THAM LUẬN CỦA BỘ TÀI CHÍNH
TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 25 NĂM THU HÚT ĐTNN TẠI VIỆT NAM
Chính sách thuế và ưu đãi đầu tư trong đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Nhìn lại chặng đường 25 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi
tắt là ĐTNN) tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN ngày càng
khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam, góp phần tích cực trong tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán,
tạo việc làm trực tiếp cho người lao động và hàng triệu việc làm gián tiếp khác,
là yếu tố thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao phương thức quản lý
kinh doanh, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong từng ngành.
Đạt được những thành tựu như vậy, bên cạnh yếu tố môi trường chính trị
trong nước ổn định, giá nhân công thấp, điều kiện tự nhiên thuận lợi … thì yếu
tố vô cùng quan trọng khác là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ
trong việc xây dựng toàn diện hệ thống các chính sách ưu đãi thuế, tài chính, kế
toán và kiểm toán, chính sách về tiền thuê đất, về sử dụng đất … nhằm khuyến
khích các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và Bên nước ngoài tham gia hợp đồng
hợp tác kinh doanh tại Việt Nam. Trong phạm vi bài tham luận này, Bộ Tài
chính tập trung vào một số chính sách ưu đãi lớn như ưu đãi thuế (đặc biệt là
thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, về chính sách tài
chính đất đai), tài chính góp phần quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước
ngoài thời gian qua như sau:
1. Về cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN
1.1 Về chính sách thuế và thu khác
(1) Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): trong từng giai đoạn phát
triển, Luật thuế TNDN đã góp phần tạo môi trường pháp lý công bằng, bình
đẳng giữa các đối tượng, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả,
khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, phát huy tốt vai trò
định hướng thu hút đầu tư, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và
nghiệp. Đồng thời sau khi Luật thuế TNDN năm 2003 có hiệu lực thi hành thì
các quy định về thuế TNDN bổ sung và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã
được bãi bỏ, điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trong việc
khuyến khích đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và
Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, ngày 13/6/2008 Quốc hội
ban hành Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 thay thế cho Luật Thuế TNDN số
09/2003/QH11. Việc cải cách chính sách ưu đãi thuế tại Luật thuế TNDN số
14/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thực hiện từ 01/01/2009 đến nay đã
tạo sự chuyển biến tích cực trong phân bổ nguồn lực, thu hẹp diện ưu đãi theo
ngành, lĩnh vực để khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tập trung vào các ngành,
lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm
phần mềm hoặc lĩnh vực xã hội hoá.
Với các cải cách thuế có tính bước ngoặt nêu trên, giai đoạn từ năm 20042011 nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã tăng nhanh chóng với 9.500 dự án đầu tư,
vốn đăng ký đạt 175 tỷ USD (gấp 3,2 lần giai đoạn 1988-2003), vốn thực hiện
đạt 61,8 tỷ USD (gấp 2,3 lần giai đoạn 1988-2003) và đặc biệt từ năm 2007 số
vốn ĐTNN thực hiện hàng năm đều đạt xấp xỉ 10 tỷ USD.
(2) Về thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu:
52
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ra đời đã tạo lập
khuôn khổ pháp lý trong việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần tạo nên một môi trường
đầu tư chung và thuận lợi cho cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong 25 năm qua, sự phát triển mạnh của khu vực doanh nghiệp FDI, là
thị phần ra bên ngoài, tham ra sâu hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, việc thực hiện cắt giảm thuế quan hàng năm theo các cam kết
trong WTO và trong khu vực ASEAN đối với các nguyên liệu, vật tư trong nước
chưa sản xuất được đã tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp FDI nói riêng và
53
doanh nghiệp nói chung giảm chi phí đầu vào trong sản xuất và nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm trong nước so với hàng nhập khẩu.
Với chính sách ưu đãi thuế xuất nhập khẩu nêu trên đã và đang củng cố
lòng tin cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
và thu hút vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ sản xuất hiện đại vào Việt Nam.
Hiện nay, mặc dù không còn duy trì một chính sách ưu đãi có phân biệt giữa các
doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng
việc quan tâm, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc của các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài nhanh chóng, hiệu quả thông qua các buổi tọa đàm, đối thoại trực
tiếp với các Hiệp hội, doanh nghiệp ĐTNN tại Việt Nam hoặc trả lời trực tiếp
bằng văn bản để giải quyết các vướng mắc về thuế trong quá trình điều chỉnh
chính sách xuất nhập khẩu, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu đã đóng góp một cách tích cực vào tăng trưởng kinh tế nói
chung và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi tại Việt Nam cho các
doanh nghiệp FDI nói riêng.
Tạo nên một môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn luôn là một mục
tiêu mà Chính phủ hướng tới với nỗ lực rất cao vì cải thiện môi trường đầu tư sẽ
khuyến khích được các nguồn lực trong và ngoài nước tập trung cho đầu tư, phát
triển kinh tế vì vậy, trong thời gian tới, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tiếp
tục được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để khắc phục những bất cập phát sinh
trong quá trình thực hiện nhằm tạo nên một hành lang pháp lý minh bạch và
thuận tiện hơn rõ ràng hơn nữa, hiệu quả hơn nữa đối với hoạt động xuất nhập
khẩu để không những khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, nâng
thời gian xây dựng theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; (ii) Nếu dự án
đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
+ Kể từ ngày dự án hoàn thành đưa vào hoạt động, được miễn:
Ba (3) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư,
tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy
hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường.
Bảy (7) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn
Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến
khích đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư
tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích
đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự
án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa
bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
1.2 Về cơ chế chính sách đối với lĩnh vực tài chính khác
Những năm đầu đổi mới để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam tham gia thực hiện đầu tư sản xuất, kinh doanh, pháp luật về đầu tư, về
thuế và tài chính khác có quy định chính sách ưu đãi riêng biệt đối với từng khu
vực có vốn ĐTNN và khu vực có vốn đầu tư trong nước. Tuy nhiên, thực hiện
chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nhanh và bền vững khi
Việt Nam gia nhập WTO, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát sinh ngày
càng nhiều khó khăn và thách thức, ngành Tài chính đã nỗ lực triển khai thực
hiện các cam kết quốc tế và cam kết tài chính nói riêng nhằm đảm bảo việc tuân
thủ nghĩa vụ của nước thành viên, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế
55
quốc tế, ban hành kịp thời các cơ chế chính sách tài chính phù hợp, đồng bộ để
- Đối với phương thức tiêu dùng ở nước ngoài không áp dụng hạn chế tiếp
cận thị trường hoặc hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT);
- Đối với phương thức hiện diện thương mại:
+ Cho phép mở liên doanh 49% vốn nước ngoài;
+ Cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
56
+ Cho phép thành lập chi nhánh của doanh nghiệp chứng khoán nước
ngoài cung cấp dịch vụquản lý tài sản, thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin, tư
vấn và dịch vụ phụ trợ
+ Không áp dụng hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT)
c) Đối với dịch vụ kiểm toán, kế toán:
Nếu như thập kỷ 1991-2000 là thập kỷ hình thành thị trường dịch vụ Kế
toán - Kiểm toán, thì thập kỷ 2001 - 2011 là thập kỷ thúc đẩy sự phát triển thị
trường dịch vụ Kế toán - Kiểm toán của Việt Nam. Trong giai đoạn 2001-2011,
lần đầu tiên trong lịch sử kế toán nước ta, Luật Kế toán đã được Quốc hội khoá
XI thông qua, có hiệu lực từ 01/01/2004 đã khẳng định rõ vai trò, nhiệm vụ,
nguyên tắc, nội dung kế toán trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập. Và
đến nay khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán về cơ bản đã được xây dựng
khá đầy đủ, toàn diện và tương đối hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế
trong điều kiện nền kinh tế thị trường chuyển đổi của Việt Nam như ban hành hệ
thống 26 Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp (VAS) trên cơ sở các chuẩn mực
kế toán quốc tế và chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IAS và IFRS), ban
hành mới các Chế độ kế toán cơ bản áp dụng cho các lĩnh vực trong nền kinh tế
quốc dân: Doanh nghiệp; Hành chính Sự nghiệp; Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa;
Ngân sách và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước; Tài chính và Ngân sách
xã;… và các Thông tư hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán; …Ngoài ra,
cũng xây dựng các Chế độ kế toán đặc thù phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ
Stt
CHỈ TIÊU
2006
2007
2008
2009
2010
GĐ 2006 2010
1
Tổng thu NSNN
279.472
327.911
430.549
454.786
559.170
354.400
1.202.985
4
Thu từ HĐ SXKD
94.274
113.647
159.315
182.736
244.668
794.640
Trđó: - DNNN
46.344
50.180
71.835
84.049
69.925
214.638
2011
126.944
77563
86.345
(Nguồn: Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính)
Phù hợp với tiến trình mở rộng khu vực ĐTNN, trong kết cấu số thu từ
hoạt động sản xuất kinh doanh số thu từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN có xu
hướng tăng dần về tỷ trọng (tăng từ 15,66% năm 2000 lên 25,95% năm 2011).
Số thu từ doanh nghiệp FDI (không kể thu từ dầu thô) so với tổng thu nội
địa tăng lên 14,3% (77.563 tỷ đồng) năm 2011. Trong số thu từ doanh nghiệp
FDI, số thu chủ yếu là thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN, thu về khí thiên nhiên,
tuy nhiên có sự chuyển dịch về tỷ trọng giữa các sắc thuế: Năm 2007, thuế giá
trị gia tăng chiếm 36,2% số thu từ doanh nghiệp FDI, TNDN 28%, thu từ khí
thiên nhiên 11,3%; nhưng đến năm 2011, thuế GTGT chỉ chiếm 23,7%, thuế
TNDN tăng lên 33.3% và thu từ khí thiên nhiên 31,8%.
3. Một số vấn đề phát sinh liên quan đến doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Với các chính sách ưu đãi về thuế, tài chính nêu trên, Việt Nam đã thu hút
được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn đổ vào Việt Nam, tỷ trọng đóng
góp vào GDP của khối doanh nghiệp này cũng ngày càng cao. Tuy nhiên, theo
đánh giá chung, việc kê khai, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của một số doanh
nghiệp có vốn ĐTNN còn chưa tương xứng với kỳ vọng của nhà nước đối với
khối doanh nghiệp này. Mặt khác, qua thời gian thực hiện cho thấy hiện tượng
58
giữa các bên có quan hệ liên kết
- Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch
kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết
Đồng thời, bước đầu nhằm hạn chế tình trạng này, ngành thuế đã triển
khai các biện pháp kiểm tra, giám sát ngăn chặn các hành vi chuyển giá thông
qua hoạt động giao dịch liên kết và thúc đấy hoạt động thanh tra chống chuyển
giá đạt hiệu quả tốt hơn. Thông qua việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra,
trong giai đoạn từ 2009-2011, hiện tượng chuyển giá đã được khắc phục đáng
kể. Cụ thể, năm 2009, lợi nhuận trước thuế của khu vực doanh nghiệp FDI là
114.296 tỷ đồng, chiếm 36,4%, doanh nghiệp nhà nước là121.381 tỷ đồng,
59
chiếm 38,6% và doanh nghiệp ngoài quốc doanh 78.386 tỷ đồng, chiếm 25%,
trong đó thuế TNDN từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN là 13.288 tỷ đồng, chiếm
21,5%, từ DNNN là 37.381 tỷ đồng, chiếm 60,4%; doanh nghiệp ngoài quốc
doanh là 11.245 tỷ đồng, chiếm 18,1%, thì qua thanh tra tại 921 doanh nghiệp
lỗ, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá năm 2011, Bộ Tài chính đã xử lý giảm
lỗ 6.617 tỷ đồng, truy thu thuế và phạt 1.669 tỷ đồng.
Việc tăng cường thanh tra chống chuyển giá nêu trên đã bước đầu tạo tác
động đến các doanh nghiệp, theo đó, một số doanh nghiệp đã tự điều chỉnh hạch
toán để giảm lỗ và có phát sinh thu nhập chịu thuế... góp phần tích cực trong
việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế, chống thất thu
ngân sách nhà nước.
4. Định hướng hoàn thiện chính sách thuế, tài chính giai đoạn tới
Ngày 18/4/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 450/QĐTTg về việc phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2020, theo đó Chiến lược
tài chính được thực hiện theo 2 giai đoạn và cụ thể hóa thông qua 9 chiến lược
ngành sau:
1. Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020;
công bằng giữa các thành phần kinh tế. Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng một
hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế và có
khả năng huy động đầy đủ, chủ động, hợp lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Mở rộng cơ sở thuế, áp dụng mức thuế suất hợp lý, đảm bảo công bằng, bình
đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; tạo động lực khuyến khích sản xuất,
nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy đầu tư, xuất khẩu
hàng hóa, dịch vụ, đồng thời bảo hộ có chọn lọc theo mục tiêu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Đơn giản hóa hệ thống chính sách ưu đãi thuế. Nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, chống thất thoát, gian lận thuế.
- Về thuế TNDN: Trong hệ thống các ưu đãi đầu tư hiện hành thì chính
sách thuế TNDN là nhân tố quan trọng mang tính cạnh tranh giữa các quốc gia.
Do đó, để góp phần thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam chủ trương cải
cách chính sách thuế TNDN trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào 3 định hướng
sau:
Thứ nhất, điều chỉnh giảm mức thuế suất chung theo lộ trình phù hợp để
thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng
tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh;
Thứ hai, đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực,
tiếp tục khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia
tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh
học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa, vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Thứ ba, bổ sung quy định cụ thể rõ ràng về các khoản chi phí được trừ và
không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; bổ sung các quy định để bao
quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh tế thị trường hội nhập
và phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Thực hiện Chiến lược cải cách thuế
giai đoạn 2011-2020, tới đây, Bộ Tài chính cũng sẽ nghiên cứu trình Chính phủ
trình Quốc hội ban hành Luật thuế xuất nhập khẩu sửa đổi và sẽ nghiên cứu để
61
- Giảm tần suất kê khai từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người
nộp thuế (NNT) quy mô vừa và nhỏ (bao gồm doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ, cá
nhân kinh doanh) được kê khai thuế (GTGT 03 tháng/lần, các doanh nghiệp lớn
kê khai thuế GTGT 01tháng/lần).
Vấn đề tần suất kê khai (giảm thời gian để thực hiện nghĩa vụ thuế) cũng
chính là một trong những chỉ tiêu quan trọng được Ngân hàng thế giới sử dụng
để đánh giá, xếp loại môi trường kinh doanh giữa các nước. Vì vậy, việc sửa đổi
cho phép NNT quy mô vừa và nhỏ được kê khai thuế theo quý vừa có ý nghĩa
thiết thực là làm giảm chi phí hành chính của NNT, hỗ trợ NNT quy mô vừa và
nhỏ được dãn luồng tiền nộp thuế (tức là có một phần tiền thuế phải nộp sau 3
tháng kể từ khi có doanh thu bán hàng) vừa đáp ứng được cả yêu cầu thông lệ
quốc tế về nâng cao tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh.
62
- Rút ngắn thời hạn hoàn thuế, đối với trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm
tra sau” từ 15 ngày làm việc xuống còn 06 ngày làm việc; trường hợp “kiếm tra
trước, hoàn thuế sau” từ 60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ kê khai thuế từ 5 ngày
làm việc xuống 3 ngày làm việc;
- Điều chỉnh cơ chế giải quyết hồ sơ hoàn thuế theo nguyên tắc quản lỷ rủi
ro, tạo thuận lợi hoàn thuế nhanh theo kê khai của doanh nghiệp và thu hẹp diện
phân loại hồ sơ “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” để tăng tính tự giác và trách
nhiệm của doanh nghiệp.
Đồng thời để tăng cường kiểm soát, hậu kiểm đối với việc chi ngân sách
để hoàn thuế, bổ sung quy định trong vòng 1 năm kể từ khi có quyết định hoàn
thuế, cơ quan quản lý thuế phải thực hiện kiểm tra sau hoàn thuế đối với 4 nhóm
đối tượng có độ rủi ro cao.
- Bỏ “Chứng từ nộp thuế” trong hồ sơ hoàn thuế;
- Thay tờ khai quyết toán thuế trong hồ sơ đề nghị xóa nợ đối với trường
ĐTNN
(i) Tiếp tục thực hiện mở cửa thị trường tài chính một cách hiệu quả, phù
hợp với cam kết quốc tế; chủ động tham gia thị trường tài chính quốc tế. Hoàn
thiện hệ thống cơ chế, chính sách tài chính nhằm tăng cường thu hút và khai thác
tối đa nguồn vốn nước ngoài phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong từng
giai đoạn.
(ii) Đổi mới chính sách thu đối với đất đai, tài nguyên, mở rộng khai thác
các nguồn thu từ đất đai và tài nguyên, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế và các lợi
ích về xã hội, môi trường; coi đây là nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển.
Sửa đổi, bổ sung chính sách thu từ đất phù hợp với việc sửa đổi, bổ sung
Luật đất đai theo hướng đảm bảo thu theo mục đích sử dụng và theo sát giá thị
trường, góp phần hình thành thị trường bất động sản có tổ chức, quản lý hiệu
quả; đồng thời mở rộng việc giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá để
tăng nguồn thu từ đất đai, sử dụng đất có hiệu quả.
Nghiên cứu sửa đổi hệ thống chính sách tài chính khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên, khuyến khích chế biến sâu trong nước, hạn chế việc xuất
khẩu tài nguyên thô, góp phần bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý,
tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường.
(iii) Thực hiện quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát của nhà
nước đối với các mặt hàng Nhà nước định giá trước năm 2015 gắn với tăng
cường kiểm soát chi phí sản xuất hàng hóa, dịch vụ độc quyền, sản phẩm công
ích. Tôn trọng quyền tự định giá, thỏa thuận giá, cạnh tranh về giá của các tổ
chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật.
Hoàn thiện môi trường pháp lý để quản lý điều hành giá thông qua việc
xây dựng Luật giá. Thực hiện quản lý, điều hành giá cả và bình ổn giá bằng các
biện pháp gián tiếp, theo cơ chế thị trường, phù hợp với các cam kết quốc tế. Mở
rộng hình thức đấu thầu và đấu giá, thẩm định giá.
5. Một số kiến nghị
- Để đảm bảo chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi đầu tư hiệu quả đáp ứng được
mục tiêu và yêu cầu đặt ra, việc xây dựng các chính sách ưu đãi cần được xem
được nghiên cứu theo hướng xây dựng một danh mục lĩnh vực, địa bàn ưu đãi
riêng. Các quy định này đã và sẽ làm giảm đi vai trò định hướng của chính sách
ưu đãi đầu tư chung, đồng thời chưa thể hiện được tính đồng bộ, nhất quán của
các chính sách ưu đãi đối với các địa bàn có cùng điều kiện về phát triển kinh tế
xã hội.
Vì vậy, để chính sách ưu đãi đầu tư (về thuế, về tài chính, tín dụng, đất đai
...) thực sự có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo đúng định hướng
của Nhà nước trong những năm tới, Bộ Tài chính đề nghị cần rà soát lại toàn bộ
hệ thống ngành kinh tế quốc dân và địa bàn cần khuyến khích đầu tư trong cả
nước, nghiên cứu để xây dựng một danh mục lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư áp
dụng chung cho tất cả các ngành/lĩnh vực. Trên cơ sở danh mục này, các văn
bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về thuế, tài chính, đất đai, tín dụng ... sẽ
quy định cụ thể mức ưu đãi, hình thức ưu đãi, quy trình thủ tục thực hiện ưu đãi
mà không quy định thêm lĩnh vực, địa bàn ưu đãi.
65