Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lợi chứng khoán tại việt nam - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ SUẤT SINH
LỢI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TỪ NIGERIA-LIÊN HỆ VIỆT NAM
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH : Nhóm 5- TC01 - CH 23
1. Nguyễn Thùy Mỹ Hạnh
2. Hà Thị Như Phương
3. Bùi Thị Lệ Thủy
4. Huỳnh Thị Thu Trang
5. Nguyễn Hoàng Trí ( NT )

TP.HCM 18/08/2014



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Thơ (2007) ,Tài chính doanh nghiệp hiện đại.NXB Thống kê
2. Phạm Trí Cao (2008 ) ,Kinh tế lượng ứng dụng phần nâng cao.
3. Giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên (2011 ) , Mối liên hệ giữa các nhân tố
kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán - kết quả thực nghiệm ở thị trường chứng
khoán việt nam
4. Các website


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TÓM TẮT BÀI NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ
TỶ SUẤT SINH LỢI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TỪ NIGERIA ..................................................................................................... 1
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ
SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM...................................................... 8
2.1 Vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu: ................................................................ 8
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .............................................................................. 10
2.3 Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................................ 10
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây: ........................................................................ 10
2.5 Cơ sở lý thuyết ............................................................................................................. 14
2.5.1 Lý thuyết hiệu ứng Fisher ......................................................................................... 14
2.5.2.Lý thuyết ảo giác tiền tệ ........................................................................................... 14
2.5.3 Lý thuyết ảo giác lạm phát ....................................................................................... 15
2.6. Tác động của lạm phát tới TTCK ............................................................................... 16
2.7 Phân tích tỉ suất sinh lợi VN_index và CPI bằng mô hình unristrict var .................. 17
2.7.1.Thống kê mô tả dữ liệu: ............................................................................................ 17
2.7.2.Kiểm định tính dừng của chuỗi: ............................................................................... 18
2.7.3.Chọn độ trễ tối ưu và kiểm tra mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến:................ 20
2.7.4.Chọn mô hình tối ưu – Mô hình unristrict VAR: ..................................................... 22
CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH .............................................................................................. 26
3.1 Kết quả ......................................................................................................................... 26
3.2 Nhận định. ................................................................................................................... 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


CHƯƠNG 1: TÓM TẮT BÀI NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT
VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG CHỨNG


Kessel (1956)

Cùng chiều

Nelson (1976)

Ngược chiều

Jaffe and Mandelker (1977)

Ngược chiều

Fama and Schwert

Ngược chiều
1


Firth (1979)

Cùng chiều

Fama

Ngược chiều

Gultekin (1983)

Ngược chiều


Trung lập

Ioannides et.al. (2004)

Cùng chiều

Akmal (2007)

Cùng chiều

Yeh and Chi (2009)

Ngược chiều

Baekaert and Engstrom (2009)

Cùng chiều

Theo Yaya và Shittu (2010) tìm hiểu khả năng dự đoán của lạm phát và tỷ giá hối đoái
vào biến động chứng khoán của Nigeria. Mô hình QGARCH cho thấy một mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê của lạm phát và tỷ giá hối đoái đối với biến động của thị trường
chứng khoán. Tuy nhiên, bài nghiên cứu đã không kiểm tra xem liệu cổ phiếu có cơ
chế tự bảo vệ chống lại lạm phát hiệu quả hay không. Điều này một mặt tạo động lực
cho bài nghiên cứu của tác giả nhằm xác định trực tiếp mối quan hệ giữa cổ phiếu và
lạm phát; mặc khác xác định tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán có cơ chế tự bảo
vệ chống lại lạm phát hay không.
Mô hình nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng một mô hình đơn giản để tính toán của mối
quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và lạm phát, dựa theo nghiên cứu bởi Spyror

(3)

j=1
Nếu tất cả các biến được tìm thấy là dừng ở sai phân bậc 1 hay I(1), tương đương các
kiểm định nghiệm đơn vị ADF sẽ bác bỏ giả thuyết Ho, thì chúng ta sẽ kiểm tra sự hội
của các biến. Theo lý thuyết đại diện Granger (Granger, 1987), nếu 2 biến không dừng
tại sai phân bậc 1 I(1), và chuỗi dữ liệu có mối quan hệ cointegrating, thì hàm tự vận
động (Dynamic function) có thể đại diện một cơ chế tự điều chỉnh sai số (Error
Correction mechanism) (Engle and Granger, 1987). Cơ chế tự điều chỉnh sai số (ECM)
theo Qayyum (2005) được phổ quát lại bởi David Handry thông qua một số nghiên

3


cứu (Hendry, Pagan and Sargan, 1984; Hendry and Ericsson, 1991; Hendry and
Mizon, 1993).
Để áp đặt các vecto Cointegrating trong mô hình điều chỉnh sai số, các biến có mối
quan hệ cointegrating, Phương trình (1) sẽ được biến đổi thành bằng cách sử dụng vi
phân (∆) của các biến và hàm điều chỉnh sai số có độ trễ theo dạng tuyến tính như
phương trình (4).
∆STKt = λo + λ1∆CPIt + ECMt-1 +ν 1

(4)

Nguồn dữ liệu:
Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu bao gồm các cổ phiếu hàng tháng từ tháng 1 năm 1985
đến tháng 12 năm 2008. Các dữ liệu được thu từ báo cáo thống kê của Ngân hàng
Trung ương Nigeria (CBN), được xuất bản nhân kỷ niêm 50 năm thành lập (2009). Dữ
liệu bao gồm các quan sát hàng tháng về chỉ số giá chứng khoán (Stock Pice Index
STK) được đo bằng chỉ số ASI (chỉ số giá của tất cả các cổ phiếu trên thị trường

sinh lợi cổ phiếu và lạm phát, dựa theo nghiên cứu bởi Spyror được đề cập ở phương
trình 1. Kết quả cho thấy mối quan hệ thực nghiệm giữa tỷ suất sinh lợi thị trường
chứng khoán và tỷ lệ làm phát (toàn bộ giai đoạn) là cùng chiều và có ý nghĩa thống
kê. Tuy nhiên, mối quan hệ này thì ngược chiều và không có ý nghĩa thống kê trong
giai đoạn mẫu đầu tiên, điều này ngụ ý rằng vai trò của các nhân tố khác (ví dụ như lãi
suất trái phiếu) hơn là tỷ lệ lạm phát. Điều thú vị là, mối quan hệ này thì cùng chiều
trong giai đoạn thứ hai 1997 - 2008 và có ý nghĩa thống kê. Có thể giải thích cho sự
khác biệt trong hành vi của thị trường chứng khoán Nigeria - một thị trường mới nổi
(như các nền kinh tế mới nổi khác, trong những năm 1990), nguyên nhân liên quan đến
mối hệ giữa chứng khoán - lạm phát của những nền kinh tế công nghiệp điển hình, đặc
biệt là vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, được ghi nhận là do tiền tệ
hơn là hoạt động kinh tế thực, trong khi hoạt động kinh tế thực là yếu tố quan trọng
cấu thành nên lạm phát ở Nigeria. Tác động ít rõ ràng hơn này thể hiện ở mức độ ý
nghĩa thống kê thấp của những hệ số xác định. Để kiểm chứng cho luận điểm trên tác
giả đã:
Bước 1: Kiểm định tính dừng và đồng liên kết
5


Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị ADF, kiểm định thống kê cho thấy các biến gốc thì
không dừng nhưng sai phân bậc một của chúng thì dừng. Điều này cho thấy rằng
những chuỗi này hội tụ ở hạng một và có thể được kiểm định đồng liên kết theo nghiên
cứu của Johansen.
Các kiểm định eigenvalue cực đại đều cho thấy có tồn tại một phương đồng liên kết
giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán và lạm phát. Vì vậy tồn tại đồng liên kết cũng có
nghĩa là tồn tại mối quan hệ nhân quả tồn tại giữa các biến.
Bước 2: Kiểm định quan hệ nhân quả Granger
Các kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ nhân quả dài hạn một chiều từ lạm
phát sang tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán và không có chiều ngược lại.
Phần tiếp theo tác giả giải thích vai trò của tiền tệ và hoạt động kinh tế trong việc tạo

là điều tra nghiên cứu mối quan hệ này bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng và hàng
quý của Nigeria trong giai đoạn 1985 đến 2008. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy
rằng tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán cung cấp một cơ chế tự bảo vệ hoàn hảo
chống lại lạm phát ở Nigeria. Điều này chứng minh rằng tồn tại mối quan hệ cùng
chiều và có ý nghĩa thống kê giữa lạm phát và giá chứng khoán như lý thuyết Fisher
(1930). Nó cũng ngụ ý rằng những nhà đầu tư thực hiện một danh mục tốt nên nắm giữ
cổ phiếu dài hạn như một công cụ dài hạn chống lại sự sói mòn của sức mua do lạm
phát. Điều này cũng chỉ ra cùng với nguyên sự phát triển thị trường vốn Nigeria có thể
gợi ý rằng cổ phiếu không nhất thiết là một loại tài sản giao dịch tốt nhất trong ngắn
hạn.
Bên cạnh đó bằng chứng khác của bài nghiên cứu được đề cập là nhân tố hoạt động
kinh tế thực và cung tiền của nền kinh tế có thể độc lập với nhau, vì cung tiền cũng có
ý nghĩa trong việc giải thích hành vi của lạm phát ở Nigeria. Do đó, chính sách hướng
đến kiểm soát lạm phát nên tính đến vai trò của các biến tiền tệ và hoạt động kinh tế
thực vì những biến này sẽ tác động dài hạn đến thị trường chứng khoán.

7


CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ
SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
2.1 Vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu:
Quan sát thị trường chứng khoán Việt Nam, thể hiện qua chỉ số VN-Index, kể từ khi
chính thức hoạt động vào tháng 7/2000 đến nay có nhiều biến động bất thường qua các
giai đoạn. Trong giai đoạn 6/2001 đến 2/2002, nếu như chỉ số VN-Index sau khi xác
lập mức đỉnh 571 điểm vào ngày 25/6/2001 thì sụt giảm sâu xuống chỉ còn 231 điểm
vào ngày 2/1/2002. Giai đoạn từ năm 2004 đến 2005, VN-Index dao động quanh mức
250 điểm trong thời gian tương đối dài. Giai đoạn từ tháng 10/2005 đến cuối năm 2007
thực sự là giai đoạn bùng nổ của thị trường. Đầu tiên là khoảng thời gian từ cuối năm
2005 đến những tháng đầu năm 2006, VN-Index tăng liên tục từ mức 286 điểm ngày

trái phiếu hoặc cơ cấu lại danh mục đầu tư.
Ở thời điểm hiện tại, khi mà thị trường chứng khoán không còn nóng như trong các
giai đoạn trước, có thể nói là ảm đạm trong một thời gian khá dài. Chỉ số VN-Index
trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 12/2012 chỉ dao động quanh mức dưới 500
điểm. Vậy thì liệu rằng, yếu tố lạm phát có thực sự ảnh hưởng lên thị trường chứng
khoán hay không? Tác động của nó có chiều như thế nào với tỷ suất sinh lời chứng
khoán. Trên thế giới, cho đến nay đã có một số lượng nghiên cứu khá đồ sộ đề tài này.
Song ở Việt Nam dường như vấn đề này còn khá mới mẻ, nhiều bài viết về ảnh hưởng
của lạm phát đến thị trường chứng khoán Việt Nam song cũng dừng lại ở việc xem xét
mối tương quan giữa lạm phát và thị trường chứng khoán dựa trên những quan sát thực
tiễn, chứ chưa có một nghiên cứu thực nghiệm dựa vào mô hình cụ thể để nghiên cứu
vấn đề này.
Vì các lý do trên nhóm lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ
suất sinh lợi chứng khoán tại Việt Nam” với mục tiêu nghiên cứu như sau:


Bài nghiên cứu đưa ra số liệu kiểm nghiệm trong thực tế về tác động của lạm phát

lên thị trường chứng khoán để giúp hoàn thiện hơn nữa công việc phân tích.


Xem xét chiều tác động cũng như ảnh hưởng của mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ

suất sinh lời chứng khoán
Kết quả của bài nghiên cứu kỳ vọng sẽ hữu ích với một số nhà đầu tư cụ thể, trong
quyết định nắm giữ hoặc phân bổ tài sản khi lạm phát, đồng thời đóng góp vào việc
9


xây dựng các mô hình kinh tế lượng để có thể đo lường mức độ ảnh hưởng của lạm

nhà đầu tư có thể bán tài sản tài chính của họ để đổi lấy tài sản thực khi lạm phát kỳ
vọng tăng cao. Trong tình huống này, giá chứng khoán danh nghĩa sẽ phản ánh hoàn
toàn lạm phát kỳ vọng và mối quan hệ giữa hai biến này là cùng chiều như dự đoán
(Ioannide, cùng cộng sự, 2005). Tranh luận về thị trường chứng khoán như có cơ chế
tự bảo vệ lại lạm phát có thể ngụ ý rằng các nhà đầu tư hoàn toàn được bù đắp cho sự
gia tăng mức giá chung thông qua sự gia tăng trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán
danh nghĩa, tỷ suất sinh lợi thực sự vẫn không thay đổi.
Mở rộng hơn, giả thuyết bảo hộ (hedge hypothesis) cho rằng giá cổ phiếu phản ánh
thu nhập trong tương lai và hiện tại, vì nó thể hiện kỳ vọng trong dài hạn hay thị
trường chứng khoán sẽ phản ứng phòng vệ chống lại lạm phát. Tuy nhiên, Fama
(1981) xây dựng lý thuyết đại diện tác giả cho rằng mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát
cao và tốc độ tăng trưởng kinh tế thực là ngược chiều. Những quan điểm về biến
động ngược chiều biến giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ suất sinh lợi chứng khoán thực sự thì
khác nhau.
Lý thuyết ảo giác lạm phát (inflation illusion) của Modigliani và Cohn (1970) cho
thấy rằng tác động thực sự của lạm phát được gây ra bởi ảo giác tiền tệ. Theo Bekaert
và Engstrom (2007), ảo giác lạm phát cho thấy khi lạm phát kỳ vọng gia tăng, lãi suất
trái phiếu tăng theo, nhưng vì những nhà đầu tư cổ phiếu chiết khấu dòng tiền thực sử
dụng lãi suất danh nghĩa, nên sự gia tăng lãi suất danh nghĩa dẫn đến cổ phiếu bị định
dưới giá và ngược lại.
Feldstein (1980) trình bày một biến thể khác của mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ
suất sinh lợi thị trường chứng khoán, gợi ý rằng lạm phát làm giảm đi tỷ suất sinh lợi
chứng khoán thực sự vì sự mất cân đối của hàng tồn kho và khấu hao điều chỉnh sau
thuế hậu quả là sự sụt giảm của lợi nhuận sau thuế. Feldstein tiếp tục quan sát thấy
rằng sự thất bại của giá cổ phiếu tăng trong lạm phát đáng kể là do sự tăng vốn danh
nghĩa từ luật thuế đặc biệt, chi phí khấu hao lịch sử (Friend và Hasbrouck,1981).
Theo lý thuyết của Fama (1981) dựa trên lý thuyết cầu tiền, mối tương quan giữa lạm
phát và tỷ suất sinh lợi chứng khoán không phải là một mối quan hệ nhân quả, mà
đúng hơn là mối quan hệ hai chiều. Yeh và Chi (2009 trang 168) giải thích giả thuyết
11

đoạn mà nguyên nhân gây ra lạm phát là do chính sách tiền tệ chứ không phải là do
12


hoạt động thực của nền kinh tế. Spyrou (2004) nghiên cứu ở mười quốc gia mới nổi
cung cấp những bằng chứng có thể cho thấy cổ phiếu cung cấp một cơ chế tự bảo vệ
hiệu quả chông lại lạm phát và lạm phát có thể được giải thích bởi mối quan hệ có ý
nghĩa giữa tiền tệ và giá cả tiêu dùng ở những thị trường mới nổi.
Rapach (2002) sử dụng dữ liệu của 16 quốc gia OECD để xác định chiều hướng của
mối tương quan. Tác giả thu được rằng tính trung lập của lạm phát trong dài hạn tồn
tại trong thị trường chứng khoán của các quốc gia. Theo phương pháp của King và
Watson (1997) là thiết lập dữ liệu theo chuỗi thời gian, Rapach giải thích rằng hiệu
ứng Fisher trong dài hạn tồn tại nếu tỷ suất sinh lợi chứng khoán trong dài hạn không
phản ứng lại với những cú sốc trong dài hạn (Yeh và Chi, 2009 trang 169). Những tài
liệu nghiên cứu về lạm phát – tỷ suất sinh lợi đối với nền kinh tế Nigeria còn tương
đối thưa thớt. Subai và Salihu sử dụng một mô hình sai số tương quan (error
correction model) để nghiên cứu tác động của những biến động tỷ giá lên thị trường
chứng khoán Nigeria thông qua những biến động tỷ giá, tác giả phát hiện rằng những
biến động tỷ giá gây ra những tác động tiêu cực mạnh lên thị trường chứng khoán
Nigeria, tỷ lệ lạm phát không có bất cứ mối quan hệ dài hạn với vốn hóa thị trường
chứng khoán. Nguyên nhân cho việc không có mối quan hệ dài hạn là sự can thiệp
của chính phủ lên thị tường. Đầu tiên , kết quả đồng nhất mà các tác giả tuyên bố để
làm rõ lý do này thì không được trình bày. Thứ hai, sự can thiệp của chính phủ quá
nhiều vào thị trường (cổ phiếu hay ngoại hối) không được định nghĩa rõ ràng. Tuy
nhiên, trong cả hai thị trường, sự tham gia của chính phủ qua các năm thì được hạn
chế. Cho nên, những phát hiện của Subai và Salihu có thể có sai lệch.
Daferighe và Aje (2009) sử dụng dữ liệu thường niên để phân tích tác động của tổng
phẩm quốc nội thực (GDP), lạm phát và lãi suất lên giá chứng khoán của các công ty
được trích dẫn ở Nigeria từ 1997 đến 2006. Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ lạm phát thấp
kéo theo giá chứng khoáng tăng của các công ty được trích dẫn ở Nigeria. Daferighe

vay muốn duy trì mức lãi suất thực dương, mọi biến đổi của tỷ lệ lạm phát sẽ được
chuyển vào mức lãi suất danh nghĩa. Nghĩa là: Lãi suất thực r = lãi suất danh nghĩa i –
Tỷ lệ lạm phát π.
2.5.2.Lý thuyết ảo giác tiền tệ
Ảo giác tiền tệ là một giả thuyết kinh tế học cho rằng chủ thể kinh tế có khuynh
hướng chỉ nhận thức được giá trị danh nghĩa của tiền mà không nhận thức được giá trị
thực tế của tiền. John Maynard Keynes là người đã nêu ra giả thuyết này, và Irving
14


Fisher là người đã phát triển thuyết này qua tác phẩm Money Illusion của mình công
bố năm 1928. Ảo giác tiền tệ thường xảy ra trong môi trường lạm phát. Don Patinkin
(1922-1995) điều tra thấy giả dụ giảm tiền công danh nghĩa đi 2% trong điều kiện vật
giá chung không đổi, thì người lao động sẽ nhận ra ngay. Nhưng nếu tăng tiền công
thêm 2% trong điều kiện mức giá chung tăng tới 4% thì người lao động lại không nhận
thấy là tiền công thực tế của mình bị giảm. Mặt khác, tăng tiền công danh nghĩa với
một tỷ lệ bằng tỷ lệ lạm phát, nghĩa là tiền công thực tế không đổi, thì người lao động
sẽ cho rằng thu nhập của mình tăng lên và có thể tiêu dùng nhiều hơn.Ảo giác tiền tệ
khiến cho quyết định của các chủ thể kinh tế trở nên không chính xác và hành vi kinh
tế của họ bị làm méo mó. Giá cả, do đó, không linh hoạt. Từ đó dẫn đến nền kinh tế có
thể ở trạng thái mất cân bằng và thiếu hiệu quả. Đây là một trong những lý luận kinh tế
học vi mô cơ bản của kinh tế học Keynes.
2.5.3 Lý thuyết ảo giác lạm phát
Mọi người sẽ rơi vào ảo giác lạm phát nếu họ nhầm lẫn giữa những thay đổi danh
nghĩa và thay đổi thực tế. Phúc lợi của mọi người phụ thuộc vào biến thực tế, không
phụ thuộc vào biến danh nghĩa.
Sẽ là sai lầm khi nói rằng lạm phát là xấu bởi vì nó làm cho hàng hóa trở nên đắt đỏ.
Nếu tất cả các biến số danh nghĩa tăng cùng một tỷ lệ thì mọi người sẽ có thu nhập
danh nghĩa cao hơn và có thể mua cùng một số lượng hàng hóa như trước đây.Nếu mọi
người nhận ra rằng mức giá tăng nhưng lại quên mất rằng thu nhập danh nghĩa cũng


này phải xuất khẩu nhiều hơn, bằng cách giảm mức tiêu dùng trong nước để thanh toán
cho số dầu nhập khẩu đắt đỏ hơn. Tại trạng thái cân bằng dài hạn mới, người công
nhân sẽ thấy rằng tiền lương của mình không theo kịp với mức tăng giá, các doanh
nghiệp thấy rằng giá hàng của mình tăng không theo kịp với mức chi phí cao hơn. Thị
trường sẽ khiến cho mức chi tiêu trong nước thực tế phải giảm xuống, nó dành nguồn
lực cho xuất khẩu để có ngoại tệ cho số dầu nhập khẩu đắt đỏ hơn.


Mọi người nhận thức được (a) tăng giá và (b) thu nhập thực tế giảm nhưng lại đưa

ra một kết luận sai lầm. Không phải lạm phát khiến mức sống của họ giảm xuống mà
là do giá dầu tăng. Lạm phát là một biểu hiện của việc mọi người lúc đầu không chấp
nhận một thực tế mới.
2.6. Tác động của lạm phát tới TTCK
Kết quả nghiên cứu của Fama và Schwert (1977), Chen, Roll, Ross (1986), Nelson
(1976), DeFina (1991) và Jaffe – Mandelker (1976) đã nhấn mạnh đến mối quan
hệ nghịch biến giữa lạm phát và giá chứng khoán. Về căn bản, TTCK sẽ hoạt động
mạnh dưới hai điều kiện: tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp. Nhưng nếu nền
kinh tế phát triển mà lạm phát tăng cao thì chưa chắc đã là tốt. Khi mối nguy lạm
phát tăng cao, các nhà phân tích đầu tư sẽ nghi ngờ về sự thịnh vượng của nền
kinh tế hay các báo cáo tăng trưởng việc làm. Lý do là họ lo sợ rằng dường như
16


đang có một sự bùng nổ lạm phát, một sự phát triển giả tạo đã được tạo nên bởi
việc dễ dãi trong tín dụng của chính quyền, do chính phủ chấp nhận một mức thâm
hụt ngân sách cao hơn và mở rộng cung tiền.
Mối quan hệ thực sự của lạm phát và giá cổ phiếu luôn là một câu hỏi thực nghiệm
hóc búa và mối quan hệ này sẽ thay đổi theo thời gian. Kinh nghiệm từ TTCK

6.149552

5.246132

Median

6.159591

5.247257

Maximum

7.036755

5.683416

Minimum

5.452411

4.780296

Std. Dev.

0.368393

0.291322

Skewness


14.52130

9.080942

Observations

108

108

Dữ liệu chúng tôi chọn theo tháng giai đoạn từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm
2013 tổng cộng mỗi biến có 108 quan sát.
2.7.2.Kiểm định tính dừng của chuỗi:
Bài nghiên cứu này sử dụng kiểm định ADF (Augmented Dickey-Fuller Test) để kiểm
định tính dừng của chuỗi dữ liệu nghiên cứu:
Kiểm định tính dừng của biến gốc
Bảng 2. Kiểm định ADF cho biến gốc CPI:
Null Hypothesis: LOG(CPI) has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 1 (Automatic - based on SIC, maxlag=12)
t-Statistic

Prob.*

Augmented Dickey-Fuller test statistic

-0.248410

0.9276


Augmented Dickey-Fuller test statistic

-2.623260

0.0915

Test critical values:

1% level

-3.493129

5% level

-2.888932

10% level

-2.581453

*MacKinnon (1996) one-sided p-values.

Với giả thuyết H0: chuỗi dữ liệu VNI không dừng (có một nghiệm đơn vị). Giả thuyết
thay thế H1: chuỗi dữ liệu VNI có tính dừng. Giá trị p-value bằng 0,0915 (>0.05)
chúng ta không đủ cơ sở để bát bỏ giả thuyết H0 như vậy chuỗi VNI không dừng.
Kiểm định tính dừng tại sai phân bậc 1 của các chuỗi dữ liệu:
Bảng 4. Kiểm định ADF của biến CPI tại sai phân bậc 1:
Null Hypothesis: D(LOG(CPI)) has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 0 (Automatic - based on SIC, maxlag=12)

Bảng5.

Kiểm

định

ADF

của

biến

VNI

tại

sai

phân

bậc

Null Hypothesis: D(LOG(VNI)) has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 0 (Automatic - based on SIC, maxlag=12)
t-Statistic

Prob.*

Augmented Dickey-Fuller test statistic

Included observations: 104
Lag

LogL

LR

FPE

AIC

0

-52.35251

NA

0.009750

1.045240

1.096094

1.065843

1

434.1948

945.0246


-8.774120

-8.418144

-8.629904

4

471.3812

2.058930

5.61e-07

-8.718870

-8.261187

-8.533449

* indicates lag order selected by the criterion
LR: sequential modified LR test statistic (each test at 5% level)
FPE: Final prediction error
AIC: Akaike information criterion
SC: Schwarz information criterion
HQ: Hannan-Quinn information criterion

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status