Luận án nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme compozit từ nhựa epoxy DER 331 và tro bay phế thải ứng dụng trong kỹ thuật điện - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Tro bay được biết đến là sản phẩm phế thải từ các nhà máy nhiệt điện trong quá
trình đốt than nhiên liệu. Nó tồn tại ở trạng thái rắn và có kích thước hạt rất nhỏ, vì
thế nó có thể bay tự do trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi
trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt của nhân dân. Ngoài ra,
tro bay còn gây thiệt hại kinh tế đáng kể khi phải sử dụng một diện tích khá lớn ao
hồ, đất canh tác nông nghiệp để làm diện tích chứa lượng phế thải này.
Gần đây, Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) đã đưa ra báo cáo về tình trạng ô
nhiễm không khí dựa trên số liệu về mức độ ô nhiễm của 1600 thành phố trên khắp
19 quốc gia thì các nước Pakistan, Ấn Độ, Ai Cập, Quatar, Bangladesh được xếp
vào danh sách các nước có bầu không khí ô nhiễm nhất thế giới. Tình trạng này xảy
ra là do quá trình khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu cho các nhà máy nhiệt
điện, các công trình xây dựng, các nhà máy công nghiệp… [113]. Điều này cho thấy
ô nhiễm không khí đang là mối đe dọa ở rất nhiều các quốc gia, trong đó có cả Việt
Nam.
Do đó, việc đặt ra mục tiêu thu hồi và xử lý tro bay thế nào là một vấn đề cấp
thiết đối với tất cả các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Trong một vài năm trở lại đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu về thành phần và
đặc tính kỹ thuật của tro bay và nhận thấy thành phần hóa học chính của tro bay
gồm nhiều oxit kim loại rất bền, có độ bền nhiệt cao, trong khi hạt tro bay có trọng
lượng nhẹ, kích thước nhỏ. Điều này rất phù hợp để lựa chọn tro bay làm phụ gia
cho bê tông hoặc làm chất độn gia cường cho các loại vật liệu khác.
Theo các số liệu thống kê trên thế giới và trong nước, hiện nay tro bay đã được
ứng dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật như trong ngành xây
dựng, ngành giao thông vận tải, trong nông nghiệp và trong vật liệu polyme
compozit. Trong đó, tro bay ứng dụng nhiều nhất phải kể đến là trong lĩnh vực xây
dựng. Nhiều công trình xây dựng lớn đã thành công khi đưa tro bay vào bê tông để
cải thiện độ bền và kết cấu như bê tông tro bay ở thành phố Marina (Chicago), bê
tông tro bay ở tháp Sears –thành phố River (Chicago)…[112].

1

1.1.1. Giới thiệu về vật liệu compozit
Vật liệu compozit là vật liệu tổ hợp của hai hay nhiều vật liệu thành phần khác
nhau về hình dạng hoặc thành phần hóa học nhằm tạo nên một vật liệu mới có tính
năng vượt trội so với từng vật liệu thành phần. Trong đó, vật liệu compozit phổ biến
gồm hai thành phần chính là vật liệu gia cường và vật liệu nền. Vật liệu gia cường
(gián đoạn) phân bố trong thành phần vật liệu nền (liên tục) [2].
Sự tổ hợp hai hay nhiều vật liệu khác nhau trong compozit nhằm tạo nên một sản
phẩm với các tính chất tối ưu, bao gồm tính chất cơ học, tính chất hóa học và tính
chất vật lý như tính dẫn nhiệt (độ dẫn nhiệt, hệ số giãn nở nhiệt, nhiệt dung riêng,
nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ chảy mềm), tính chất điện (độ dẫn điện, tổn thất điện
môi…), tính chất quang học, tính cách âm…[4].
Tính chất của vật liệu compozit không bao hàm tất cả các tính chất của các pha
thành phần khi chúng đứng riêng rẽ mà thường lựa chọn trong đó những tính chất
tốt và phát huy thêm.

Hình 1.1: Cấu trúc thành phần của vật liệu compozit

Trong hai thành phần chính của vật liệu compozit thì vật liệu nền đóng vai trò
liên kết các vật liệu gia cường rời rạc tạo nên một sản phẩm liên tục. Dưới tác dụng
ngoại lực, vật liệu gia cường là thành phần chính chịu tải trọng vì nó thường có tính
chất cơ lý cao hơn vật liệu nền. Ngược lại, vật liệu nền đóng vai trò truyền ứng suất
sang vật liệu gia cường. Ngoài ra, vật liệu nền còn có tác dụng bảo vệ chất gia
cường dưới tác dụng của môi trường hay quyết định đến độ bền nhiệt và khả năng
gia công của vật liệu compozit.
3


Do vật liệu compozit có nhiều thành phần khác nhau tạo nên, vì thế lượng sản
phẩm tạo thành là rất đa dạng. Trong khoa học, để phân loại compozit thường căn
cứ vào hai đặc điểm sau:


Tại Việt Nam, vật liệu compozit đã và đang được ứng dụng và phát triển ở hầu
hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như sử dụng vào việc chế tạo
các bồn chứa hóa chất, các linh kiện trong ô tô, xe lửa, vòm che máy bay quân sự,
các bộ phận cấy ghép trong cơ thể, các thiết bị của ngành giáo dục, giải phân cách
đường giao thông, hệ thống tàu xuồng, hệ thống máng trượt, máng hứng…[13].
Sản phẩm ứng dụng của vật liệu compozit trong các lĩnh vực khác nhau tại Việt
Nam được trình bày ở hình 1.2.

Hình 1.2: Phân bố sản phẩm compozit ứng dụng trong các lĩnh vực tại Việt Nam -2011
[110]

Hàng không

Trang trí nội ngoại thất

Thể thao

Công nghiệp và dân dụng

Hình 1.3: Một số sản phẩm ứng dụng của vật liệu compozit [110, 111]
5


1.1.2. Vật liệu compozit trên cơ sở nhựa nền polyme và chất độn hạt vô cơ
Nhựa nền:
Vật liệu compozit nền polyme có thể là các loại polyme nhiệt dẻo như
polypropylen, polyetylen, polyvinyl clorua, polyamit… hoặc nền là các polyme
nhiệt rắn như polyeste không no, vinyleste, phenolic, melamin, polyuretan,
epoxy…[11].

Các hạt gia cường với kích cỡ micromet hoặc cỡ nanomet thường có độ cứng
cao hơn vật liệu nền. Một số vật liệu gia cường dạng hạt còn có thể cải thiện các
tính chất của vật liệu compozit như giảm co ngót, chống cháy, kháng mài mòn, chịu
nhiệt…v.v
Đối với nhựa nhiệt rắn, do có cấu trúc không gian khi đóng rắn nên phân tử
không có khả năng trượt với nhau, dẫn đến vật liệu compozit nền nhựa nhiệt rắn
thường cứng và giòn. Khi đưa chất độn dạng hạt vào nhựa nhiệt rắn thì ngoài tác
dụng làm giảm lượng nhựa sử dụng, nó còn làm giảm độ giòn, làm tăng chất lượng
bề mặt cũng như tăng độ cứng. Tuy nhiên, khả năng cải thiện tính chất cơ học của
vật liệu gia cường dạng hạt phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kết dính của nó với
nhựa nền tại bề mặt ranh giới phân chia pha [2].
Sự có mặt của các vật liệu gia cường dạng hạt đặc biệt là các hạt vô cơ ảnh
hưởng đáng kể đến cấu trúc và tính chất của compozit. Ảnh hưởng đó được thể hiện
như sau:
- Làm thay đổi cấu trúc và khoảng cách giữa các nút mạng sau khi đóng rắn.
- Độn dạng hạt có thể hấp thụ nhiệt do quá trình đóng rắn tỏa ra, làm thay đổi
động học quá trình đóng rắn và tốc độ đóng rắn. Bề mặt chất độn còn hấp phụ và
thay đổi những mạch polyme đang phát triển [2].
- Làm biến đổi tính chất compozit do sự hấp phụ những thành phần có khối
lượng phân tử thấp như chất hóa dẻo.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính năng của vật liệu polyme compozit
Các yếu tố đó là:
- Bản chất của các vật liệu thành phần (vật liệu gia cường và vật liệu nền).
- Độ bền liên kết tại bề mặt tiếp xúc vật liệu nền/vật liệu gia cường.
- Hình dạng, kích thước của vật liệu gia cường.
Khi vật liệu compozit chịu tác dụng của ngoại lực, tải trọng tác dụng lên vật liệu
nền sẽ được truyền sang vật liệu gia cường qua bề mặt tiếp xúc. Nếu compozit yêu
cầu có độ bền và độ cứng cao thì vật liệu gia cường phải liên kết bền vững với vật

7



- Tăng áp suất để giúp vật liệu nền chảy tốt.
- Độ nhớt sau gia công của vật liệu nền cao (làm nguội, đóng rắn)
Như vậy, để nâng cao tính chất của sản phẩm hay cụ thể là nâng cao được các
tính chất cơ học và độ bền nhiệt của vật liệu thì hạt vô cơ cần được xử lý hoặc biến
tính nhằm cải thiện khả năng kết dính với nhựa nền polyme tại bề mặt phân chia
pha. Phương pháp xử lý hoặc biến tính này có thể làm tăng diện tính bề mặt riêng
hoặc tăng hoạt tính bề mặt của độn vô cơ với nhựa nền hữu cơ.

1.2. Nhựa nền nhiệt rắn epoxy
1.2.1. Phản ứng tổng hợp nhựa epoxy
Nhựa epoxy là một loại nhựa nhiệt rắn và được tổng hợp bằng nhiều phương
pháp khác nhau, nhưng trong đó nhựa epoxy phổ biến và quan trọng nhất là nhựa
tạo thành từ phản ứng của diphenylolpropan (DPP) hay Bisphenol A và
epiclohydrin (ECH). Phản ứng tổng hợp nhựa epoxy xảy ra theo hai giai đoạn với
xúc tác kiềm [47].
Giai đoạn 1: nhóm epoxy của epiclohydrin tác dụng với hydro của Bisphenol A.
Đây là giai đoạn kết hợp, phản ứng tỏa nhiệt mạnh, xảy ra nhanh ở nhiệt độ 60 70oC.

Giai đoạn 2: sản phẩm của giai đoạn 1 tạo ra có nhóm –OH bậc 2 ở vị trí α so
với nguyên tử clo. Ở vị trí này trong môi trường kiềm xảy ra phản ứng tách loại HCl
và tạo nhóm epoxy mới. Giai đoạn tách HCl phản ứng thu nhiệt (H = 28,09
kcal/mol), xảy ra chậm.

9


Sản phẩm epoxy trung gian tạo thành lại tiếp tục phản ứng với Bisphenol A khi
tỷ lệ mol epiclohydrin/Bisphenol A < 2 thì nhận được nhựa oligome có công thức

125 – 135

1.11:1.0

2400 - 4000

145 – 155

1.2.2. Một số loại nhựa epoxy
- Nhựa epoxydian: được tổng hợp từ epiclohydrin và Bisphenol A

- Nhựa epoxy mạch vòng no: nhận được nhờ phản ứng epoxy hóa các hợp chất chứa
nối đôi bằng peraxit axetic như 3,4-epoxy 6-metylxyclohexyl-metyl-3,4-epoxy 6metyl xyclohexan cacboxylat(Unox Epoxy 201).
10


hay vinyl xyclohexan dioxit (Unox Epoxy 206)

- Nhựa epoxyeste là sản phẩm biến tính của nhựa epoxydian bằng axit béo

- Nhựa epoxyphenolic là sản phẩm trùng ngưng giữa phenolic và epiclohydrin

Phụ thuộc vào phương pháp tổng hợp mà nhựa epoxy có nhiều loại khác nhau.
Lựa chọn loại epoxy cho các ứng dụng compozit thường dựa vào điều kiện sử dụng
sản phẩm do sự khác nhau đáng kể giữa tính chất nhiệt và tính chất cơ lý của nó
như: modun, biến dạng phá hủy, nhiệt độ thủy tinh hóa. Nhiệt độ thủy tinh hóa (Tg)
ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ sử dụng. Tg thường cao đối với những epoxy giòn,
nhưng Tg thấp hơn đối với nhựa epoxy dẻo dai. Trên thế giới mỗi hãng sản xuất lại
có cách quy ước tên gọi và mã số tương ứng riêng cho các loại epoxy. Cụ thể một
số tên thương mại của epoxy trình bày ở bảng 1.2 sau.

E40, E41, E44, EG101
Epon 1001, 1004, 1007, 1009
ED14, ED16, ED20, ED22

1.2.3. Tính chất của nhựa epoxy
Nhựa epoxy khi chưa đóng rắn có màu từ vàng sáng đến trong suốt, ở dạng lỏng
(M

14


Trong phản ứng đóng rắn epoxy bằng amin cần chú ý đến điều kiện đóng rắn
cực đại. Để có sự đóng rắn cực đại (phản ứng hoàn toàn) thì số đương lượng gam
của epoxy (dựa trên số nhóm chức epoxy) phải bằng số đương lượng gam của amin
(dựa trên số H linh động của amin). Nghĩa là cứ một nhóm epoxy sẽ phản ứng với
một H linh động của amin. Một cách tổng quát để phản ứng khâu mạch diễn ra được
thì độ chức trung bình của hai tác nhân phải  2 và số nhóm chức trên mỗi chất là 
2.
Một số chất đóng rắn amin thẳng hay dùng là dietylentriamin (DETA),
trietylentetra amin(TETA), polyetylen polyamin (PEPA)….Tuy nhiên, nhược điểm
của các amin thẳng là dễ hút ẩm, mùi khó chịu và độc. Trong môi trường ẩm thường
tạo cacbamat không hòa tan làm bề mặt vật liệu mờ đục.
Ngoài ra còn có một số các amin thơm sau cũng hay được sử dụng để đóng rắn
nhựa epoxy:
Một số amin thơm:

4,4’- Diaminodiphenylmetan

4,4’ –Diaminodiphenylsulfon 4,4’ –

MDA,DDM

DDS

m- Phenylendiamin MPD

- Chất đóng rắn anhydrit axit: So với chất đóng rắn amin, chất đóng rắn


Metyltetrahydrophtalic

Metyl hexahydrophtalic anhydrit

anhydrit (MTHPA)

(MHHPA)
16


 Chất đóng rắn trùng hợp
Chất đóng rắn trùng hợp có tác dụng xúc tác mở vòng để thực hiện phản ứng
trùng hợp cation và anion.
+ Trùng hợp cation: được khởi đầu bởi axit Lewis như BF3, TiCl4, phức
BF3O(C2H5)
Cơ chế trùng hợp: Đầu tiên chất khởi đầu tạo phức với oxi của vòng epoxy tạo
thành phức không bền, sau đó phức này nhanh chóng chuyển thành ioncacboni hay
oxoni (trung tâm tham gia phản ứng trùng hợp)

+ Trùng hợp anion: dễ điều khiển hơn so với trùng hợp cation, phản ứng
được điều chỉnh bởi amin bậc 3

1.2.5. Ứng dụng của nhựa epoxy
Nhờ khả năng linh hoạt của các nhóm chức nên nhựa epoxy được ứng dụng rộng
rãi trong một số ngành công nghiệp [68, 70] như:
- Công nghiệp sơn và màng phủ chống ăn mòn.
- Vật liệu cách điện do khả năng chịu nhiệt và cách điện tốt.
17


chiếm một phần nhỏ so với tổng hàm lượng tro. Tuy nhiên, phần trăm khối lượng
của các oxit trong tro bay và hàm lượng than chưa cháy phụ thuộc chính vào nguồn
than đá đốt và điều kiện đốt cháy than trong các nhà máy nhiệt điện.
Ví dụ ở Việt Nam, nguồn cung cấp than nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện
sử dụng thường là loại than chất lượng thấp, có độ tro lớn hơn 32%, thậm chí đến
45% nên các nhà máy nhiệt điện thải ra một lượng tro thải khá lớn, có thể từ 2018


30% lượng than sử dụng. Đặc thù than antraxit của Việt Nam được sử dụng tại các
nhà máy nhiệt điện có hàm lượng chất bốc thấp, chỉ từ 10-15%. Trong khi đó, độ tro
trong than đầu vào, hiệu suất của lò hơi đốt loại than này thường nhỏ, tro thải sau
quá trình đốt than antraxit còn tồn tại khá lớn, hàm lượng than chưa cháy hết có thể
lên đến 30% [7].
Tại Malaysia, do nguồn than đốt của hai nhà máy nhiệt điện Manjung- Perak và
Kapar- Selangor khác nhau nên thành phần hóa học của các oxit có trong tro bay
cũng có sự thay đổi rõ rệt. Sự biến đổi thành phần hóa học của tro bay tại hai nhà
máy nhiệt điện này được trình bày ở bảng 1.3.
Bảng 1.3: Thành phần hóa học của tro bay tại
hai nhà máy nhiệt điện khác nhau của Malaysia [53]

Thành
phần
SiO2
Al2O3
Fe2O3
TiO2
CaO
Na2O
K2 O
P2O5

Từ bảng 1.3 nhận thấy, tro bay tại nhà máy nhiệt Manjung – Perak có tổng thành
phần các oxit kim loại (SiO2, Al2O3, Fe2O3) chiếm 65,78% tổng khối lượng thành
phần, thành phần CaO chiếm tới 21,60%, trong khi tổng thành phần các oxit kim
loại trên ở tro bay của nhà máy nhiệt Kapar – Selangor lại chiếm đến 83,09% và
thành phần CaO chiếm có 2,61% chỉ bằng 1/10 so với phần trăm khối lượng CaO đã
có trong tro bay của nhà máy nhiệt điện Manjung. Điều đó cho thấy việc sử dụng
nguồn gốc than đốt là rất quan trọng.
Để phân loại tro bay, hiện nay trên thế giới thường phân loại dựa theo tiêu
chuẩn ASTM C618, theo đó, tro bay được phân thành hai loại chính là loại F và
loại C. Cơ sở của sự phân loại này phụ thuộc vào tổng hàm lượng các oxit (SiO2,
Al2O3, Fe2O3) có trong tro bay. Nếu tổng hàm lượng các oxit này lớn hơn 70% là
19


loại F, còn nhỏ hơn là loại C [9]. Cụ thể, sự phân loại tro bay tại 3 nước Malaysia,
Thái Lan và Ả Rập Saudi được ghi nhận ở bảng 1.4.
Bảng 1.4: Thành phần hóa học của tro bay tại các nước khác nhau [53]

Phần trăm thành phần hóa học chính (%)
SiO2 Al2O3 Fe2O3 CaO MgO Na2O Mất khi
nung
Malaysia
52,11 23,59 7,39 2,61 0,78 1,20
1,83
tro bay loại F
83,09
Thái Lan
20,90 4,80 3,40 65,40 1,20 0,60
1,00
tro bay loại C

Về cấu trúc:
Tro bay thường có dạng hình cầu mịn, bề mặt trơn, nhẵn. Hạt cầu tro bay có thể
rỗng hoặc đặc tùy thuộc vào tỷ trọng của nó. Dạng hạt cầu rỗng thường rất nhẹ và
có tỷ trọng < 1, còn dạng hạt cầu đặc có tỷ trọng từ 2  2,5 [9]. Các hạt cầu đặc
thường có kích thước lớn và bên trong chứa tập hợp các hạt vi cầu nhỏ có kích
thước khác nhau. Vì thế, giản đồ phân bố kích thước của tro bay khá rộng. Kích
thước của nó có thể vài m đến hơn 300m, tùy thuộc vào từng loại than đốt và đặc
điểm các vùng miền khác nhau. Màu sắc của tro bay thường là màu ghi xám hoặc
sáng. Khi tro bay được nung ở nhiệt độ trên 1000oC nó có thể chuyển thành màu
vàng hoặc màu đỏ.

Hình 1.6: Màu sắc và hình thái cấu trúc của tro bay

Loại tro bay và kích cỡ của hạt tro bay là yếu tố quan trọng quyết định đến các
ứng dụng của nó. Tro bay có kích thước nhỏ cỡ nm thường được sử dụng làm chất
độn cho vật liệu polyme compozit ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ cao. Trong
khi tro bay có kích thước lớn cỡ vài chục m lại được sử dụng phổ biến trong lĩnh
vực nông nghiệp, xây dựng…[81].
1.3.2. Những ứng dụng thực tế trong khoa học, đời sống của tro bay
1.3.2.1. Ứng dụng của tro bay trên thế giới
Hiện nay, vấn đề nguồn nguyên liệu khan hiếm và bảo vệ môi trường đang là
mối quan tâm của toàn cầu. Việc tìm kiếm, khai thác nguồn nguyên vật liệu mới hay
hạn chế sự phát thải, tái sử dụng các chất phế thải từ các hoạt động công nghiệp là
việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học. Trong khi nhu cầu tiêu thụ điện năng
trên thế giới không ngừng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì nhiều
nguồn cung cấp điện mới cũng đã phát triển như năng lượng mặt trời, năng lượng
hạt nhân, năng lượng gió…Tuy nhiên các nguồn năng lượng này mới được phát
21




2020

73,01

3

2025

94,63

4

2030

120,50

5

2035

143,72

6

2040

158,02

7

Tro bay ứng dụng trong sản xuất xi măng và bê tông: do các hạt tro bay có
dạng hình cầu, kích thước nhỏ, độ hoạt tính lớn cùng với lượng SiO2 nhiều nên khi
kết hợp với xi măng tạo ra sản phẩm bê tông có độ cứng vượt trội, có khả năng
chống thấm cao, có tính bền sulfat, rút ngắn tiến độ thi công do không phải xử lý
nhiệt và làm giảm tỉ trọng của bê tông một cách đáng kể [104]. Tro bay có thể thay
thế tới 20% xi măng tùy thuộc vào kích thước hạt và chất lượng của hạt [96]. Tính
đến nay đã có nhiều công trình xây dựng lớn được hoàn thành khi sử dụng tro bay,
đem lại nhiều lợi ích kinh tế như công trình Đập Tomisato cao 111m ở Nhật Bản
được xây dựng từ những năm 1950 đã sử dụng 60% tro bay thay thế xi măng. Tại
Trung Quốc, tro bay được đưa vào công trình xây dựng đập thủy điện từ những năm

23


1980; công trình Azure trị giá 100 triệu USD hoàn thành năm 2005 đã sử dụng 35%
tro bay thay thế xi măng [112].
 Tro bay ứng dụng trong lĩnh vực xây dựng [91]: làm nền đường và lấp các
lỗ hổng của các mỏ sau khi không còn khai thác để hạn chế và phòng tránh sự sụt
lún nền đất của công trình. Hơn nữa, tro bay được trộn với nước vôi và các vật liệu
liên kết khác tạo thành vật liệu mới có thể làm đường bền và cứng hơn đất tự nhiên,
đặc biệt đối với loại đường asphalt [112].
 Tro bay ứng dụng trong công nghệ xử lý chất thải: nhờ phản ứng puzolan
của tro bay khi kết hợp với xi măng nên nó được sử dụng để làm rắn chất thải lỏng,
bùn công nghiệp và bùn sinh học trong quá trình xử lý nước thải. Phản ứng này làm
giảm khả năng rò rỉ các chất độc hại trong bùn thải, đặc biệt là các chất thải có chứa
kim loại nặng nhờ việc làm khô đóng bánh chất thải [3, 23].
 Tro bay ứng dụng trong quá trình cải tạo đất nông nghiệp: trong nông
nghiệp đất có chất lượng xấu sẽ được trộn với tro bay để tăng cường các đặc tính
thoát nước và giữ nước, tăng cường khả năng tăng trưởng của thực vật nhờ trong tro
bay có chứa một số chất mà thực vật cần. Tro của lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB)

Hình1.8: Sản phẩm ứng dụng của tro bay trong xây dựng

Bàn coffee từ tro bay và nylon 6

Ghế từ tro bay

Ống từ tro bay

Hình 1.9: Một số sản phẩm ứng dụng tro bay trong vật liệu compozit

1.3.2.2. Ứng dụng của tro bay tại Việt Nam
Cũng giống như các nước trên thế giới, tại Việt Nam, phần lớn tro bay được ứng
dụng trong lĩnh vực xây dựng cầu đường, các công trình thủy điện. Tuy nhiên tro
bay tại Việt Nam không được thu hồi và sử dụng trực tiếp từ các nhà máy nhiệt điện
do lượng than chưa cháy còn cao mà được vớt lên từ các hồ chứa thải, sau đó tro
bay được tuyển nổi rồi mới đưa vào sử dụng.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status