng tác.
Khoa học nghiên cứu loại hình các vấn đề của văn học đã phát triển rất mạnh
mẽ và có được những thành tựu xuất sắc trên thế giới, đặc biệt là ở Liên Xô trước
đây và Liên bang Nga hiện nay. Trong đó, hướng nghiên cứu loại hình tác giả đã
cho thấy ưu thế rất lớn của nó trong việc khám phá các giá trị văn học, nhất là việc
khám phá loại hình tác giả thời trung đại nói chung, thời trung đại phương Đông nói

những nét chung còn có những nét riêng gắn liền với đặc điểm tác giả. Từ kiểu tác
giả nho gia, các nhà nghiên cứu đã phân chia nhà nho thành ba loại: nhà nho hành
đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử. Việc phân chia như vậy có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc nghiên cứu loại hình tác gia văn học trung đại. Đặc biệt là nhà nho
tài tử, một hiện tượng văn học độc đáo đang cần phải khám phá.
Đối với nhà nho, sau khi đỗ đạt sẽ thi hành đạo lý Nho gia. Ở đây, vấn đề xuất
và xử sẽ tương ứng với hai thái độ hành và tàng. Ở đó luôn có sự chuyển đổi, họ
không nhất định gắn cuộc đời mình vào chỉ một trong hai khả năng nói trên. Từ
đây, ta có thể khái quát hai loại hình nhà nho hành đạo và ẩn dật là hai loại hình nhà
nho chính thống và có thể luôn thay đổi cho nhau.
Thời kì văn học trung đại ở Việt Nam các tác giả nhà Nho đã chịu sự ảnh
hưởng sâu sắc của ý thức hệ Nho giáo. Trong văn học chủ yếu nổi lên ba vấn đề lớn
đó là văn học phải gắn bó với vận mệnh của đất nước và nhân dân, văn học phải là
phương tiện thể hiện chí, tâm, đạo của kẻ sĩ quân tử, đề cao hứng, thần và vẻ


9

đẹp cao, cổ, hùng, đạm, nhã, hậu. Đây là giai đoạn nở rộ các công trình sưu tập,
chỉnh lý thơ văn và các thi văn tập. Khuynh hướng nghiên cứu loại hình tác giả
cũng rẽ sang một hướng đi mới, bên cạnh những tác phẩm có lời bình ngắn đã xuất
hiện các tác phẩm nghiên cứu phê bình quy mô hơn. Với các tác giả như Trần Ngọc
Vương trong cuốn Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam xuất bản năm 1992 ; Phạm
Đan Quế với Truyện Kiều và các nhà Nho thế kỷ XIX tái bản 2001; Hoài Trân với
Cái kiêu của nhà Nho (Báo công an nhân dân) …
Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và giữ vai trò độc tôn từ thế
kỷ XV đến XIX. Hơn hết, trong một thời gian dài ở Việt Nam, Nho giáo được xem
là là ý thưc hệ chính thống, một học thuyết đề cao con người về việc học tập, giáo
dục, sùng thượng văn hiến, lễ nhạc, thơ ca, âm nhạc. Nhà nước chuyên chế phong
kiến đề cao Nho giáo và dùng Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, đồng thời

nằm trong tay người Hoa, thuốc phiện được đưa vào ào ạt và gạo bị đưa đi góp phần
đẩy nông nghiệp vào đường hẻm.
Pháp còn tiến hành đề ra các thứ thuế mới bên cạnh các loại thuế cũ, nặng
nhất là thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện… Nông nghiệp, thủ công nghiệp,
thương nghiệp đình trệ, tài chính kiệt quệ, đời sống nhân dân đói khổ, lương thực
thiếu trở thành yếu tố kích thích xã hội rối loạn. Nông dân đói kém bỏ đi, xiêu tán,
một bộ phận trở thành giặc cướp. Giặc cướp và khởi nghĩa không chỉ làm cho triều
đình và nhân dân tăng cường đối đầu, mà còn khiến nông dân không thể yên ổn làm
ăn. Hậu quả là nông nghiệp sút kém, nhân dân nổi loạn khắp nơi, mâu thuẫn xã hội
lên cao, bất ổn. Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Mục đích các chính sách trên
của thực dân Pháp là nhằm vơ vét sức người, sức của của nhân dân Đông Dương.
Thực dân Pháp phải mất gần 40 năm mới đặt được ách thống trị trên đất nước ta và
non một thế kỷ nhân dân ta phải sống dưới sự cai trị của Pháp.
Trong điều kiện xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX thì sự kiện Pháp xâm lược
Việt Nam là sự kiện quan trọng, nổi bật, chi phối các sự kiện khác và có ảnh hưởng
rất lớn đến mọi lớp người trong xã hội. Nó đã gây ra những chấn động mạnh, tạo ra
nhiều sự mâu thuẫn căng thẳng giữa các giai cấp và sự phân hóa trong tầng lớp trí
thức phong kiến sâu sắc. Dưới tác động của chính sách cai trị, chính sách kinh tế,
văn hóa, giáo dục thực dân, làm cho xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa
ngày càng sâu sắc. Đây cũng chính là cơ sở, tiền đề để tạo nên các hệ tư tưởng khác
nhau trong tầng lớp trí thức phong kiến mà cụ thể là nhà Nho
1.2.1.2 Cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống Pháp


11

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đã đứng lên cùng nhau
đấu tranh chống Pháp quyết liệt, bảo vệ đất nước. Giai cấp phong kiến lúc đầu còn
chống đối nhưng ngày càng yếu ớt và cuối cùng thì nhượng bộ, thỏa hiệp, đầu hàng
thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa


Có thể nói, đây là giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng, có nhiều hy sinh mất
mát nhưng lại vẻ vang và đáng tự hào nhất, giai đoạn khổ nhục nhưng vô cùng vĩ
đại của lịch sử dân tộc
1.2.2. Sự phân hóa tư tưởng của các tầng lớp trong xã hội
Sự kiện năm 1858 Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà –
Đà Nẵng đã đánh dấu một cột mốc hết sức quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt
Nam. Cột mốc này không chỉ kết thúc thời trung đại, mở đầu thời kì cận đại mà còn
đánh dấu một bước ngoặt của lịch sử Việt Nam. Trước những biến cố lớn lao, xã hội
có sự phân hóa tư tưởng sâu sắc giữa các tầng lớp. Mỗi lớp người trong xã hội
mang sắc thái tâm lý riêng, một thái độ chính trị riêng.
Trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, giai cấp thống trị cũ của xã hội, thái độ
của họ không giống nhau nhưng tâm lý chủ yếu của tầng lớp này là đầu hàng, thỏa
hiệp. Triều đình Huế nhu nhược, đánh giặc mà không hề biết tình hình của giặc nên
dẫn đến lúng túng, một phần do có sẵn mâu thuẫn với nhân dân nên chỉ chống Pháp
một cách yếu ớt rồi tìm cách thỏa hiệp, cắt đất dâng cho giặc rồi từng bước đầu
hàng, bọn Việt gian nhân đó càng tung hoành. Văn thơ yêu nước chống Pháp lúc
này đã vạch trần bộ mặt của bọn Việt gian bán nước , những luận điệu hèn nhát của
triều đình, bọn vua quan vô trách nhiệm. Nguyễn Đình Chiểu nhiều lần phản ánh
điều này trong tác phẩm của mình:
“Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này”
(Chạy giặc - Nguyễn Đình Chiểu)
Bài thơ là lời trách cứ, đòi hỏi đối với vua quan triều đình. Hay là tỏ nỗi căm
giận đối với những viên quan đã phản bội, chạy trốn, đầu hàng giặc:
“Khi bình làm hại dân ta,
Túi tham vơ nhặt chẳng tha miếng gì.
Đến khi hoạn nạn gian nguy,
Mắt trông ngơ ngác, chơn đi gập ghềnh...”
(Hà Thành chính khí ca – Ba Giai)

thực dân Pháp đã khiến cho người trí thức Đại Nam đứng trước một “ngã tư đường”
với nhiều lựa chọn. Cũng một con người chúng ta có thể thấy họ có nhiều thái độ
khác nhau. Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn muốn đánh Pháp nhưng không chịu
canh tân đổi mới. Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ muốn hòa hoãn với Pháp
để có thời gian, sự ổn định để đổi mới đất nước. Điều này khiến việc phân loại trí
thức Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX gặp nhiều khó khăn.


14

Nhìn chung, giai đoạn này tầng lớp trí thức Việt Nam bị phân hóa sâu sắc.
Từ phương diện đối phó với thực dân Pháp các nhà Nho có sự băn khoăn giữa
“xuất” hay “xử”, nghĩa là “xử thế” cứu đời hay “xuất thế” ẩn dật sống đời thanh
thản, mà đại diện cho khuynh hướng “xuất” này là Nguyễn Thông, Phan Văn Trị,
đặc biệt là Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Chiểu có thời gian theo nghĩa quân
Trương Định nhưng sau do mù lòa nên về Bến Tre sinh sống. Dù cuộc sống nghèo
khó, bệnh tật nhưng ông kiên quyết giữ đạo Thánh hiền, không nhận lấy sự hỗ trợ
nào từ chính quyền Pháp. Đối lập với khuynh hướng “xuất thế”, bất hợp tác với
Pháp là khuynh hướng hợp tác với Pháp. Tuy nhiên chính trong khuynh hướng này
lại có những nhóm khác nhau: nhóm muốn dung hòa văn minh Đông - Tây để tiến
bộ và nhóm thực tâm làm tay sai của Pháp. Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của,
Trương Minh Kí là những đại diện cho khuynh hướng muốn dung hòa Đông-Tây.
Sĩ Tải tiên sinh Trương Vĩnh Ký là một học giả lớn, một trong thập bát văn hào thế
kỷ XVIII của thế giới. Sở dĩ ông muốn hợp tác với Pháp là vì ông nhận ra cái thế
không thắng được họ thì sống chung với họ, tay nắm tay, dựa vào sự dìu dắt của họ
cho đến lúc đủ sức sánh vai cùng họ hòa nhập vào thế giới, cả cuộc đời ông hoạt
động vì học thuật, mong muốn xóa bỏ khoảng cách giữa hai nền văn minh PhápViệt mặc cho miệng lưỡi thế gian đàm tiếu. Nguyễn Đình Chiểu và Trương Vĩnh Kí
là hai con người cùng thế hệ, cùng một tâm tư (với dân tộc) nhưng lại đại diện cho
hai con đường, hai khuynh hướng và đứng ở hai vị thế khác nhau. Trong khi đó,
một bộ phận khác lại sẵn sàng làm tay sai cho Pháp như trường hợp của Tôn Thọ

đồn điền. Tầng lớp tư sản đã xuất hiện, có nguồn gốc từ các nhà thầu khoán, chủ xí
nghiệp, xưởng thủ công, chủ hãng buôn… bị chính quyền thực dân kìm hãm, tư bản
Pháp chèn ép. Giai cấp tư sản mới hình thành nên chưa đủ mạnh để chống lại tư sản
chính quốc, cũng chưa đủ sức để vươn cao ngọn cờ yêu nước. Tiểu tư sản thành thị,
bao gồm chủ các xưởng thủ công nhỏ, cơ sở buôn bán nhỏ, viên chức cấp thấp và
những người làm nghề tự do. Công nhân phần lớn xuất thân từ nông dân, làm việc
trong các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, lương thấp nên đời sống khố cực,
có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống giới chủ nhằm cải thiện đời sống. Giai cấp
vô sản hầu hết xuất thân từ giai cấp nông dân, giai cấp này lớn mạnh nhanh chóng
nhất là sau chiến tranh thế giới thứ I.
Như vậy trong xã hội Việt Nam lúc này có sự phân hóa giai cấp và phân hóa
tư tưởng rõ nét. Xã hội xuất hiện tầng lớp mới là tư sản và tiểu tư sản, đặc biệt là sự
phân hóa của tầng lớp Nho sĩ thành ba loại hình cơ bản nhà Nho hành đạo, nhà Nho
ẩn dật và nhà Nho tài tử.


16

1.2.3. Tình hình văn hóa, giáo dục
Triều đình tôn sùng Nho học, xem Nho giáo là quốc giáo, lợi dụng Nho giáo
là công cụ để thống trị xã hội. Các nhà tư tưởng Khổng, Mạnh, Trình…được xem là
những vị thánh. Và đó cũng là những vị thánh trong lòng các nhà Nho hành đạo thời
bấy giờ. Hệ thống tư tưởng Khổng - Mạnh thể hiện trên bốn mặt là triết học, đạo
đức, chính trị và giáo dục. Về triết học, Khổng Tử và Mạnh Tử ít quan tâm tới
nguồn gốc vũ trụ và đều tin vào thiên mệnh. Về đạo đức, Khổng Tử hết sức coi
trọng đạo đức vì đó là những chuẩn mực để duy trì trật tự xã hội theo đường lối đức
trị mà chính ông đề ra. Nội dung quan điểm đạo đức của Khổng Tử bao gồm nhiều
mặt như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng… Về chính trị, Khổng Tử chủ trương đường
lối trị nước phải dựa vào đạo đức, tức là đức trị. Về giáo dục chú trọng phương
châm giáo dục là học lễ trước học văn sau, học đi đôi với hành, học để vận dụng

trọng, thực dân Pháp xâm chiếm được nước ta, biến nước ta thành thuộc địa, lúc này
vấn đề giết giặc cứu nước trở thành nghĩa vụ thiêng liêng nhất, tất cả dồn sức vào
công cuộc kháng chiến. Hoàng Hữu Yên trong Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 6)
đã xác định văn học giai đoạn này có sự biến đổi “ Xu thế phát triển của văn học
Trung đại phải chuyển hướng. Mục tiêu văn học là chống xâm lăng, bảo vệ Tổ
Quốc. Đối tượng đấu tranh của văn học là bọn đế quốc thực dân cướp nước và bọn
phong kiến tay sai. Do đó văn học thế kỷ XIX mang tính chất phức tạp và đa
dạng”[13;14]. Thơ văn lúc này cũng có nhiệm vụ hết sức quan trọng, ngòi bút trở
thành thứ vũ khí sắc bén chống lại kẻ thù, cổ vũ cho tinh thần kháng chiến của dân
tộc, không những thế mà ngôn ngữ, thể loại cũng vô cùng phong phú “Thơ văn yêu
nước tựa như nước tuôn ra từ những dòng suối nhỏ hợp lưu vào sông lớn, hàm
chứa đủ các lối văn, các thể loại, từ dân gian đến bác học, vừa bằng chữ Hán, vừa
bằng quốc âm hết sức đa dạng và phong phú” [13;28]
Lực lượng sáng tác cũng rất đông đảo, từ các trí thức ở ẩn đến tầng lớp Nho
gia hành đạo, từ dân thường đến nghĩa quân, sĩ phu yêu nước, chí sĩ, thủ lĩnh …và
nhiều tác phẩm vô danh không có tên tác giả. Tất cả đều nêu cao tinh thần dân tộc,
tố cáo tội ác của bọn cướp nước, thà hy sinh chứ không khuất phục kẻ thù, không
chịu làm tay sai, làm nô lệ cho thực dân Pháp.
Kho tàng thơ văn yêu nước tập hợp hàng trăm áng thơ văn gồm nhiều thể
loại, như Ngọc Đường thi văn tập của Nguyễn Xuân Ôn, Ngư Phong thi tập của
Nguyễn Quang Bích, Ngọa du sào thi văn tập của Nguyễn Thông, không thể không
kể đến là hai tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp và Dương Từ - Hà Mậu của


18

Nguyễn Đình Chiểu ra đời sau khi Nam Kỳ thất thủ, thơ văn trào phúng của
Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…
Hoàng Hữu Yên cũng nhấn mạnh vai trò của thơ văn trong cuộc kháng chiến
“Dòng thơ văn yêu nước trở thành chủ lưu rất đa dạng và dồi dào, là nguồn sức

19

phạm trù đạo đức của Nho giáo, như trung, hiếu, nhân, nghĩa... đã được vận dụng
vào lĩnh vực chính trị và ngày càng trở thành chuẩn mực đạo đức cho hành vi của
con người trong xã hội. Như vậy nhà Nho hành đạo trong văn học trung đại Việt
Nam đã sớm được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV
Giai đoạn này ta giành được nhiều thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc
ngoại xâm từ phương Bắc. Các nhà Nho yêu nước dám dũng cảm đứng ra chống lại
kẻ thù đã xuất hiện, nhà Nho hành đạo giai đoạn này mang những đặc điểm chung
thể hiện trong thơ văn đó là hào khí Đông A, lòng yêu nước nồng nàn, mang tư
tưởng lạc quan tích cực, tinh thần quật khởi chống quân xâm lược, tiêu biểu như
Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Các nhà
Nho hành đạo giai đoạn này đã sớm hình thành trong mình một tình yêu đất nước
mãnh liệt, đến nỗi họ ngày đêm lo nghĩ cho đất nước, căm thù giặc sâu sắc, lúc nào
cũng canh cánh trong lòng một nỗi thẹn với đời, với chính mình vì cái nợ công
danh, thù nhà nợ nước chưa trả. Tinh thần này không chỉ tràn đầy trong những văn
kiện chính trị quan trọng mà còn trong những tác phẩm văn học tiêu biểu của các
nhà Nho yêu nước, như Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Tỏ lòng của
Phạm Ngũ Lão và Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn… Cách
nghĩ, cách sống của họ rất tích cực, họ muốn sống sao cho xứng đáng với dân tộc
anh hùng của mình.
Giai đoạn 2: Từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII
Vương triều Lê lựa chọn hệ tư tưởng Nho gia làm hệ tư tưởng chính thống
góp phần đưa văn học phát triển lên một bước mới, các nhà Nho hành đạo thời bấy
giờ cũng mang tư tưởng yêu nước nhưng đồng thời với nó là một nỗi lo cho cuộc
sống nhân dân, muốn giết trừ bạo ngược cho dân yên ổn làm ăn, đời sống được no
ấm khi triều đình nhà Lê suy thoái không còn quan tâm đến cuộc sống của dân nữa.
Họ đem hết nỗi lòng của mình mà tâm sự qua những áng thơ văn, đem hết tài năng
của mình ra mà phục vụ cho đất nước, gánh trên vai mình một trách nhiệm nặng nề

của thực dân Pháp nhân dân ta đã nhiều lần đứng lên chống Pháp quyết liệt nhưng
đều không thành công, tuy nhiên điều đó ít nhiều đã khẳng định được lòng yêu nước
nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc. Xã hội đã có sự phân hóa trong tầng lớp trí thức
đặc biệt là nhà Nho, xuất hiện thêm tầng lớp tư sản và tiểu tư sản. Tạo tiền đề cho
sự thay đổi trong hệ ý thức hệ tư tưởng của nhà Nho sau này và sự ra đời của một
loạt những áng văn thơ đầy tính chất đạo lí.

Chương 2
MẪU HÌNH NHÀ NHO HÀNH ĐẠO TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX – NHÌN TỪ


21

PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1. Các dạng thức nhà Nho hành đạo trong văn học Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XIX
2.1.1. Các nhà Nho chiến sĩ vua chúa, quý tộc cung đình
Nửa cuối thế kỉ XIX, vận mệnh dân tộc ta đứng trước một thử thách hiểm
nghèo, thực dân Pháp tiến công xâm lược nước ta. Vua chúa triều Nguyễn bấy giờ
hầu hết là nhu nhược, chống đỡ một cách yếu ớt rồi đầu hàng giặc, làm cho nhân
dân rơi vào điêu linh. Trước thực trạng mới của đất nước, bên cạnh những ông vua
hèn nhát thì vẫn có những vị vua tốt, là những nhà vua và đồng thời cũng là những
người chiến sĩ Nho giáo đi tiên phong trong phong trào chống giặc cứu nước. Họ đã
sớm hình thành tư tưởng yêu nước, chống giặc ngoại xâm.
Mặc dù lên ngôi khi mới 13 tuổi nhưng vua Hàm Nghi đã thể hiện rõ tinh
thần yêu nước của mình khi kiên quyết không hợp tác với thực dân Pháp, nhà vua
cho rằng sống kham khổ thế nào ông cũng chịu được, đi đến đâu ông cũng đi, chỉ
cần đuổi được thực dân Pháp ra khỏi đất nước. Trong những năm tháng sống lưu
vong, vua Hàm Nghi vẫn luôn thể hiện tinh thần dân tộc của mình, từ những điều

Tân, cha của ông là vua Thành Thái cũng là một nhà Nho yêu nước, sớm được nung
đúc lòng yêu nước nên sớm có tinh thần chống thực dân Pháp giành độc lập, vua có
thầy dạy chữ Hán tên là Mai Khắc Đôn, chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần yêu nước
sâu đậm của cụ, một lòng một dạ đặt niềm tin vào cụ, nhà vua đã có một thời gian
dài liên lạc với hội Việt Nam Quang Phục hội. Ngày 05/05/1915 vua Duy Tân đã tự
tay viết 1 bức chiếu khởi nghĩa để kêu gọi nhân dân nổi dậy khởi nghĩa, thể hiện
tinh thần yêu nước của mình, trong bức chiếu này ông đã phong những vị tướng để
lãnh đạo các cánh quân để khi khởi nghĩa sẽ thực hiện theo chỉ đạo của ông. Có thể
nói với việc tự tay mình viết bản chiếu kêu gọi khởi nghĩa vua Duy Tân đã thể hiện
khí phách can trường chấp nhận rời bỏ ngôi báu để đứng vào hàng ngủ những
người chiến đấu cho độc lập, tự do.
Trong suốt thời gian kháng chiến, họ vừa lãnh đạo cuộc chiến vừa sáng tác
thơ văn. Nội dung thơ văn chủ yếu nói về lòng quyết tâm chiến thắng kẻ thù, căm
thù giặc sâu sắc, mong ước một ngày đất nước độc lập:
“Ôi việc trên đời nghĩ cũng hay,
Sơn hà xã tắc nắm trong tay
Hai hàng mũ áo mong mong trước
Bốn phía cày bừa nhớ nhớ nay
Tôn tổ vun trồng đà có tớ,


23

Đất trời ngang dọc ngẫm từ đây
Xoay vần con tạo xem chăng tá?
Quét sạch tanh hôi có mặt này ”
(Bài thơ nằm trong tập “Ngự bút tự trào quốc âm nhị thư ban Bắc kỳ chư thứ” Hàm Nghi)
Đa phần các hoàng đế nước Việt xưa giỏi chữ Hán, biết thơ văn. Triều Lý,
Trần, Lê, Nguyễn đời nào cũng có các tác phẩm ngự chế quý giá. Nhưng tất cả các
tác phẩm ấy đều nằm trong quỹ đạo Nho giáo, dùng chữ Hán và chữ Nôm để diễn

Đồng thời thơ ca còn thể hiện tấm lòng thương tiếc, sự ngợi ca đối với người
anh hùng chiến sĩ có tài đã hy sinh vì đất nước:
“Trí mưu đầy đất chôn vùi
Ba quân sùi sụt khóc người cựu ân
Nhận dấu áo mà chôn tướng lĩnh
Thịt xương tan khí chính còn đây”
(Điếu Nguyễn Duy – Nguyễn Thông)
Hay
“Từ mười năm trước đã từng biết ông là bậc hào kiệt
Điều mà bình sinh ông tự hẹn với mình ấy là khí tiết
Theo tôi, đem hết sức ra rong ruổi đánh giặc ở vùng Bắc Giang
Tiếng tăm dũng cảm của ông hơn hết các người cùng hàng
Rất mong ông lập được nhiều công lạ để đền ơn nước
Ngờ đâu giữa lúc này ông đã thành người trung liệt
Như ông coi cái chết nhẹ như đi chơi”
(Vãn Nguyễn Cao – Tôn Thất Thuyết)
Những hoạt động yêu nước của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Xuân Ôn,
Nguyễn Thông cùng các vị quan yêu nước khác gặp nhiều tổn thất, nhưng ít nhiều
đã làm cho thực dân Pháp lúc ấy lao đao. Những đóng góp của các ông trong những
năm cuối thế kỷ XIX càng khẳng định lý tưởng và con đường mà họ chọn là đúng
đắn, phù hợp với quy luật lịch sử, họ là những nhà Nho chiến sĩ dũng cảm, là biểu
tượng của lòng yêu nước, của ý chí kiên cường độc lập tự chủ, là tấm gương sáng
ngời, xứng đáng là tấm gương cho thế hệ sau noi theo.
2.1.3. Các nhà Nho chiến sĩ đại diện cho nhân dân
Như ta đã biết, dưới triều đại phong kiến nông dân là lực lượng sản xuất
chính, là tầng lớp chịu nhiều cực khổ và bất công nhất trong xã hội, đời sống của họ
phụ thuộc vào ruộng đất, nhưng đa số ruộng đất nằm trong tay địa chủ phong kiến.
Họ phải nhận ruộng đất của địa chủ để cày cấy, và phải nộp tô, thuế hết sức nặng
nề, ngoài ra họ còn phải đi phu, lao dịch rất khổ cực. Vào nửa cuối thế kỉ XIX mâu
thuẫn trong xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, kẻ thù khủng bố liên tục, những cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status