SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2014 - 2015
I. TÊN SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP, LIÊN MÔN
THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC BÀI “CÔNG DÂN VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ
CẤP THIẾT CỦA NHÂN LOẠI” - MÔN GDCD 10.
II. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
- Họ và tên: VŨ THỊ LỆ HẰNG
- Chức danh: Giáo viên
- Địa chỉ: Trường THPT Kim Sơn A
III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Giải pháp cũ thường làm:
Một trong những môn học có vai trò trong việc “đào tạo những người lao
động mới vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức, vừa có năng lực hoạt động
thực tiễn, vừa có phẩm chất chính trị, tư tưởng, vừa có ý thức trách nhiệm đối với
cộng đồng, gia đình và với chính bản thân mình” - đó là môn GDCD. Môn GDCD
có những đặc trưng của một môn khoa học xã hội - nhân văn, trong đó có những
đặc điểm nổi trội mà chúng ta cần quán triệt trong quá trình dạy học, đó là tính
thực tiễn, tính giáo dục và tính tích hợp.
Tuy nhiên, trong thực tế từ trước đến nay, môn GDCD luôn bị coi là một
môn học chính trị thuần tuý, môn phụ, có vai trò, vị trí thứ yếu trong nhà trường,
nên hiệu quả giáo dục thấp. Thực trạng đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân cơ bản là phương pháp dạy học.
Với “quan niệm” GDCD là môn phụ vì vậy giáo viên cũng đầu tư không
nhiều trong khâu tìm kiếm tư liệu, xây dựng tiến trình bài dạy với những PPDH,
KTDH tích cực. Cấu trúc một bài soạn GDCD theo phương pháp truyền thống là
sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết, đầy đủ những việc làm của
giáo viên và học sinh theo một trình tự nhất định. Nội dung của giáo án được giáo
viên trích dẫn hay giảng giải từ nội dung của SGK, khi lên lớp giáo viên cứ việc
tuân theo giáo án mà thực hiện từ đầu đến kết thúc.
Thông thường giáo án soạn theo phương pháp cũ được giáo viên xây dựng
theo cấu trúc của một giờ học gồm các bước như sau:
kiểm tra việc lĩnh hội tri thức.
- Ưu điểm: Nếu vận dụng khéo léo phương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng:
+ Điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích
cực hoạt động nhận thức của họ.
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học
một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích.
+ Giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh, gọn,
để kịp điều chỉnh hoạt động của mình và của học sinh. Đồng thời qua đó mà học
sinh cũng thu được tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức - học
tập của mình. Ngoài ra, thông qua đó mà giáo viên có khả năng chỉ đạo hoạt động
nhận thức của cả lớp và của từng học sinh.
2
- Nhược điểm: Nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh
hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa giáo viên và
một vài học sinh, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung. Nếu câu
hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến
sự phát triển tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của học sinh.
Mục đích của bài soạn này là làm sao truyền thụ được nội dung thông tin
định sẵn theo ý muốn chủ quan của giáo viên. Để đạt được mục đích đó, giáo viên
sắp xếp một cách lôgic kết cấu bài soạn sao cho thích hợp với nội dung cần truyền
đạt. Nội dung cần truyền đạt này chỉ căn cứ vào nội dung bài học trong SGK. Như
vậy, lôgic của bài soạn chỉ dựa vào SGK và lập luận của người trình bày mà không
tính đến khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh vốn là nhân vật trung tâm của
hoạt động dạy - học.
Vì vậy, phải đổi mới từng bước PPDH bộ môn đặc biệt là phải vận dụng
được các PPDH, KTDH tích cực vào quá trình giảng dạy giúp học sinh chiếm lĩnh
kiến thức đó bằng tư duy lôgic, tính tích cực, chủ động, sáng tạo.
Do đó, tôi đã Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp, liên môn thiết kế tiến
dục quốc dân”.
Một quan điểm mới, hiện đại trong dạy và học hiện nay là dạy học theo chủ
đề, dạy học tích hợp và tích hợp liên môn. Tích hợp là một trong những quan điểm
giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường
phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới.
Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá
trình học tập và quá trình dạy học.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng việc hiểu đúng và làm đúng quá
trình tích hợp sẽ giúp nâng cao năng lực của người học, đào tạo những người có
đầy đủ phẩm chất, năng lực vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp
của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết các tình huống
khác nhau trong cuộc sống hiện đại và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn
đối với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng
rẽ. Đồng thời dạy học tích hợp, liên môn giúp hình thành và phát triển ở học sinh
các năng lực cần thiết của một người lao động trong tương lai như: NL tự học; NL
giải quyết vấn đề; NL sáng tạo; NL hợp tác; NL giao tiếp; NL sử dụng CNTT và
truyền thông….
2.1. Khái quát về quan điểm dạy học tích hợp liên môn
2.1.1. Các khái niệm cơ bản
a) Tích hợp:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa
là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau
trong cùng một kế hoạch dạy học”.
4
- Dạy cho học sinh sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: thay vì tham
nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng
tập dượt cho học sinh vận dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống
thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, có năng
lực sống tự lập.
5
- Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học: trong quá trình học tập,
học sinh có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau
trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biết đặt các khái niệm đã học trong những
mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học
khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có
như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được
kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa
từng gặp.
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: cái cốt yếu là những năng
lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong
cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo.
2.1.3. Đặc điểm của dạy học tích hợp liên môn:
a) Lấy người học làm trung tâm:
Dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng
yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục, có khả năng định hướng việc tổ chức quá
trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học. Dạy học lấy
người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, họ phải tự
học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học
không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên
mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động rồi
từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá học để hành, hành để học, tức
là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân.
đó hay kỹ năng nhằm đáp ứng được mục tiêu bài học. Do đó, việc dạy kiến thức lý
thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự
phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học.
Trong dạy học tích hợp, lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học về những vấn
đề cơ bản. Hơn nữa, việc dạy lý thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lý thuyết
suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn. Do đó, cần gắn lý thuyết
với thực hành trong quá trình dạy học. Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi
kỹ năng, kỹ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lý
thuyết. Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lý
luận gắn với thực tiễn.
Trong dạy học tích hợp liên môn, người học được đặt vào những tình huống
của đời sống thực tế, người học phải biết vận dụng linh hoạt khối lượng kiến thức
phức hợp của các môn học để giải quyết.
Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn,...và
phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất
yếu của sự vật, hiện tượng. Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm
được phương pháp thực hành. Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt
kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành.
2.1.4. Một số quan điểm DH trong tổ chức DH tích hợp liên môn:
a) Dạy học giải quyết vấn đề:
7
* Khái niệm: Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo
viên áp dụng trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá độc
lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt
động của học sinh nhằm giải quyết các vấn đề.
* Đặc trưng của dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề
gồm có bốn đặc trưng sau:
Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp thực tế của lời giải.
Kiểm tra tính hợp lý hoặc tối ưu của lời giải.
Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả.
Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật
ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể.
* Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước:
Bước 1: Đưa ra vấn đề: Đưa ra các nhiệm vụ, tình huống và mục đích của hoạt
động.
Bước 2: Nghiên cứu vấn đề: Thu thập hiểu biết của học sinh, nghiên cứu tài liệu.
Bước 3: Giải quyết vấn đề: Đưa ra lời giải, đánh giá chọn phương án tối ưu.
Bước 4: Vận dụng: Vận dụng kết quả để giải quyết bài tình huống, vấn đề tương
tự.
- Quá trình dạy học theo quan điểm GQVĐ bao gồm nhiều hình thức tổ chức
đa dạng: Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách tổ chức đa dạng lôi cuốn
người học tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự dẫn dắt, gợi mở, cố
vấn của giáo viên; Ví dụ:
+ Làm việc theo nhóm nhỏ (trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi…).
+ Thực hiện những kỹ thuật hỗ trợ tranh luận (ngồi vòng tròn, chia nhóm
nhỏ theo những ý kiến cùng loại...).
+ Tấn công não (brain storming), đây thường là bước thứ nhất trong sự tìm
tòi giải quyết vấn đề (người học thường được yêu cầu suy nghĩ, đề ra những ý hoặc
giải pháp ở mức độ tối đa có thể có của mình).
+ Báo cáo và trình bày (thực hiện nhiều cách làm, từ cá nhân viết, trình bày
ở nhóm nhỏ, báo cáo của nhóm trước cả lớp...).
9
- Có nhiều mức độ tích cực tham gia của học sinh khác nhau: Tùy theo mức
độ độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề, người ta đề cập đến các
+ Kiểm tra, điều chỉnh hành động.
- Vận dụng lý thuyết hoạt động vào hoạt động dạy học tức là phải coi học
sinh là chủ thể của mọi hoạt động học tập (học lý thuyết, học thực hành, thực tập
sản xuất, học các hoạt động văn hóa, xã hội...), giáo viên cần phải xây dựng nên
nội dung hoạt động đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo thể hiện thành hệ thống
những nhiệm vụ cụ thể và tổ chức hoạt động của học sinh thực sự có kết quả.
- Trọng tâm kiểu dạy học định hướng hoạt động là tổ chức quá trình dạy học
mà trong đó học sinh hoạt động để tạo ra một sản phẩm. Thông qua đó phát triển
được các năng lực hoạt động nghề nghiệp. Các bản chất cụ thể như sau:
+ Dạy học định hướng hoạt động là tổ chức học sinh hoạt động mang tính
trọn vẹn, mà trong đó học sinh độc lập thiết kế kế hoạch qui trình hoạt động, thực
hiện hoạt động theo kế hoạch và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động.
+ Tổ chức quá trình dạy học, mà trong đó học sinh học thông qua hoạt động
độc lập ít nhất là theo qui trình cách thức của họ.
+ Học qua các hoạt động cụ thể mà kết quả của hoạt động đó không nhất
thiết tuyệt đối mà có tính chất là mở (các kết quả hoạt động có thể khác nhau).
+ Tổ chức tiến hành giờ học hướng đến mục tiêu hình thành ở học sinh kỹ
năng giải quyết nhiệm vụ học tập.
+ Kết quả bài dạy học định hướng hoạt động tạo ra được sản phẩm vật chất
hay ý tưởng.
+ Về khía cạnh phương pháp dạy học. Giờ học theo kiểu định hướng hoạt
động được tổ chức theo quy trình 4 giai đoạn sau:
11
Giai đoạn 1: Đưa ra vấn đề nhiệm vụ bài dạy - Trình bày yêu cầu về kết quả học
tập (sản phẩm):
Ở giai đoạn này, giáo viên đưa ra nhiệm vụ bài dạy để học sinh ý thức được
sản phẩm hoạt động cần thực hiện trong bài dạy và yêu cầu cần đạt được. Hình
+ Thao tác mẫu của GV.
12
+ Trình bày tổng quát qui trình đã lập.
+ Thao tác thử của HS.
+ Đánh giá thao tác thử của HS.
+ Lưu ý các lỗi thường gặp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, phòng
tránh.
+ Trang bị kiến thức lý thuyết cần thiết.
+ Tùy theo mức độ đơn giản hay phức tạp của vấn đề đặt ra mà các kỹ năng
cần hình thành được tổ chức hợp lý.
Giai đoạn 4: Tổ chức đánh giá:
Bước cuối cùng của dạy học định hướng hoạt động là GV tổ chức đánh giá
quá trình giải quyết vấn đề. Nội dung đánh giá bao gồm:
+ Về kỹ năng: Mức độ hình thành các kỹ năng của bài học. Thông qua quá
trình theo dõi HS luyện tập GV đã nắm bắt thao tác của từng HS, sản phẩm thu
được của các em so với sản phẩm mẫu.
+ Về kiến thức: Mức độ lĩnh hội các kiến thức lý thuyết mới cũng như mức
độ vận dụng kiến thức đã học vào quá trình luyện tập.
+ Về thái độ: GV đã quan sát thái độ học tập của HS từ giai đoạn đầu đến
giai đoạn cuối ra sao, diễn biến tâm lý có đúng như dự đoán của GV không. Thái
độ học tập của biểu hiện qua tinh thần học tập hăng say, tích cực hay thụ động,
miễn cưỡng... tò mò khoa học, muốn hỏi nhiều điều hay chỉ dừng lại ở thắc mắc
trong đầu...
Ngoài ra GV có thể đánh giá thêm về tiến độ thời gian, về độ khó của vấn đề
trên tinh thần động viên HS học tốt hơn sau này.
2.1.5. Quy trình tổ chức dạy học tích hợp liên môn:
Từ cơ sở lý luận về dạy học tích hợp, thì quy trình tổ chức dạy học tích hợp
như sau:
năng riêng rẽ của từng phân môn mà còn chiếm lĩnh tri thức và phát triển năng lực
tích hợp.
b) Tổ chức giờ dạy vận dụng kiến thức liên môn:
- Tổ chức giờ học trên lớp là tiến trình thực thi bản kế hoạch phối hợp hữu
cơ hoạt động của giáo viên và học sinh theo một cơ cấu sư phạm hợp lí, khoa học,
trong đó giáo viên giữ vai trò, chức năng tổ chức, hướng dẫn, định hướng chứ
không phải truyền thụ áp đặt một chiều, học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của
quá trình tiếp nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ, nhận thức thẩm mĩ, trực tiếp tiến
hành hoạt động tiếp cận, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức.
14
- Tổ chức hoạt động đọc hiểu vận dụng kiến thức liên môn trên lớp, giáo
viên phải chú trọng mối quan hệ giữa học sinh và nội dung dạy học, phải coi đây
là mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong cơ chế giờ học. Muốn vậy, giáo
viên phải từ bỏ vai trò, chức năng truyền thống là truyền đạt kiến thức có sẵn cho
học sinh, còn học sinh không thể duy trì thói quen nghe giảng, ghi chép, học thuộc,
rồi “làm bài” theo lối tái hiện, sao chép, làm thui chột dần năng lực tư duy sáng
tạo, khả năng tự đọc, tự tìm tòi, xử lí thông tin, tổ chức các kiến thức một cách
sáng tạo.
- Tổ chức chủ đề tích hợp liên môn tuyệt đối không cho học sinh biết trước
hệ thống câu hỏi và nội dung kiến thức mà chúng ta chỉ thông báo chủ đề dạy học
để các em tự tìm tòi, khám phá nội dung liên quan.
2.2. Vận dụng quan điểm DH tích hợp liên môn thiết kế tiến trình dạy học
bài “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA NHÂN LOẠI”- BÀI 15 - CHƯƠNG
TRÌNH GDCD PHỔ THÔNG LỚP 10
BÀI 15: CÔNG DÂN VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT
CỦA NHÂN LOẠI (TIẾT 1) – GDCD 10
I. MỤC TIÊU DẠY HỌC:
vững.
3. Môn Hóa học: (Bài Ô nhiễm đất do phân hóa học và thuốc bảo vệ thực
vật – Hóa học 10):
- Nêu được nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường.
- Có ý thức tuyên truyền về việc sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực
vật đúng liều lượng và quy cách.
4. Môn Công nghệ: (Bài 19: Ảnh hưởng của thuốc hóa học và bảo vệ thực
vật đến quần thể sinh vật và môi trường – Công Nghệ 10):
- Nêu được ảnh hưởng của thuốc hóa học bảo vệ thực vật đến môi trường.
- Nêu được các biện pháp hạn chế những ảnh hưởng xấu của thuốc hóa học
bảo vệ thực vật.
5. Môn Sinh học: (Bài 53: Tác động của con người đối với môi trường; Bài
54-55: Ô nhiễm môi trường; Bài 56: Thực hành tìm hiểu môi trường địa phương –
Sinh học 9):
- Hoạt động của con người làm thay đổi thiên nhiên.
- Nguyên nhân gây ô nhiễm, từ đó có ý thức bảo vệ môi trường.
- Hiệu quả của việc phát triển môi trường bền vững.
6. Môn Ngữ văn:
- Học sinh biết kể những câu chuyện, tấm gương có liên quan đến vấn đề
bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
- Giáo dục thái độ yêu quý, ca ngợi những tấm gương tiêu biểu trong hoạt
động bảo vệ môi trường.
=> Học sinh cần có năng lực vận dụng kiến thức liên môn Giáo dục công
dân với Địa lý, Hóa học, Công nghệ, Sinh học, Ngữ văn và các kiến thức xã hội
vào bài học.
16
II. CÁC NĂNG LỰC HƯỚNG TỚI HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ở HS:
Cách tổ chức dạy học theo nhóm và thực hiện ngoài lớp học
(Nhiệm vụ của các nhóm là sưu tầm và tạo các Slide trước 1 tuần cho các nội
dung sau):
a) Mục tiêu: Học sinh vận dụng kiến thức của các môn học như:
- Môn Địa lý: tìm hiểu một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường đó là sự phát triển của các khu công nghiệp.
17
- Môn Công nghệ: tìm hiểu một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường là do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; Biện pháp hạn chế những ảnh hưởng
xấu của thuốc bảo vệ thực vật.
- Môn Hóa học: dựa vào kiến thức hóa học để nhận biết được mức độ ô
nhiễm của môi trường như qua quan sát: Căn cứ vào mùi và tác dụng sinh lí đặc
trưng của một số khí ta dễ dàng nhận ra không khí bị ô nhiễm. Ví dụ: Trong phòng
thí nghiệm hoặc trong lớp học sau thí nghiệm ta dễ dàng nhận thấy một số khí như:
không khí có chứa khí clo thì ta thấy mùi hắc, khó chịu, không khí có khí sunfurơ
sẽ có mùi sốc, khó chịu, không khí có chứa khí H2S sẽ có mùi trứng thối đặc trưng,
nếu có khí NH3 thì ta ngửi thấy có mùi khai; Xác định các chất ô nhiễm bằng thuốc
khử, ví dụ: Để xác định trong nước có các chất và ion (gốc axit hoặc các ion kim
loại) cần sử dụng những thuốc thử hoặc đến những nơi có thể xác định được thành
phần của nước, để xác định: Các ion kim loại nặng (hàm lượng là bao nhiêu?);
Nồng độ của một số ion Ca2+,Mg2+ gây nên độ cứng của nước; Độ pH của nước.
Xác định bằng các dung cụ đo, ví dụ: Dùng nhiệt kế để xác định nhiệt độ của nước;
dùng sắc kí để xác định các ion kim loại hoặc các ion khác; dùng máy đo pH để
xác định độ pH của đất, nước,....
- Các kiến thức xã hội để nêu ra được các biện pháp mà người dân cũng như
chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương huyện Kim Sơn để bảo vệ môi
- Bước 4: Báo cáo kết quả thực hiện dự án.
* Giáo viên nhắc nhở các nhóm chuẩn bị tốt dự án của mình để tuần sau báo
cáo.
HOẠT ĐỘNG 2: TÌM HIỂU SỰ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
(Tích hợp mô Địa lý, Công nghệ, Hóa học)
Cách tổ chức hoạt động theo nhóm và thực hiện trên lớp học
a) Mục tiêu: Nêu được Môi trường là gì? Vai trò I. Ô nhiễm môi trường và
của môi trường đối với cuộc sống của con người; Ô trách nhiệm của công dân
nhiễm môi trường là gì? Nguyên nhân, hậu quả của trong việc bảo vệ môi trường
ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi
trường.
1. Ô nhiễm môi trường
b) Phương pháp: Thảo luận lớp + nhóm.
c) Cách thực hiện:
GV: cho học sinh quan sát hình ảnh sưu tầm: Đất;
Nước; Sinh vật; Nhà cửa; Phương tiện giao thông.
(Slide 2).
HỎI: Nội dung của những hình ảnh trên?
HS:……….
GV: Đó là những yếu tố tồn tại xung quanh con
người, nó tác động lẫn nhau và có ảnh hưởng tới đời
sống của con người. Các yếu tố đó tạo nên môi
trường.
HỎI: Dựa vào kiến thức Địa lý đã học em hãy cho
biết môi trường là gì?
a) Môi trường là gì?
Môi trường là tất cả các
19
- Giao nhiệm vụ cho các nhóm. Cụ thể:
+ Nhóm 1,2,3: Hãy kể tên các yếu tố tự nhiên
của môi trường? (Chiếu Slide 3).
+ Nhóm 4,5,6: Hãy kể tên các yếu tố nhân tạo
của môi trường? (Chiếu Slide 3).
HS:……..
GV: Yêu cầu các nhóm nhận xét, bổ sung.
GV: Nhận xét, kết luận, ghi bảng.
GV: Tổ chức học sinh làm việc theo nhóm cùng
thực hiện một nhiệm vụ “Dựa vào kiến thức Địa lý
b) Vai trò của môi trường:
lớp 10 đã học, em hãy cho biết vai trò của môi
- Cung cấp phương tiện
trường đối với cuộc sống của con người”. (Chiếu sinh sống cho con người.
Slide 4).
- Giáo viên chia lớp thành 6 nhóm.
- Tạo cơ sở vật chất để phát
triển xã hội.
- Quy định thời gian thảo luận là 3 phút.
HS: Trao đổi, làm việc nhóm.
GV: Yêu cầu đại diện một nhóm báo cáo, các nhóm
20
khác nhận xét, bổ sung (nếu có).
GV: Nhận xét, kết luận (Chiếu Slide 5).
HS: Mưa axit là do khói của phương tiện giao
thông, của các nhà máy thải ra không khí, trong khói
có chứa một lượng lưu huỳnh đioxit (SO2) và nitơ
21
đioxit (NO2) Các khí này hòa tan với hơi nước trong
không khí tạo thành các axit sunfuaric (H2SO4) và
axit nitric(HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này tan
lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm.
Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa
axit.
- Mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao
giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy
yếu hoặc chết hoàn toàn; ảnh hưởng xấu tới đất do
nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất,
hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây
như canxi (Ca), magiê (Mg),... làm suy thoái đất,
cây cối kém phát triển.
- Mưa axit ảnh hưởng đến hệ thực vật trên trái
đất, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho
năng suất thấp.
GV: Minh họa hình ảnh quá trình tạo nên mưa axit
và hậu quả của mưa axit. (Chiếu Slide 12, 13).
HỎI: Bằng kiến thức môn Hóa học em hãy giải
thích hiện tượng thủng tầng ôzôn?
HS:……………..
GV: Sự suy giảm tầng ôzôn là hiện tượng giảm
lượng ôzôn trong tầng bình lưu. Từ năm1979 cho
đến năm 1990 lượng ôzôn trong tầng bình lưu đã
tiêu chuẩn môi trường , gây
ảnh hưởng xấu đến con người
và sinh vật.
HOẠT ĐỘNG 3: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG DÂN
(Tích hợp môn Hóa học, Công nghệ, Sinh học, Ngữ Văn)
Cách tổ chức hoạt động theo nhóm và thực hiện trên lớp học
Hoạt động của GV và HS
Nội dung
a) Mục tiêu: Trình bày được thế nào là bảo vệ 2. Bảo vệ môi trường
môi trường; Các biện pháp bảo vệ môi trường;
Trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ
môi trường.
b) Phương pháp: Thảo luận nhóm.
c) Cách thực hiện:
GV: Cho sinh xem một số hình ảnh về bảo vệ
môi trường. (Slide 15)
HS: Quan sát.
HỎI: Nội dung của những hình ảnh trên? Ý
nghĩa của những việc làm đó?
HS:………
HỎI: Vậy em hiểu bảo vệ môi trường là gì?
a) Bảo vệ môi trường là:
(Tích hợp môn Địa lý).
- Giữ gìn, cải thiện môi
- Hướng dẫn học sinh sử dụng kĩ thuật “khăn
trải bàn” để thực hiện nhiệm vụ. Mỗi nhóm có
một bảng phụ, chia bảng phụ thành phần chính
giữa và phần xung quanh thành các phần tương
ứng với số thành viên của mỗi nhóm . Mỗi
thành viên suy nghĩ và viết các ý tưởng của
mình vào phần cạnh “khăn trải bàn”.
- Thảo luận nhóm tìm ra ý tưởng chung và
viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”.
- Đại diện 1-2 nhóm trình bày.
- Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
GV: Nhận xét, bổ sung, kết luận.
HỎI: Vậy là công dân em thấy mình phải có
b) Trách nhiệm của công dân
trách nhiệm như thế nào trong việc bảo vệ môi trong việc bảo vệ môi trường:
trường?
- Thực hiện tốt pháp luật và các
HS:…………..
chính sách của Nhà nước về bảo
HỎI: Hãy kể một tấm gương tiêu biểu đã có vệ môi trường.
việc làm bảo vệ môi trường mà em biết? (Tích - Giữ gìn vệ sinh lớp học, nơi ở.
24
hợp môn Ngữ Văn).
hợp với khả năng của bản thân.
- Biết đánh giá thái độ, hành vi của bản thân và của người khác trong việc
thực hiện chính sách dân số.
3. Về thái độ:
25