Lời nói đầu
Thực hiện đường lối đúng đắn mà Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra,
nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, từ một nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nước, làm cho nền kinh tế nước ta đã từng bước hoà nhập với
nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Trong nền kinh tế đa thành phần,
các doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế của đất nước. Mặc dù có không ít các doanh nghiệp Nhà
nước phải giải thể vì làm ăn không có hiệu quả, nhưng bên cạnh đó có
những doanh nghiệp đứng vững và ngày càng phát triển, mở rộng sản xuất,
đồng thời cũng có những doanh nghiệp Nhà nước đứng trước cơ chế thị
trường với quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của nó vẫn đang gặp rất nhiều
khó khăn, lúng túng.
Đối với các doanh nghiệp, cơ chế thị trường tạo ra những điều kiện
thuận lợi cho mọi hoạt động nhưng chính nó cũng tạo ra những thách
thức mới. Chấp nhận cơ chế thị trường là một tất yếu, chính vì thế trong
các doanh nghiệp, các công tác nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
như công tác quản trị tiêu thụ, công tác quản trị cung ứng, công tác
Marketing...đặc biệt là công tác quản trị vốn trong các doanh nghiệp cần
được phát triển và hoàn thiện. Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế
thị trường, nhu cầu vốn cho từng doanh nghiệp đang là một vấn đề rất
bức xúc. Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trường với sức cạnh tranh của
nền kinh tế cũng như của từng doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào hiệu quả
kinh doanh. Vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng.
®µo quang long_tm46b 1
Nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có vốn. Mục đích
của sản xuất kinh doanh là thu được lợi nhuận. Do đó vấn đề đặt ra cho
các doanh nghiệp là phải huy động vốn để đảm bảo sản xuất kinh doanh
diễn ra thuận lợi, và phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả ngày càng cao
để đứng vững hơn trên thương trường, từ đó mở rộng sản xuất kinh
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là khâu quan trọng nhất quyết
định tới mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Để nâng
cao hiệu qua sử dụng vốn kinh doanh đòi hỏi phải giải quyết vấn đề như:
Xác dịnh nhu cầu vốn kinh doanh, tăng hiệu suất sử dụng vốn kinh
doanh, tăng vòng quay vốn kinh doanh, đổi mới, sửa chữa, hiện đại hoá
máy móc thiết bị... song tựu chung lại phải tập trung giải quyết hai vấn đề
cơ bản sau:
Một là: Nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều giá trị sản phẩm
đáp ứng nhu cầu thị trường.
Hai là: Tìm một giải pháp tiết kiệm vốn với một đồng vốn tạo ra
được nhiều giá trị hàng hoá dịch vụ.
Trước khi đi vào nội dung cụ thể của vấn đề nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn chúng ta cần xem xét: vốn kinh doanh là gì ? Những đặc điểm
của nó trong quá trình vận động như thế nào ?
®µo quang long_tm46b 3
Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt.
Mục tiêu của quỹ tiền tệ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là
mục đích tích luỹ không phải là mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền
tệ khác trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra
hoạt động sản xuất kinh doanh, người ta nói vốn là số tiền phải ứng trước
cho kinh doanh. Song khác với một số quỹ tiền tệ khác trong doanh
nghiệp, vốn kinh doanh sau khi ứng ra được sử dụng vào kinh doanh và
sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt
động sau. Vốn kinh doanh không thể bị tiêu mất đi như một số quỹ khác
trong doanh nghiệp. Mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với nguy
cơ phá sản.
Cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn. Muốn có vốn thì trước hết
chúng ta phải có tiền. Song có tiền, thậm chí có những khoản tiền rất lớn
cũng không phải là vốn. Tiền được gọi là vốn khi nó đồng thời thoả mãn
hai điều kiện sau:
quả, chúng ta cần phải nhận thức đủ hơn về những đặc trưng sau đây:
Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực của những tài sản
được sử dụng để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm khác. Vốn chính
là hàng hoá được biểu hiện dưới dạng nhà xưởng máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu, chất xám...
®µo quang long_tm46b 5
Vốn vận động phải sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng
để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời. Tiền là dạng
tiềm năng của vốn trong quá trình vận động, đồng vốn được biểu hiện
dưới những hình thái khác nhau: Tiền, vật tư, hàng hoá. Nhưng đến khi
kết thúc một vòng tuần hoàn vốn lại quay về hình thái tiền tệ nhưng phải
lớn hơn thì sản xuất kinh doanh mới có lãi. Nếu đồng vốn bị ứ đọng, tài
sản cố định không cần dùng, tài nguyên, sức lao động không được sử
dụng, tiền, vàng bỏ vào dự trữ hoặc các khoản nợ khế đọng khó đòi...chỉ
là những đồng vốn ''chết''. Mặt khác tiền có vận động nhưng lại bị thất
tán, không quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng
không được bảo đảm chu kỳ vận động tiếp theo bị ảnh hưởng.
Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định thì mới có
thể phát huy tác dụng. Không có đủ lượng vốn nhất định thì không thể
đáp ứng được yêu cầu tối thiểu đặt ra trong sản xuất kinh doanh.
Vốn phải có giá trị về thời gian: Điều này có nghĩa là phải xem xét
yếu tố thời gian của đồng vốn. Trong cơ chế kế hoạch tập trung vấn đề
này không được xem xét kỹ lưỡng vì Nhà nước đã tạo ra sự ổn định của
đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện cơ chế thị
trường đều phải xem xét giá trị thời gian của tiền vốn, bởi vì do ảnh
hưởng của sự biến động giá cả, lạm phát sức mua của đồng tiền ở những
thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
Vốn phải gắn với chủ sở hữu: Mỗi đồng tiền vốn phải gắn với chủ
sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường không thể có những đồng
vốn vô chủ, bởi lẽ những đồng vốn vô chủ gây ra sự chi tiêu lãng phí kém
sản cố định trước hết phải có một số vốn ứng trước. Số vốn đầu tư ứng
trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định hữu hình và
vô hình được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn này nếu
được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại
được sau khi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình.
b. Đặc điểm vốn cố định.
Là số vốn đầu ứng trước để mua sắm, xây dựng tài sản cố định nên
quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố
định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng
lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại những đặc
điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng
quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định.
Vì vậy trước hết ta phải xem xét đặc điểm trong cách phân loại tài sản cố
định.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, tham gia trực
tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất như máy móc thiết bị, nhà
xưởng, phương tiện vận tải, vật kiến trúc, chi phí mua bằng phát minh
sáng chế.
®µo quang long_tm46b 8
Đặc điểm cơ bản của tài sản cố định là có thể tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, mặc dù tài sản cố định bị hao mòn,
song nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu,
còn giá trị của nó được chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.
Chỉ khi nào tài sản cố định bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy
không có lợi về mặt kinh tế thì nó mới được thay thế đổi mới. Tài sản cố
định là một phạm trù kinh tế, tài sản cố định phải là sản phẩm của lao
động xã hội (tức là có giá trị) và tham gia vào quá trình sản xuất với chức
năng của tư liệu lao động (giá trị sử dụng). Điều này cho thấy tài sản cố
định phải có đầy đủ các thuộc tính của một hàng hoá (giá trị và giá trị sử
dụng) như mọi hàng hoá thông thường khác. Do đó những lực lượng tự
nghĩa quan trọng trong sản xuất kinh doanh.
Từ việc nghiên cứu đặc điểm tài sản cố định ta có thể rút ra một số
đặc điểm luân chuyển vốn cố định là:
Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm,
điều này do đặc điểm của tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong
nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
Hai là: Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các
chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được
luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi
phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định.
®µo quang long_tm46b 10
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất, vốn cố định mới hoàn thành một
vòng luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển
vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn cố định ban đầu và
tài sản cố định lại dần giảm xuống cho đến khi tài sản cố định hết thời
gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm
sản xuất ra thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của vốn cố định đòi hỏi việc
quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật
của nó là các tài sản cố định của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Vốn lưu động.
a. Khái niệm vốn lưu động
Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
ngoài tư liệu lao động ra còn có đối tượng lao động. Đối tượng lao động
khi tham gia vào sản xuất không giữ nguyên trạng thái vật chất ban đầu,
bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động sẽ thông qua quá trình chế biến
hợp thành thực thể sản phẩm. Bộ phận khác sẽ hao phí mất đi trong quá
trình sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải dùng loại đối tượng lao
động khác. Cũng do đặc điểm nêu trên nên toàn bộ giá trị của đối tượng
mục đích kinh doanh của mình.
1.1.3 Nguồn hình thành vốn kinh doanh:
Nếu người quản lý không bao quát được các nguồn vốn, nội dung
và tính chất của các nguồn vốn có thể huy động được trong sản xuất kinh
doanh thì đó là sai lầm trong công tác quản lý đầu tư, sử dụng vốn kinh
doanh. Vì vậy việc nghiên cứu nội dung, tính chất của các nguồn vốn sẽ
là cơ sở cho việc lựa chọn, khai thác huy động vốn phù hợp với nhu cầu
khả năng cho phép của mỗi doanh nghiệp.
®µo quang long_tm46b 12
Vốn kinh doanh có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
Tuy nhiên mỗi loại hình doanh nghiệp cũng chỉ có thể khai thác, huy
động vốn trên một số nguồn nhất định. Vì thế, người ta có thể căn cứ vào
nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết doanh
nghiệp đó thuộc loại nào. Chẳng hạn, doanh nghiệp có vốn kinh doanh
chủ yếu thuộc nguồn ngân sách Nhà nước thì đó là doanh nghiệp Nhà
nước, hoặc một doanh nghiệp khác lại có vốn kinh doanh từ nguồn tự có
và cổ phần thì đó là một doanh nghiệp tư nhân, một công ty cổ phần.
Trong cơ chế thị trường, vốn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có
thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi ngành đều có ưu
nhược điểm nhất định, vì thế huy động vốn với một chi phí thấp nhất là
yêu cầu cấp bách đặt ra đối với doanh nghiệp. Do đó cần thiết phải phân
loại.
- Căn cứ vào quyền sở hữu về vốn thì vốn kinh doanh của doanh
nghiệp có thể chia làm hai loại: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả:
+ Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sử hữu của doanh
nghiệp (doanh nghiệp Nhà nước chủ sở hữu là Nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân chủ sở hữu là những người đóng góp vốn). Khi doanh nghiệp mới
được thành lập, vốn chủ sở hữu hình thành vốn điều lệ, còn có một số
nguồn khác cũng thuộc nguồn vốn chủ sở hữu như: lợi nhuận không chia,
quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại
của doanh nghiệp. Nguồn vốn này có thể từ vốn liên doanh, liên kết, vốn vay
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các
khoản nợ khác.
Việc vay vốn bên ngoài giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh
doanh đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc... sử dụng nguồn vốn bên
ngoài có ưu điểm: do phải trả chi phí cho việc vay vốn nên doanh nghiệp
thường sử dụng số tiền vay đó sao cho có hiệu quả nhất để bù đắp được
những chi phí mà vốn thu được lợi cho mình. Hơn nữa khi doanh nghiệp
đạt mức doanh thu cao thì không phải phân chia phần lợi nhuận cao đó.
Song sử dụng nguồn vốn bên ngoài cũng mang lại một số bất lợi
đáng kể: cho dù doanh nghiệp làm ăn có lãi hay không thì vẫn phải trả lợi
tức tiền vay và hoàn trả tiền vay đúng thời hạn, nếu doanh nghiệp sử
dụng vốn kém hiệu quả hoặc trong hoàn cảnh nền kinh tế thay đỏi bất lợi
cho doanh nghiệp thì nợ vay là gánh nặng và doanh nghiệp phải chịu rủi
ro lớn. Do dó người lãnh đạo phải thận trọng suy xét phương pháp lựa
chọn hình thức huy động vốn, chi phí sử dụng vốn thấp nhất, khả năng
gặp rủi ro nhỏ nhất, hiệu quả kinh tế đem lại lớn nhất.
- Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia thành:
Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
+ Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định và có
thể sử dụg trong một thời gian dài gồm: Vốn chủ sở hữu, khoản vay trung
và dài hạn. Nguồn vốn này được dùng để mua sắm tài sản cố định và một
bộ phận tư liệu lao động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
®µo quang long_tm46b 15
+ Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể dụng
mang tính chất tạm thời trong một thời gian ngắn (dưới 1 năm) như:
Nguồn vốn chiếm dụng hợp lý vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Phân loại nguồn vốn kinh doanh thành nguồn vốn thường xuyên và
Vốn kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trước tiên nó có vai trò quyết định trong
việc thành lập, hoạt động, phát triển và phá sản của doanh nghiệp. Muốn
thành lập được doanh nghiệp cần phải có vốn để đăng ký kinh doanh. Đồng
thời doanh nghiệp cũng cần phải có vốn kinh doanh để tiến hành các hoạt
động nghiệp vụ như mua, bán, dự trữ hàng hóa, vận chuyển, xếp dỡ…
Vốn kinh doanh còn đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn phát
triển kinh doanh cũng cần phải có đủ vốn để mua sắm trang thiết bị máy
móc, chuẩn bị nguồn hàng đủ lớn, mở rộng mạng lưới thu mua và cũng cần
phải có đội ngũ đông đảo can bộ công nhân viên đủ lớn để thực hiện các
nhiệm vụ đặt ra.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lơn hay nhỏ là điều kiện quan
trọng để xếp doanh nghiệp vào loại có quy mô lớn, doanh nghiệp có quy mô
trung bình và doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Ngoài ra vốn kinh doanh của
doanh nghiệp nhiều hay ít còn là điều kiện để doanh nghiệp có thể phân
phối và sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có như sức lao động, nguồn hàng
hóa, và các nguồn lực khác một cách tốt nhất nhằm phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
®µo quang long_tm46b 17
Trong cơ chế thị trường, vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường
được xem xét về quyền sở hữu đối với vốn, từ đó quyết định loại hình doanh
nghiệp. Chẳng hạn như đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn kinh doanh
của doanh nghiệp là do Nhà nước cấp. Còn đối với doanh nghiệp tư nhân,
đây là doanh nghiệp do cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.Đối với công ty cổ phần thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp do
vốn góp của các cổ đông.
1.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH VÀ BIỆN
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA
1.3.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
a. Các chỉ tiêu tổng hợp.
* Vòng quay toàn bộ vốn
Công thức
Vòng quay toàn bộ vốn =
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong kỳ ý nghĩa là trên một đồng vốn sản xuất kinh
doanh bình quân trong kỳ thì được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Con
số này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại:
* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn:
Công thức
®µo quang long_tm46b 19
Tỷ suất lợi nhuận vốn =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp cho thấy khi ta bỏ ra 1 đồng vốn sản xuất kinh
doanh thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Con số
này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh càng tốt và
ngược lại.
* Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu.
Công thức
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn chủ sở hữu sử dụng trong
kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
Đây là những chỉ tiêu chung về vốn sản xuất kinh doanh, để đánh
giá một cách chính xác và tìm ra nguyên nhân khắc phục hay phát huy
phục vụ cho công tác quản lý thì doanh nghiệp tiến hành đánh giá hiệu
quả sử dụng của từng loại vốn thông qua các chỉ tiêu cá biệt sau:
b. Chỉ tiêu cá biệt.
vốn cố định
= x 100
®µo quang long_tm46b 23
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn cố định trong kỳ có thể tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập)
* Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn lưu động trong kỳ.
Công thức:
®µo quang long_tm46b 24
Số lần luân chuyển
vốn lưu động
=
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển (số vòng quay) vốn lưu
động trong kỳ là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ doanh
nghiệp đã sử dụng có hiệu quả vốn lưu động, tiết kiệm vốn lưu động.
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động (số ngày của 1 vòng luân chuyển)
Kỳ luân chuyển vốn lưu động =
Vòng quay vốn càng nhanh thì luân chuyển vốn càng được rút
ngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.
- Hàm lượng vốn lưu động.
Công thức:
Hàm lượng vốn lưu động =
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh nghiệp thuần có sự
tham gia của bao nhiêu đồng vốn lưu động. Chỉ tiêu này nhỏ chứng tỏ
doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm vốn lưu động.
- Doanh lợi vốn lưu động.
Công thức
Doanh lợi vốn lưu động =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn lưu động sử dụng trong kỳ
tham gia sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Mức