ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
NGUYỄN LẬP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG MA TÚY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Cử nhân Tâm lý học
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. NGUYỄN THỊ KIM XUÂN
Đà Nẵng, 06/ 2010
1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu………………………………………………………...........1
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………........1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………..2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu…………………………........2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………..............3
5. Giả thuyết khoa học…………………………………………........3
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………........3
3.2.2. Thái độ biểu hiện qua mặt tình cảm của TN đối với công
tác PCMT…………………………………………………………………63
3.2.3.Thái độ biểu hiện qua hành vi của TN đối với công tác
PCMT……………………………………………………………………..66
Kết luận chương 3………………………………………………………...72
Phần: Kết luận và kiến nghị…………………………………………….73
1. Kết luận…………………………………………………………73
2. Kiến nghị………………………………………………………..74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu trong
luận văn này là trung thực. Những kết luận trong luận văn chưa từng được công bố.
Tác giả
Nguyễn Lập Trường
4
LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng,
Thầy cô trong khoa Tâm lý – Giáo dục đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Nhận thức đầy đủ tính chất nghiêm trọng và cấp bách của vấn đề ma
túy, Bộ Chính trị, Chính phủ, mà trực tiếp là Ủy ban quốc gia phòng, chống
AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã đề ra nhiều biện pháp kiên
quyết, đồng bộ nhằm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời
sống xã hội.
TN là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng
quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh
vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ, sức khỏe và
sáng tạo. TN là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí truệ, luôn
năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình. Vị trí của TN là lực lượng
xung kích cách mạng; công tác TN là vấn đề sông còn của dân tộc. Và trong
6
công tác PCMT TN cũng là lực lượng xung kích. Tham gia tích cực vào công
tác PCMT TN sẽ có những kiến thức, sự hiểu biết về tác hại của ma túy, giáo
dục họ những kĩ năng sống để họ tự ra quyết định cho chính bản thân mình về
việc phòng và chống ma túy có hữu hiệu. Đồng thời họ cũng góp phần đẩy lùi
tệ nạn ma túy. Nhưng trong thực tế nhiều TN chưa tích cực tham gia công tác
PCMT. Hơn nữa, vấn đề thái độ của TN đối với công tác PCMT chưa được
nghiên cứu nhiều. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu thái độ của thanh niên
quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đối với công tác phòng, chống ma túy”
để nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần định hướng thái độ
đúng đắn, tích cực cho TN quận Liên Chiểu trong công tác PCMT đạt hiệu
quả.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thái độ của TN quận Liên Chiểu- Tp. Đà Nẵng đối với công
tác PCMT. Từ đó đề xuất những biện pháp cần thiết góp phần xây dựng thái
độ đúng đắn, tích cực cho thanh niên đối với công tác PCMT.
6.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiển
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn trò chuyện
6.2.3. Phương pháp xử lí bằng thống kê toán học
8
PHẦN : NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA TN ĐỐI
VỚI CÔNG TÁC PCMT
1.1.Tổng quan các nghiên cứu về thái độ
1.1.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu thái độ ở phương Tây
Khi nghiên cứu lịch sử thái độ trong tâm lý học phương Tây, nhà tâm
lý học người Nga P.N. Shikhirev đã chia quá trình này thành ba thời kỳ [9].
- Thời kỳ thứ nhất: (Từ khi khái niệm về thái độ được sử dụng đầu tiên
vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai). Đây là thời kỳ phát
triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định
nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ với hành
vi.
- Thời kỳ thứ hai (Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến cuối
những năm 50): Nét đặc trưng của nghiên cứu thái độ thời kỳ này là sự hoài
nghi của thái độ trong nghiên cứu hành vi. Vì lý do chiến tranh diễn ra trên
toàn thế giới, cùng với sự bế tắc trong quá trình lý giải các nghịch lý nảy sinh
khi nghiên cứu thái độ, nên ở thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về thái
độ giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Thời kỳ thứ ba: (Từ cuối những năm 50 trở lại đây). Các nước phương
Tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh. Cùng với sự phát triển đó,
nhằm khắc phục tính đơn giản và cơ học, quan điểm trực tiếp của hành vi đã
từng đóng góp một vai trò quan trọng trong tâm lý học truyền thống và tâm lý
học hành vi. Đồng thời, Uznatze cũng đưa ra phương pháp củng cố và thay
đổi tâm thế, một phương pháp nghiên cứu tâm thế độc đáo. Tuy nhiên, khái
niệm tâm thế mà Uznatze sử dụng lại là cái vô thức để giải thích hành vi của
con người. Ông mới chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh
10
lý mà không tính đến một cách đầy đủ các hình thức hoạt động phức tạp, cao
cấp khác của con người. Ông cũng không tính đến sự tác động của các yếu tố
xã hội cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội tới việc quy
định các hành vi của con người. Nhưng có thể nhận thấy rằng với những phát
hiện mới, “thuyết tâm thế” đã đóng vai trò là phương pháp luận khoa học cho
nhiều lĩnh vực cụ thể của tâm lý học hiện đại.
- Thuyết định vị: Dựa trên “thuyết tâm thế” của Uznatze, V.A.Iadov đã
phát triển khái niệm tâm thế và đưa ra “Thuyết định vị” [theo 7], nhằm điều
chỉnh các hành vi, hoạt động xã hội của cá nhân. Iadov cho rằng con người có
một hệ thống các định vị khác nhau, rất phức tạp, và hành vi của con người bị
điều khiển bởi các tổ chức “định vị ” này. Theo Iadov, tâm thế của Uznatze
chỉ là các định vị ở bậc thấp nhất. Nó chỉ được hình thành khi có sự tiếp xúc
giữa nhu cầu sinh lý và đối tượng cần thoả mãn nhu cầu đó, đâu chỉ là “các
định vị điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trong các tình huống đơn
giản nhất”, mà phải ở bậc cao hơn các “định vị”, phức tạp hơn, được hình
thành trên cơ sở các hoạt động giao tiếp của con người trong các nhóm nhỏ.
Trên cấp bậc này là các “định vị” được hình thành trên cơ sở cũng như những
định hướng, sở thích được hình thành trong các lĩnh vực xã hội cụ thể. Còn
cấp bậc cao nhất của “định vị”, theo tác giả, tạo nên sự định hướng giá trị của
nhân cách, có tác dụng điều chỉnh hành vi và hoạt động trong những tình
phố Hồ Chí Minh” (Lê Thị Linh Trang- Luận văn thạc sĩ); “Thái độ của sinh
viên trường đại học Luật Hà Nội đối với việc bảo vệ môi trường tự nhiện”
(Chu Liên Anh- Luận văn thạc sĩ). Nhìn chung các nghiên cứu đều mang tính
thực tiển và quy mô nhỏ. Việc nghiên cứu thái độ mới chỉ bắt đầu thu hút sự
chú ý của các nhà nghiên cứu Việt Nam.
Vận dụng các thành tựu TLH trên thế giới vào thực tiển đất nước, các
nhà nghiên cứu Việt Nam đã xác định một số quan niệm cơ bản về thái độ.
13
Hiện nay, ở nước ta có rất ít công trình nghiên cứu thái độ của thanh niên đối
với hoạt động phòng chống ma túy. Trong đó có một số đề tài liên quan đến
ma túy như:
- Kết quả khảo sát 310 sinh viên trường đại học Lao động- Thương
binh- Xã hội của Tiêu Thị Minh Hương về thực trạng nhận thức và thái độ đối
với ma túy [theo 3];
- Đề tài của Ngô Minh Tuấn “Nghiên cứu một số động cơ chủ yếu của
người phạm tội mua bán các chất ma túy ở trai giam Z30- Cục V26- Bộ Công
an”;
- Công trình nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội ma túy
của trẻ vị thành niên do PGS.TS. Nguyễn Xuân Yêm chủ nhiệm;
- Nghiên cứu “Thanh niên nghiện ma tuý: nhân cách và hoàn cảnh xã
hội” của TS. Phan Thị Mai Hương (Viện tâm lý học) là một cách tiếp cận mới
về thanh niên nghiện ma tuý – cách tiếp cận từ góc độ của khoa học tâm lý.
Đề tài đã phân tích một cách khá sâu sắc những yếu tố nhân cách và những
yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hành vi nghiện ma tuý của thanh niên [13]
Mỗi đề tài nghiên cứu liên quan đến thái độ đối với ma túy, mỗi đề tài
có mục đích, đối tượng riêng.
Như vậy, thái độ được các nhà tâm lý học nghiên cứu dưới nhiều góc
người có thể đưa ra những phán đoán vô tư hoàn toàn độc lập về tính có lợi
hay bất lợi của nhiều phát biểu thái độ khác nhau, thì Sherif và Hovland
(1961) cho rằng con người thường sử dụng kinh nghiệm cá nhân của riêng
mình như một chuẩn đánh giá các phát biểu khác. Vì nếu cá nhân đó nhận
thấy rằng việc đó là có thể chấp nhận được sẽ đánh giá có lợi hơn và tích cực
hơn giống với suy nghĩ của họ so với thang điểm chung. Điều này gọi là tác
dụng đồng hóa.
15
Đôi khi phát biểu cực đoan tạo ra tác dụng mà Sherf và Hovland gọi là tác
động dội lại. Sự tương phản được hình thành do sự khác nhau giữa phát biểu
và giá trị riêng của cá nhân mạnh đến mức tạo ra sự thay đổi hoàn toàn trái
ngược với thái độ theo chủ ý. Mặc dù hầu hết những tác động dội lại là không
phổ biến, chúng thường có khuynh hướng bị những phát biểu rơi vào phạm vi
chấp nhận tác động vì chúng ta đang đồng hóa chúng dễ hơn.
- Lý thuyết thái độ theo đánh giá xã hội: Một nhóm lý thuyết khác
xem thái độ như một hình thức đánh giá xã hội, giống như cách đoán vật lý
khi chúng ta đoán kính thước hay vật gì đó trên đường cách xa bao nhiêu.
Nhưng lý thuyết này bắt nguồn từ công trình của Thurstone năm 1928, ông
cho rằng con người đánh giá một phát biểu đối với đối tượng bất lợi hay có
lợi đến mức nào, đặc biệt khi quan niệm cá nhân ảnh hưởng.
1.2.1.2. Khái niệm về thái độ.
Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng
với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái độ, thì đồng thời cũng xuất hiện
những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ.
Năm 1918 của hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki.
Hai nhà tâm lý học này cho rằng: “thái độ là định hướng chủ quan của cá
đưa ra một định nghĩa về “thái độ”, dựa trên quan niệm cho rằng nhân cách
bao gồm bảy khía cạnh tạo nên một cấu trúc độc đáo. Bảy khía cạnh đó là:
Năng lực, khí chất, giải phẫu, hình thái, nhu cầu, hứng thú và thái độ. Và ông
đã định nghĩa: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến
những hoàn cảnh xã hội” [theo 7] , không chỉ một mình Guilford, mà hầu như
tất cả các tác giả viết về tâm lý học nhân cách đều coi “thái độ” như là một
thuộc tính của nhân cách.
17
Chính V.N.Miaxisep, một nhà tâm lý học Xô Viết, đã cho rằng “Thái
độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống các hành vi của con người
…”. Còn A.Kossakowski và J.Lompcher, vào năm 1975 cũng định nghĩa:
“Thái độ là thuộc tính tâm lý, bao gồm niềm tin, lý tưởng, hứng thú, thái độ
xã hội”. Trước A.Kossakowski và J.Lompcher, vào năm 1935, H.Fillmore đã
đưa ra một định nghĩa mới về thái độ: “Thái độ là sự sẵn sằng phản ứng tích
cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay một biểu tượng trong môi trường”
[theo 7]. Fillmore còn khẳng định “thái độ là sự định hướng của cá nhân tới
các khía cạnh khác nhau của môi trường, và thái độ là một cấu trúc mang tính
động cơ”.
Năm 1971, một nhà tâm lý học người Mỹ là H.C.Triandis đã đưa một
định nghĩa khác về thái độ. Ông cho rằng : “Thái độ là những tư tưởng được
tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm . Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở
một giai cấp nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định. Thái độ của
con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng,
cũng như cách sử sự của họ đối với đối tượng đó".
R.Marten khi phân tích định nghĩa của Allport và định nghĩa của
Triandis đã đưa ra một định nghĩa: “Thái độ là xu hướng thường xuyên đối
với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ (nhận thức)
hợp tác”. Trong tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, một
số tác giả thường đề cập nhiều đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức
năng của thái độ, như Davis Myers đã coi “thái độ” là “phản ứng có thiện chí
hay không thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện
trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định.
Hay như nhà tâm lý học W.J.Mc Guire thì định nghĩa rằng: “thái độ là bất cứ
sự thể hiện nào đó về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối
19
tượng của thái độ, về bản thân, về những người khác, về đồ vật, về hành động,
sự kiện hay tư tưởng”.
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của
các nhà tâm lý học Việt Nam. Đó là quan niệm cho rằng “thái độ là một bộ
phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức” hay “thái độ,
về mặt cấu trúc, bao hàm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi .
Trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) thái độ được định nghĩa
là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một
vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên
ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào
đó” [19].
Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được viết là “Attitude” và được định
nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”.
Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh:
“tâm thế-thái độ-xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các
thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”[22]
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại
New York năm 1996 thì lại cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định bền
vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất
độ biểu hiện có thể là không giống nhau.
1.2.1.4. Cấu trúc của thái độ
Mặc dù có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về thái độ, song
các nhà TLH đều nhất trí ới cấu trúc ba thành phần của thái độ do M.Smith
đưa ra (1942) [theo 7]. Theo ông thái độ bao gồm tình cảm, nhận thức, hành
động của cá nhân đối với đối tượng.
+ Yếu tố nhận thức: Là kiến thức của cá nhân về đối tượng của thái độ,
cho dù kiến thức đó có tương ứng hay không tương ứng, tức là có đúng hay
21
không. Nhận thức là yếu tố tiền đề, đầu tiên trước một đối tượng nào đó. Con
người có thể đạt đến những mức độ nhận thức khác nhau: Mức độ thấp nhất là
nhận thức cảm tính bao gồm cam giác, tri giác; ở mức độ cao là nhận thức lý
tính bao gồm tư duy, tưởng tượng. Hai mức độ này có mối quan hệ chặt chẻ
với nhau, bổ sung nhau, chi phối lẩn nhau trong cùng một hoạt động thống
nhất của con người.
Nhận thức trong cấu trúc của thái độ thể hiện chủ yếu ở những quan
điểm, những đánh giá của chủ thể về đối tượng của thái độ. Đặc biệt, một
trong những yếu tố quan trọng nhất trong nhận thức của thái độ là quan điểm
và đánh giá về mối quan hệ mà đối tượng của thái độ có được với mục đích
quan trọng nào đó.
Nhận thức là một quá trình lĩnh hội trí thức kinh nghiệm, nhờ tri thức
có được về đối tượng mà chủ thể có cảm xúc và khả năng đánh giá đối tượng.
+ Yếu tố xúc cảm, tình cảm: Xúc cảm, tình cảm là thái độ rung cảm của
cá nhân đối với sự vật hiện tượng liên quan đến nhu cầu, cuộc sống của con
người. Thể hiện sự hài lòng, dễ chịu, thông cảm, vui sướng, mừng rỡ hoặc
khó chịu, bất bình, tức giận…tức là có cảm tình hay không có cảm tình với
đối tượng và ở sự rung động, quan tâm chú ý đến đối tượng.
là học qua phương thức hành vi hoặc phản ứng mà không cần sử dụng những
kĩ thuật giáo dục theo một phương thức nào cả.
1.2.1.4.2. Đồng nhất hóa: Là sự bắt chước một cách tự giác, có ý thức,
tức là quá trình chủ thể hất bản thân mình với cá nhân khác cảu nhóm này hay
nhóm khác dựa trên một mối quan hệ xúc cảm và đồng thời chuyển những
chuẩn mực, giá trị vào thế giới nội tâm của mình. Hay nói cách khác đó chính
là quá trình cá nhân tự đặt mình vào người khác để suy nghĩ và hành động
như người khác.
23
1.2.1.4.3. Giảng dạy: Là một cách đặc biệt của truyền đạt thông tin
nghĩa là cá nhân được người khác tác động tới thông báo truyền đạt thông tin.
1.2.1.4.4. Chỉ dẩn: Là hình thức hình thành thái độ đòi hỏi chủ thể phải
hành động tích cực theo hướng dẫn nào đó trong quá trình tiếp thu lĩnh hội tri
thức.
Các cơ chế tuy khác nhau nhưng đều ảnh hưởng tới sự hình thành, củng
cố hay thay đổi thái độ.
1.2.1.6. Chức năng của thái độ.
Tổng kết ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể thấy thái độ xã hội có
một số chức năng chủ yếu sau:
1.2.1.6.1. Chức năng thích nghi: Tùy vào những trường hợp cụ thể mà
con người thay đổi thái độ do tác động của môi trường xung quanh để phù
hợp hơn.
1.2.1.6.2. Chức năng biểu hiện giá trị: Thái độ là phương tiện giúp con
người biểu lộ cảm xúc, đánh giá, hoạt động và thể hiện giá trị nhân cách của
mình.
1.2.1.6.3. Chức năng tiết kiệm, trí lực: Cá nhân tiết kiệm trí lực, năng
lực thần kinh, cơ bắp trong hoạt động nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc.
tiêu cực. Thái độ tích cực thường có chí tiến thủ, luôn nghỉ về trách nhiệm cá
nhân mình đối với thái độ tiêu cực thì ngược lại.
- H.Fillmore: Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối
với đối tượng hay một biểu tượng trong môi trường.
- V.F.Lomop: Khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trù cơ bản của
tâm lý học đã đề cập đến thái độ chủ quan của nhân cách. Ông phân chia thái
độ thành 3 loai: tích cực, tiêu cực, trung tính.
+ Thái độ tích cực: Thái độ có chức năng định hướng, điều chỉnh hành
động cá nhân, thích nghi của cá nhân đối với điều kiện môi trường và hoạt
động.
25