MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu sở hữu vốn góp của Công ty cổ phần Logistic PHG…….Trang 22
Bảng 2.2: Bảng so sánh kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn 20132015…………………………………………………………………........…Trang 26
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động của Công ty cổ phần Logistics PHG…………...Trang 29
Bảng 2.4: Cơ cấu mặt hàng thép nhập khẩu của công ty giai đoạn 20132015……........................................................................................................Trang 35
Bảng 2.5:
Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của công ty giai đoạn 2013-
2015................................................................................................................Trang 33
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nhập khẩu thép của công ty.....Trang 36
Bảng 3.1: Một số mục tiêu chính của công ty giai đoạn 2016- 2020………Trang 58
Bảng 3.2: Dự tính lợi nhuận trong hoạt động nhập khẩu và kinh doanh thép của
công ty giai đoạn 2016- 2020……………………………………………….Trang 60
Bảng 3.3: Dự tính cơ cấu lao động của công ty giai đoạn 2016- 2020……. Trang 63
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn
2013-2015…………………………………………………………………...Trang 33
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng các ngành trong hoạt động của công ty năm 2015…..Trang 38
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện cơ cấu các hoạt động của công ty giai đoạn 20132015…………................................................................................................Trang 39
Biểu đồ 2.4: Kết quả kinh doanh thép nhập khẩu của công ty giai đoạn
2013-2015………………………………………………………………...…Trang 37
Biểu đồ 3.1. Dự đoán sự thay đổi cơ cấu thị trường nhập khẩu của công ty giai đoạn
2016- 2020......................................................................................................Trang 66
Sơ đồ 1.1: Quy trình nhập khẩu hàng hóa……………………………. …...Trang 10
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Logistics PHG………...…..Trang 28
Sơ đồ 2.2: Quy trình nhập khẩu thép tại Công ty cổ phần Logistics PHG….Trang 39
Do đó, em quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động nhập khẩu thép tại công ty cổ phần Logisitcs PHG”.
3
2.
-
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và phân tích tình hình hoạt động của công ty.
Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu thép của công ty.
Đưa ra một số biện pháp ngắn hạn và trung hạn để nâng cao hiệu quả từ hoạt động
nhập khẩu thép đến doanh thu và lợi nhuận của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động nhập khẩu thép của công ty trên
-
cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của công ty trong những năm qua.
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: hoạt động nhập khẩu thép của công ty trong điều kiện cạnh tranhhội nhập.
Thời gian nghiên cứu: năm 2013, 2014, 2015
Nội dung nghiên cứu: tập trung vào hoạt động nhập khẩu và kinh doanh thép
của công ty qua các năm từ đó đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
nhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Logistics PHG.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận về thương mại quốc tế
cùng việc thu thập số liệu và nắm bắt thông tin qua quá trình khảo sát thực tế với sự
hỗ trợ của các phương pháp thống kê- phân tích kinh tế, tổng hợp, so sánh, đồ thị.
[ 2; 37 ]
- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ
nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực
hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
[ 7; 21 ]
1.1.2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
- Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa đất nước. Theo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI xác định đến năm 2020 tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 13-15%; công
nghiệp chiếm 43-45%, dịch vụ chiếm 40-44%. Để thực hiện được chỉ tiêu này nhập
khẩu có vai trò rất quan trọng trong việc nhập khẩu công nghệ mới trang bị cho các
5
ngành kinh tế như: điện và điện tử, công nghiệp đóng tàu, chế biến dầu khí, chế
biến nông sản,… Từ đó sẽ hướng các ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
- Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế, đảm bảo
phát triển kinh tế cân đối và ổn định. Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm
bảo sự cân đối theo những tỷ lệ nhất định như: cân đối giữa khu vực 1 và khu vực 2;
giữa tích lũy và tiêu dùng; giữa hàng hóa và lượng tiền trong lưu thông; giữa xuất
khẩu với nhập khẩu và cán cân thanh toán quốc tế. Nhập khẩu có tác động rất tích
cực thông qua việc cung cấp các điều kiện đầu vào làm cho sản xuất phát triển, mặt
khác tạo điều kiện để quốc gia chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận hưởng được
những lợi thế từ thị trường thế giới và khắc phục những mặt mất cân đối, thúc đẩy
kinh tế quốc dân phát triển.
- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
+ Nhập khẩu có vai trò làm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng
tiêu dùng, mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đủ như thuốc
chữa bệnh, đồ điện gia dụng, lương thực, thực phẩm,….
quyền tham gia hoặc không có khả năng tham gia hoặc tham gia không đạt hiệu
quả, khi đó sẽ ủy nhiệm cho các doanh nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực
tiếp và tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Thương nhân nhận ủy thác
không được sử dụng hạn ngạch hoặc giấy phép do Bộ Thương mại cấp cho mình để
nhận ủy thác nhập khẩu.
-
Nhập khẩu hàng đổi hàng : Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai
nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất
khẩu. Phương tiện thanh toán trong hoạt động này không dùng tiền mà chính là
hàng hóa. Mục đích từ hàng đổi hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập
khẩu vừa xuất khẩu được hàng hóa ra thị trường nước ngoài. Người nhập khẩu đồng
thời cũng là người xuất khẩu. Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu phải có giá trị
tương đương nhau, đảm bảo điều kiện cân bằng về mặt giá cả, điều kiện giao hàng
và tổng giá trị hàng hóa trao đổi.
-
Tạm nhập tái xuất : Tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu hàng
hóa nhưng không phải để tiêu thụ tại thị trường trong nước mà là để xuất khẩu sang
một nước khác nhằm thu lợi nhuận. Những mặt hàng này không được gia công hay
chế biến tại nơi tái xuất. Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩu vừa phải làm thủ
tục xuất khẩu sau đó.
7
1.2. Quy trình nhập khẩu hàng hóa
Sơ đồ 1.1: Quy trình nhập khẩu hàng hóa
nhập khẩu
khẩu
Tổ
Tổ chức
chức triển
triển khai
khai bán
bán hàng
hàng nhập
nhập khẩu
khẩu
1.2.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là việc đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp phải làm khi tham
gia vào thị trường. Mục đích của hoạt động này là nhằm xác định nhu cầu của thị
trường và khả năng thanh toán trên địa bàn nhất định mà doanh nghiệp dự định kinh
doanh.
Kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp
những thông tin sát thực nhất về lượng cung và lượng cầu hiện tại cũng như tương
lai của thị trường.
Cũng từ kết quả nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ có đầy đủ thông tin về
loại sản phẩm cần cung ứng, dung lượng thị trường, lượng cung hiện tại, nhu cầu
8
thiếu hụt cần được bổ sung, các đối thủ cạnh tranh…Những thông tin này càng
chính xác thì việc lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng sát thực tế và
đem lại hiệu quả kinh tế cao
Ngoài việc nghiên cứu thị trường trong nước, nghiên cứu thị trường quốc tế
-
Đánh giá thị trường và mặt hàng
-
Lựa chọn mặt hàng, thời cơ và điều kiện kinh doanh
-
Đặt ra mục tiêu kinh doanh
-
Đề ra các biện pháp thực hiện
-
Phân tích các chỉ tiêu cơ bản
Dựa vào kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp tiến hành
lập phương án kinh doanh hàng nhập khẩu một cách chi tiết. Phương án kinh doanh
sẽ phải đưa ra được chi tiết về:
9
-
Kế hoạch kinh doanh mặt hàng: Trong bước này cần xác định được mặt hàng
kinh doanh là mặt hàng gì, nhãn hiệu bao bì đóng gói như thế nào, quy cách phẩm
chất của hàng hoá, khối lượng dự định sẽ kinh doanh. Khối lượng hàng kinh doanh
thường của hàng hoá tại cả thị trường cung ứng và thị trường tiêu thụ.
1.2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng
1.2.3.1. Đàm phán trong ngoại thương
Sau khi lập xong phương án kinh doanh, để tiến tới ký kết hợp đồng, bên bán và
bên mua phải tiến hành một quá trình giao dịch, thương thảo về các điều khoản.
10
Đàm phán trong ngoại thương là một quá trình mà các bên tiến hành thương
lượng, thảo luận, nhằm thống nhất các mối quan tâm chung và những điểm còn bất
đồng nhằm đem lại lợi ích cho các bên trong kinh doanh ngoại thương.
Đàm phán bao gồm các hình thức như:
-
Đàm phán qua gặp gỡ trực tiếp: hình thức này có ưu điểm là đàm phán được
nhiều nội dung và giúp giải quyết nhanh chóng mọi quan hệ trong giao dịch và đôi
khi là lối thoát duy nhất cho các hình thức đàm phán khác đã kéo dài quá lâu mà
không đem lại kết quả. Tuy nhiên, đàm phán trực tiếp lại tốn chi phí lớn.
-
Đàm phán qua thư tín: là phương thức mà các bên gửi cho nhau những văn
bản, để thảo thuận những điều kiện mua bán. Đàm phán theo hình thức này hiện nay
được áp dụng nhiều do đỡ tốn kém và không mất nhiều công sức. Tuy nhiên hình
thức này nên áp dụng cho những hợp đồng với giá trị thấp và cho những đối tác có
quan hệ lâu dài.
-
1.2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Hợp đồng thương mại quốc tế là kết quả của một quá trình nghiên cứu thị
trường, xác nhận nhu cầu, lựa chọn đối tác, lập phương án kinh doanh, tiến hành
giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng. Thực hiện hợp đồng thể hiện trách nhiệm
của mỗi bên đối với những thoả thuận và cam kết của mình trong giao dịch. Đây là
một mắc xích quan trọng trong cả quá trình giao dịch.
Trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, các bên sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng đã
ký. Bên xuất khẩu chịu trách nhiệm giao hàng cho bên nhập khẩu theo trình tự của
một hoạt động xuất khẩu. Còn đối với bên nhập khẩu, thực hiện theo hợp đồng nhập
khẩu gồm có các công đoạn:
-
Xin giấy phép nhập khẩu
-
Làm thủ tục xác nhận thanh toán
-
Thuê phương tiện vận tải (nếu có): bên nhập khẩu chịu trách nhiệm thuê
phương tiện vận tải nếu hợp đồng theo điều kiện EXW, FCA, FAS, FOB.
-
Mua bảo hiểm (nếu có): Nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm mua bảo hiểm
trong các hợp đồng có điều kiện cơ sở giao hàng thuộc nhóm E, nhóm F và điều kiện
CIF, CIP.
-
đề ra các chiến lược về sản phẩm một cách hợp lý, xác định đúng sản phẩm có ảnh
hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ (bán hàng) và khai thác cơ hội kinh doanh của
doanh nghiệp. Nhưng việc mô tả sản phẩm một cách chính xác và đầy đủ vẫn thường
bị xem nhẹ hoặc do thói quen hoặc chưa hiểu rõ tầm quan trọng của nó trong hoạt
động tiêu thụ của doanh nghiệp.
Trong kinh doanh, giá cả là một trong các công cụ có thể kiểm soát mà doanh
nghiệp có thể và cần sử dụng một cách khoa học để thực hiện các mục tiêu chiến
lược, kế hoạch kinh doanh. Các quyết định về giá cả có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, từ việc đặt kế hoạch kinh doanh đến mua
sắm, chào hàng, bán hàng, chi phí và lợi nhuận. Trong khi hoạch định chiến lược,
chính sách và kiểm soát giá cả cần phải chú trọng đến các vấn đề như:
-
Các mục tiêu đặt giá;
-
Chính sách đặt giá;
-
Phương pháp tính giá.
Để bán được hàng tốt, doanh nghiệp cần phải thoả mãn rất nhiều yêu cầu từ phía
khách hàng. Khách hàng không chỉ cần sản phẩm tốt và giá đúng mà còn cần đáp ứng
được thời gian và địa điểm đúng. Địa điểm là một nội dung quan trọng mà hệ thống
marketing của doanh nghiệp cần phải giải quyết tốt trong chiến lược marketing của
mình. Các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm và có nhiều thành công trong lĩnh vực bán
hàng đã đưa ra lời khuyên: “Muốn thành công, hãy chú ý đến địa điểm, luôn chú ý đến
địa điểm và địa điểm”. Thực ra, địa điểm rất quan trọng vì nó liên quan đến các quyết
định về phân phối hàng hoá và khả năng bán hàng của doanh nghiệp. Khi xây dựng
-
Khuyến mại;
-
Hội chợ triển lãm;
-
Bán hàng trực tiếp;
-
Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nhập khẩu
Đánh giá kết quả kinh doanh là một hoạt động mà bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng phải thực hiện nhằm xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Từ những phân tích về các chỉ tiêu doanh thu,
lợi nhuận, chi phí, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu...doanh nghiệp có thể rút ra được
những điểm mạnh của mình đồng thời nhận ra được những tồn tại và tiến tới khắc
phục nó. Thông thường khi đánh giá hoạt động kinh doanh nhập khẩu, thường sử
dụng các chỉ tiêu:
1.3.1. Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu (RNK)
Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu là đại lượng so sánh giữa khoản thu (tính bằng
đồng nội tệ) do việc nhập khẩu đem lại (DT NK) với chi phí đầu vào (tính bằng ngoại
tệ) đã phải bỏ ra để mua bán hàng nhập khẩu (CPNK).
Có công thức:
lạm phát của đồng tiền.
Ở dạng tương đối được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận có thể
tính theo: giá thành, vốn sản xuất hoặc doanh thu.
-
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo giá thành phản ánh mức lợi nhuận thu được
từ một đơn vị chi phí cho hoạt động nhập khẩu (hiệu quả của một đồng chi phí)
PZ =
Trong đó:
PZ: tỷ suất lợi nhuận theo giá thành
Z: Giá thành sản phẩm
P: Lợi nhuận
-
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn kinh doanh (hệ số sinh lời của vốn)
phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị vốn kinh doanh.
PV =
Trong đó:
PV: Tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn
15
Vcd: Giá trị còn lại bình quân của tài sản cố định trong kỳ
Vld: Số dư vốn lưu động bình quân trong kỳ
-
Tỷ suất lợi nhuận tính theo doanh thu phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn
vị doanh thu tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu.
Pdt =
Hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế nói chung và trong hoạt động
kinh doanh nhập khẩu nói riêng chịu ảnh hưởng của yếu tố bên trong, bên ngoài
doanh nghiệp. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng này giúp doanh nghiệp nhận biết
được các nhân tố đó, nhận biết được xu hướng vận động của nó và tác động của nó
đến hoạt động nhập khẩu. Qua đó giúp doanh nghiệp có những biện pháp khai thác
những nhân tố có ảnh hưởng tích cực, hạn chế các nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực.
1.4.1. Các nhân tố chủ quan
Cơ hội và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp luôn phụ thuộc chặt chẽ
vào các yếu tố phản ánh tiềm lực của doanh nghiệp. Một cơ hội có thể rất “hấp dẫn”
đối với doanh nghiệp này nhưng lại có thể là “hiểm hoạ” đối với doanh nghiệp khác
vì những yếu tố thuộc tiềm lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Tiềm lực của
doanh nghiệp không phải là bất biến, có thể phát triển mạnh lên hay yếu đi, có thể
thay đổi toàn bộ (tổng quát) hay bộ phận (một vài yếu tố). Để đánh giá, phân tích
tiềm lực của doanh nghiệp có thể dựa vào các yếu tố cơ bản sau:
1.4.1.1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
-
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng
(nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối
(đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn
trong kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu (vốn tự có), vốn huy
động, tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận, giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường,
-
khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn, các tỷ lệ về khả năng sinh lợi…
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan
trọng nhất để xếp doanh nghiệp vào loại quy mô lớn, trung bình, nhỏ hay siêu nhỏ
và cũng là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và
-
nghiệp.
Trình độ tổ chức, quản lý ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động sản xuất của doanh
-
nghiệp nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Người lãnh đạo cần phải xây dựng được chiến lược kinh doanh và đề ra các chính
sách kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn phương thức hành
động. Cần phải biết nhìn xa, trông rộng để xây dựng được các chiến lược kinh
doanh hợp lý, tổ chức nhân sự cho phù hợp với quy mô, tính chất của hoạt động sản
xuất kinh doanh, phù hợp với trình độ quản lý, kỹ năng quản trị doanh nghiệp.
1.4.1.4. Khả năng nghiên cứu, phát triển và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất
-
Khả năng nghiên cứu, phát triển và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất có
ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng hàng hoá được đưa
ra đáp ứng khách hàng. Liên quan đến mức độ (chất lượng) thoả mãn nhu cầu, khả
năng cạnh tranh, lựa chọn cơ hội và các tác nghiệp khác của doanh nghiệp trên thị
trường.
18
-
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định của doanh nghiệp có thể huy
Sự cân bằng các chính sách của Nhà nước;
•
Vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ;
•
Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế;
•
Sự phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
•
Hệ thống luật pháp, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng.
-
Chính sách kinh tế của Nhà nước:
Chế độ chính sách trong nước giữ vai trò quan trọng vì nó quyết định đến sự thuận
lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh nhập khẩu. Trong điều kiện
hiện nay, các chính sách kinh tế của nhà nước thường hướng đến mục tiêu thúc đẩy xuất
khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước với những ngành được coi là trọng điểm.
19
Các chính sách của nhà nước ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh
nghiệp là:
nghiệp. Một sự thay đổi tỷ giá có thể đẩy mạnh hoặc kìm hãm hoạt động nhập khẩu.
Tỷ giá thay đổi trong thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể làm cho doanh
nghiệp thu được lợi nhuận cao hoặc lỗ trong hợp đồng.
Khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp cần chú ý đến tỷ giá. Nếu tỷ giá nhỏ hơn tỷ
suất ngoại tệ thì doanh nghiệp có thể thực hiện hợp đồng và ngược lại. Mặt khác doanh
nghiệp cần chú ý đến tỷ giá hối đoái, có các dự báo về tỷ giá để tránh sự biến động của
tỷ giá.
-
Mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước: Sự cạnh tranh một mặt có tác dụng
thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp, mặt khác nó chèn ép, đè bẹp những doanh
nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh tranh được thể hiện ở số lượng doanh nghiệp tham gia
vào hoạt động nhập khẩu cùng ngành hoặc mặt hàng và khối lượng hàng hoá mà doanh
20
nghiệp đó bán trên thị trường trong nước. Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu còn
phải chịu sự cạnh tranh từ chính những doanh nghiệp sản xuất trong nước. Do đó, khả
năng cạnh tranh là yếu tố sống còn của doanh nghiệp.
-
Trình độ phát triển thông tin liên lạc: Đây là các nhân tố rất quan trọng, nó phục vụ
hữu hiệu cho hoạt động xuất nhập khẩu. Đó là những thông tin về trình độ phát triển
của hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng, hệ thống vận tải, bảo hiểm, bến
cảng, kho bãi. Các yếu tố quan hệ chặt chẽ với hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu các yếu
tố trên phát triển ở trình độ cao thì sẽ thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và ngược
lại.
1.4.2.2. Nhóm các nhân tố ngoài nước
Các nhân tố này không những nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh
doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt những thay đổi để phản ứng kịp thời tránh
những rủi ro đáng tiếc xảy ra khi tham gia hoạt động nhập khẩu.
22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THÉP TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS PHG
2.1.
Giới thiệu về công ty cổ phần Logistics PHG
2.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của công ty cổ phần Logistic PHG
2.1.1.1. Thông tin chung về công ty cổ phần Logistics PHG
-
Tên công ty bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS PHG
Tên công ty bằng tiếng Anh: PHG LOGISTICS JOINT STOCK COMPANY
Địa chỉ: Số 318 lô 22, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng, Việt
Nam. Đây là địa chỉ lấy đăng ký kinh doanh, ít làm việc tại đây. Văn phòng làm
việc chính và sửa chữa của Công ty nằm tại Km 89, đường 5 mới, Mỹ Tranh, Nam
Sơn, Hải Dương. Đây là đất thuê trong thời hạn 06 năm của Công ty cổ phần
Matexim Hải Phòng (từ tháng 03/2010- tháng 03/2016). Công ty thuê khu đất này
cùng thời gian thành lập Công ty và hoạt động sửa chữa ngay sau đó. Lô đất nằm
trên đường Quốc lộ 5, thuận tiện cho các xe tải, xe đầu kéo vào sửa chữa, bảo
dưỡng và thay thế phụ tùng khi cần thiết. Xưởng của Công ty và bãi đỗ xe là toàn
bộ khu đất 2ha rất thuận tiện cho các phương tiện dừng, đỗ, sửa chữa và chạy thử.
2
3
-
Cổ đông
Số vốn góp
Tỷ lệ góp vốn
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương
mại Hatexim Hải Phòng (Đại diện:
18.515.000.000
80.5%
Bà Hoàng Thị Quỳnh Hoa)
Phạm Văn Toản
3.450.000.000
15%
Nguyễn Dũng
1.035.000.000
4.5%
TỔNG
23.000.000.000
100%
( Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2014)
Cổ đông thứ nhất là Công ty cổ phần Đầu tư và thương mại Hatexim kinh doanh
chủ yếu trong lĩnh vực vận tải hàng hóa đường bộ bằng xe container, xuất nhập
khẩu thiết bị, máy công nghiệp. Công ty có hơn 60 xe đầu kéo container chuyên
hoạt động vận tải hàng hóa. Đại diện cho phần vốn góp này là Hoàng Thị Quỳnh
-
ty.
Cơ sở để thành lập Công ty Cổ phần Logistics PHG là từ mối quan hệ rộng rãi của
các cổ đông trong lĩnh vực kinh doanh thép, vận tải hàng hóa bằng đầu kéo,
logistics… Nhờ các mối quan hệ với các đơn vị có nhiều xe tải, xe đầu kéo, Công ty
ký kết các hợp đồng sửa chữa, bảo dưỡng xe tải nặng, đầu kéo định kỳ, cung cấp
phụ tùng các loại. Ngoài ra bản thân công ty Hatexim cũng có 70 xe đầu kéo, Công
ty Matexim cũng có 15 xe đầu kéo ký hợp đồng gửi xe và bảo dưỡng định kỳ tại
xưởng của Logistics PHG. Ngoài ra Công ty còn ký hợp đồng bảo dưỡng định kỳ
với các Công ty tại các khu Phú Thái, tỉnh Hải Dương, Lạng Sơn, Hà Nội như Công
ty CP thương mại dịch vụ ECW; Công ty CP Dịch vụ giao nhận vận tải Quốc tế…
Đây là các đơn vị vận tải thường xuyên đi qua tuyến đường Quốc lộ 5 (đi qua
xưởng của Công ty ) hoặc Quốc lộ 10 (cách xưởng 500m ) nên việc bảo dưỡng, sửa
chữa định ký là tương đối thuận tiện. Sau hơn 5 năm thành lập, hoạt động của Công
ty đã dần đi vào ổn định, và là một trong những xưởng sửa chữa xe tải, xe đầu kéo
-
lớn có uy tín tại Hải Phòng.
Ngoài hoạt động sửa chữa xe tải, xe đầu kéo, thương mại phụ tùng xe, Công ty còn
nhập khẩu và kinh doanh thương mại thép. Năm 2011, 2012 hoạt động này đã mang
lại doanh thu lớn (từ 60- 70 tỷ đồng) nhưng do chi phí nhập khẩu lớn nên đem lại
hiệu quả không cao. Do đó, trong những năm gần đây, hoạt động nhập khẩu và kinh
doanh thép của công ty bị thu hẹp lại.
25