CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ, KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THI HÀNH ÁN - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ, KÊ BIÊN, XỬ
LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THI HÀNH ÁN


MỤC LỤC

Trang 2 / 31


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của
các bên đã được bản án, quyết định của Tòa án ghi nhận. Vì vậy, các bên đương
sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ
dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, khi người phải thi hành án
mặc dù có điều kiện thi hành án nhưng tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không
tự nguyện thi hành án, thì buộc cơ quan cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng
chế thi hành án, thể hiện quyền năng của cơ quan thi hành án, bảo đảm tính
nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo bản án được thi hành nghiêm chỉnh,
đúng pháp luật. Và biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án là một trong những hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các
quan hệ xã hội bị xâm hại. Hiệu quả của việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là
cơ sở, tiền đề cho sự thành công và hiệu quả của một vụ thi hành án về tài sản khi
đương sự không tự nguyện thi hành.
Trong giai đoạn hiện nay, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án

án dân sự năm 2014.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về biện pháp
cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án để thấy được vai trò
quan trọng của biện pháp này trong công tác thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó, đề
xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
khách quan và nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện thi hành án dân sự ở
Việt Nam hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản pháp luật về biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung, biện
pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án nói riêng; những
số liệu, văn bản thống kê về biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án dân sự.
3.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của bài nghiên cứu này nhóm chúng tôi sẽ tìm hiểu những
vấn đề lý luận chung về biện pháp cưỡng chế thi hành án và tập trung phân tích
khía cạnh pháp lý và thực tiễn của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án kể từ khi Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1993 đến Luật Thi
hành án dân sự năm 2008, Luật sửa dổi bổ sung năm 2014 có hiệu lực. Bài nghiên
cứu nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế
Trang 4 / 31


kê biên, xử lý tài sản và những nguyên nhân gây ra những khó khăn đó. Từ đó đó
nêu những biện pháp khắc phục và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc áp
dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trên thực tế.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Bài nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương pháp nghiên cứu

dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi
hành án dân sự của họ, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải
thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án1.
Như vậy, biện pháp kê biên và đảm bảo thi hành án có những đặc điểm như
sau:
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc
biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh Nhà nước. Cụ thể,
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp
dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm
buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án.
Thứ ba, đối tượng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản
hoặc hành vi của người phải thi hành án mà cụ thể đối tượng của biện pháp kê
biên là tài sản của người phải thi hành án.
Thứ tư, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người bị áp
dụng ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ của bản án, quyết định của Tòa án họ
còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự.
Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được chấp hành viên quyết định áp dụng
không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự mà còn có hiệu lực
đối với các nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, NXB CAND, 2010, trang

195

Trang 6 / 31


Việc thi hành dứt điểm các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc
chưa có hiệu lực pháp luật mà được thi hành ngay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, giúp cũng cố niềm tin của nhân dân đối



“1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công
việc nhất định”.
Như vậy, người có thẩm quyền thi hành án chỉ có thể áp dụng 6 biện pháp
cưỡng chế thi hành án được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự 2008.
Thứ hai, chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự khi hết
thời gian tự nguyện thi hành trừ trường hợp áp dụng cưỡng chế ngay. Hết thời hạn
quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự 2008, người phải thi hành
án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi
hành án. Tuy nhiên để đảm bảo công tác thi hành án thật sự hiệu quả, với mục
đích ngăn chặn những hành vi tẩu tán tàn sản, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh
nghĩa vụ thi hành án của đương sự trong thời gian tự nguyện thi hành án thì chủ
thể có thẩm quyền vẫn được áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi
hành án được quy định tại chương IV Luật Thi hành án dân sự 2008.
Thứ ba, không được cưỡng chế thi hành án trong thời gian mà pháp luật
quy định không được cưỡng chế thi hành án. Pháp luật quy định không tổ chức
cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau,
các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt như
15 ngày trước và sau tết nguyên đán, các ngày truyền thống của các đối tượng
chính sách (Điều 46 Luật Thi hành án 2008 và Khoản 2 Điều 13 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP). Quy định này xuất phát từ mục đích nhân đạo đối với người
phải thi hành án.

người phải thi hành án
Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là một trong các
biên pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, được áp dụng trong trường hợp người
Trang 9 / 31


phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định. Người
thi hành án chỉ có tài sản và không tự nguyện thi hành án. Biện pháp kê biên, xử
lý tài sản của người thi hành án được quy định tại các Điều 74, Điều 75, Điều 84,
từ Điều 89 đến Điều 98 và Điều 111 Luật Thi hành án dân sự 2008. Theo đó, đối
tượng của biện pháp này là tài sản bao gồm: tài sản là vật, vốn góp, nhà ở, tài sản
gắn liền với đất, phương tiện giao thông, hoa lợi, quyền sở hữu trí tuệ và quyền sử
dụng đất.
1.2.2. Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án
Đối với biện pháp này, Chấp hành viên ra quyết định áp dụng khi có các
điều kiện sau đây:
● Người có nghĩa vụ thi hành án phải có nghĩa vụ trả tiền cho người được
thi hành án;
● Người phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền;
● Đã hết thời hạn tự nguyện do Chấp hành viên ấn định nhưng không tự
nguyện thi hành; hoặc chưa hết thời hạn tự nguyện nhưng cần ngăn chặn việc
tẩu tán, hủy hoại tài sản.
1.2.3. Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án
Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án, Chấp hành viên ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của việc áp
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, thì còn phải áp dụng các nguyên tắc
sau:
- Mọi tài sản của người phải được thi hành án để có thể bị kê biên để thi

người phải thi hành án không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thi
hành án thì mới được kê biên phần tài sản của người phải thi hành án trong khối
tài sản thuộc sở hữu chung với người khác. Khi kê biên, xử lí tài sản chung của
người phải thi hành án với người khác thì chỉ kê biên, xử lí tài sản chung là quyền
xử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ
dẻ hi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự. Trong trường hợp kê biên phần
tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung với người
khác, theo quy định tại Điều 74 Luật sửa đổi, bổ sung luật thi hành án dân sự cần
lưu ý các trường hợp sau:
• Chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất
của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án: Chấp hành
Trang 11 / 31


viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu
chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản
chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, trừ trường hợp
tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ chồng; và tài sản thuộc quyền
sở hữu, quyền sử dụng chung của hộ gia đình. Nếu các bên không thỏa thuận vi
phạm điểu cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; hoặc không thỏa thuận được và
không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi
hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố
tụng dân sự. Nếu người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì
Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố
tụng dân sự. Đây là quy định mới được bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự. Quy định này đã làm rõ hơn việc xác định
phần tài sản chung của người phải thi hành án để xử lý thi hành án.
• Đã xác định được phần sở hữu: tùy thuộc tài sản thuộc loại có thể phân

dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi
xử lí tài sản để thanh toán hợp đồng đã kí, nếu có. Nếu người nhận cầm cố, thế
chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho ngừơi được thi
hành khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp có tranh chấp về tài sản kê biên: theo quy định tại Khoản 1
Điều 75 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Chấp
hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được
khởi kiện ra Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết; trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp
không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết
thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định.
- Trường hợp tài sản thi hành án được giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ
thi hành án: kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người
phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài
sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và
không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành
án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác. Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu
Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy
giấy tờ liên quan đến giao dịch đó trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông
báo. Hết thời hạn này mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành
viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó (Khoản 2 Điều 75 Luật sửa đổi, bổ
Trang 13 / 31


sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; Khoản 1 Điều 24 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP).
- Kê biên tài sản của doanh nghiệp: chỉ kê biên tài sản khác của doanh
nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu từ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý,

Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có
quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận
phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân
sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có
thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa
thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông
báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở
hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản
chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được
thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp
hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử
dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng
dân sự. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.
Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các
chủ sở hữu chung. Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp
dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải
thi hành án; đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia
làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp
cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá
trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ2.
1.2.4.2. Kê biên với quyền sở hữu trí tuệ
Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở
hữu của người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu
quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên. Khi kê biên quyền sở
hữu trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của
người phải thi hành án. Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh,
dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà

kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu
tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi
3 Khoản 1, 2 Điều 84 Luật Thi hành án dân sự 2008
4 Khoản 1 Điều 98, Khoản 1 Điều 178 Luật thi hành án dân sự 2008
5 Điều 91 Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 16 / 31


hành án để cưỡng chế thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu Toà án xác định
phần vốn góp của người phải thi hành án6.
1.2.4.6. Kê biên tài sản là đồ vật đang bị khóa hay đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị khoá hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu
người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khoá, mở gói; nếu
họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê
cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá hoặc mở gói, trong trường hợp này phải
có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá,
phá khóa, mở gói. Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, mở gói,
Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 58
của Luật Thi hành án dân sự 2008. Việc mở khoá, phá khoá, mở gói hoặc niêm
phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm
chứng7.
1.2.4.7. Kê biên phương tiện giao thông
Trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án,
Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng
phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương tiện đó, nếu có. Đối với phương
tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có
thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp
tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế

người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông
báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết. Trường hợp tài sản kê biên là nhà
ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư
vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của
Bộ Luật dân sự10.
1.2.4.10. Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành
viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực,
thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi
hành án và gia đình họ sinh sống đáp ứng nhu cầu cần thiết của người phải thi
hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới11.

9 Điều 94 Luật Thi hành án dân sự 2008
10 Khoản 1, 2, 3 Điều 95 Luật Thi hành án dân sự 2008
11 Điều 97, Điểm a Khoản 2 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự 2008

Trang 18 / 31


1.2.4.11. Kê biên tài sản đang cầm cố thế chấp
Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo
ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận
cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47
của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 200812
1.2.5. Xử lý tài sản kê biên
Theo Điều 98 Luật Thi hành án dân sự 2008 và Điều 25 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP thì:
● Nếu đương sự thỏa thuận được về giá tài sản: giá do đương sự thỏa thuận
là giá khởi điểm để bán đấu giá;
● Nếu đương sự có thỏa thuận được về tổ chức thẩm định giá thì chấp hành

về việc bán đấu giá tài sản. Việc yêu cầu định giá lại tài sản kê biên chỉ được thực
hiện 1 lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 5
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải
nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
Theo quy định trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án
dân sự 2008, tại Khoản 1 Điều 104 trong trường hợp bán đấu giá không thành,
hoặc không có người tham gia đấu giá thì chấp hành viên phải thông báo và yêu
cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản. Nếu đương sự không thỏa thuận
hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày
nhận được thông báo thì chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để quyết định
bán đấu giá.
Theo quyết định số 1557/QĐ-BTP ngày 26/8/2015 về việc công bố thủ tục
hành chính mới ban hành trong lĩnh vực thi hành án dân sự thuộc phạm vi chức
năng quản lý của Bộ Tư Pháp theo đó trong trường hợp bản án quyết định mà một
bên được nhận tài sản mà phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ nhận
được, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá trị tài sản thay đổi và một trong các bên
đương sự có yêu cầu định giá tài sản thì tài sản được định giá theo quy định Điều
98 Luật thi hành án dân sự 2008. Về nguyên tắc, trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày
có kết quả định giá, chấp hành viên thông báo bằng văn bản yêu cầu người được
nhận tài sản nộp số tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản mà đương sự được nhận
theo bản án, quyết định so với giá tài sản đã định trong bản án, quyết định để
thanh toán cho người nhận thi hành án. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản yêu cầu nộp tiền thi hành án, nếu người được nhận tài sản không tự
nguyện nộp tiền thi hành án thì chấp hành viên cho phép được bán đấu giá tài sản
để thi hành án. Số tiền thu được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng so với tiền, tài sản
mà các đương sự được nhận theo bản án, quyết định nhưng không tính lãi chậm
thi hành án.
Trang 20 / 31



Theo Điều 101 Luật thi hành án dân sự 2008 việc bán tài sản đã kê biên có
thể được thực hiện thông qua hình thức bán đấu giá hoặc bán không qua thủ tục
Trang 21 / 31


đấu giá. Trong trường hợp bán đấu giá tài sản mà không có người tham gia đấu
giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì sẽ được thực hiện theo Điều 104
Luật sửa đổi bổ sung 1 số điều của Luật thi hành án dân sự 2008. Bên cạnh đó, để
bảo vệ quyền lợi cho người mua tài sản đấu giá, Luật sửa đổi bổ sung, Luật sửa
đổi Điều 103 về "Giao tài sản đấu giá" thành "Bảo vệ quyền của người mua tài sản
bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án" bao gồm cả việc cưỡng chế nếu
người này đã nộp tiền đủ mua tài sản bán đấu giá. Việc bản án, quyết định bị
kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy không ảnh hưởng đến việc giao tài sản cho người
mua được tài sản bán đấu giá trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy
định của pháp Luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác trong trường hợp người
mua được tài sản bán đấu giá không được giao tài sản trong thời hạn theo hợp
đồng bán đấu giá thì có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng theo thủ tục yêu cầu hủy
hợp đồng bán đấu giá tài sản khi không được trao tài sản bán đấu giá tại Quyết
định số 1557/QĐ-BTP ngày 26/8/2015. Việc bán tài sản được thực hiện như sau:
Tài sản có giá trị từ trên 10 triệu đồng và bất động sản thì việc bán đấu giá
do tổ chức bán đấu giá thực hiện. Đương sự thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá
trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày định giá; Nếu không thỏa thuận được
thì chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá trong thời hạn 10 ngày làm việc
kể từ ngày định giá, việc bán đấu giá phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày
đối với động sản và 45 ngày đối với bất động sản kể từ ngày ký hợp đồng;
Tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng đến 10 triệu đồng; hoặc tại tỉnh nơi có tài
sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng thì
chấp hành viên chủ động bán đấu giá trong thời hạn 30 ngày đối với động sản, và
45 ngày đối với bất động sản kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản
từ chối của tổ chức bán đấu giá;

pháp luật về thi hành án đang ngày càng hoàn thiện hơn nhưng trong quá trình áp
dụng các biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án vẫn gặp một
số khó khắn, vướng mắc, nhiều nguyên nhân gây cản trở việc kê kiên, xử lý tài
sản như: Cơ chế quản lý, hoạt động THADS còn chồng chéo, sự phối hợp giữa
các cơ quan tổ chức trong việc kê biên, xử lý tài sản chưa tốt,…
2.1.1. Những kết quả đạt được
Để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, trong những năm qua Đảng,
Nhà nước đã quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác THADS và
toàn thể nhân lực ngành thi hành án đã nỗ lực, cố gắng. Qua đó, nhiều bản án,
quyết định của Tòa án đã được thi hành dứt điểm (bảng kết quả thi hành án) bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên
quan góp phần ổn định tình hình ổn định an ninh, chính trị đất nước, tạo tiền đề
cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
BẢNG KẾT QUẢ THI HÀNH ÁN TỪ 2010 – 2013
Năm

Tổng số vụ việc Đã thi hành xong/ số vụ Tỷ lệ
phải thi hành
việc có điều kiện thi
hành

2010

615.411

351.373/406.896

86,35%

2011

lý được tải sản của người phải thi hành án gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp đến những cá nhân, tổ chức liên quan. Ngoài ra, kết quả THADS chưa
hoàn thành chỉ tiêu Quốc hội giao về tiền (năm 2013 còn thiếu 3,83%; năm 2014
còn thiếu 0,28%; năm 2015 còn thiếu 1%), còn một số lượng lớn án chưa được tổ
chức thi hành, án chuyển kỳ sau còn nhiều; công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành ở
một số đơn vị, địa phương còn không ít hạn chế, một số lúc, một số nơi, một số
việc còn chậm, chưa sâu sát, chưa quyết liệt14;
2.1.2. Một số vướng mắc gặp phải trong quá trình thực hiện kê biên, xử
lý tài sản của người phải thi hành án
● Công tác tổ chức cán bộ chưa thực sự “đi trước một bước”, đặc biệt là
việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật của một bộ phận công chức còn chưa nghiêm, vi
phạm dẫn đến phải xử lý kỷ luật, trong bốn năm 2010 - 2013 đã xử lý kỷ luật 213
trường hợp, trong đó: khiển trách 92 trường hợp; cảnh cáo 58 trường hợp; hạ bậc
lương 06 trường hợp; giáng chức 03 trường hợp; cách chức 13 trường hợp; buộc thôi
việc 16 trường hợp; hạ bậc lương 03 trường hợp; tạm đình chỉ công tác 24 trường
hợp, do bị khởi tố hình sự15.
Ví dụ như, trường hợp Chấp hành viên không tiến hành xác minh mà chỉ
căn cứ vào Bản án và hợp đồng thế chấp để kê biên dẫn đến việc xử lý tài sản gặp
khó khăn (như: Việc thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận số
04/2012/QĐ.ST-KDTM ngày 10/8/2012, sau khi tổ chức việc bán tài sản đấu giá
thành tài sản mới phát hiện ra việc thừa một thang máy và 01 phòng họp 300 chỗ
ngồi và một số tài sản khác không có trong hợp đồng thế chấp; việc thi hành
Quyết định số 35/2012/QĐST-KDTM ngày 14/9/2012, cơ quan thi hành án đã tổ
chức kê biên và bán tài sản thế chấp là Dây chuyền đồng bộ máy sản xuất bánh
quy và các thiết bị phụ trợ (có danh mục kèm theo). Khi kiểm tra thực trạng tài
14 Nguồn: Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Hoàng Sỹ Thành trả lời phỏng vấn báo pháp

luật tháng 01/2016
15 Nguồn: Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp 4 năm thi hành Luật THADS 2008


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status