Luận án một số giải pháp phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía bắc - Pdf 35

1
MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, TDTT đã lớn mạnh
không ngừng, một mặt nhờ được đầu tư lớn hơn của Nhà nước, mặt khác xã
hội hoá TDTT đã từng bước hình thành và phát triển, đã đem lại kết quả quan
trọng, đó là huy động được sức mạnh của toàn xã hội chăm lo công tác TDTT,
góp phần làm cho TDTT ngày càng có tính quần chúng rộng rãi, trình độ
được nâng cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng nhận thức đầy đủ
và sâu sắc hơn về tầm quan trọng của công tác TDTT trường học – một bộ
phận cơ bản của nền TDTT nước ta. Quan tâm lãnh đạo công tác TDTT
trường học có ý nghĩa chiến lược to lớn, một mặt nhằm thúc đẩy GDTC, nâng
cao sức khoẻ, thể lực, đời sống văn hoá tinh thần cho sinh viên, mặt khác
nhằm góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, phát triển tài năng thể thao
cho đất nước.
Tuy nhiên, trong những năm qua lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta
vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém. Điều này đã được chỉ rõ trong Nghị quyết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam [18].
Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định cần phải có những đổi mới trong lĩnh vực
giáo dục và nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, để tạo ra đội ngũ trí thức, lao
động đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
(Nghị quyết số 29-NQ/TW) [20] về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với mục tiêu là:
"Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào
tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu
cầu học tập của nhân dân...". Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Chương
trình hành động với mục đích xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp
chủ yếu để Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch




3
Trong khu vực này hiện có 53 trường đại học, cao đẳng với 127.560
sinh viên. Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có tới 46 dân tộc
trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong đó 8 dân tộc đông dân
nhất là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, H’Mông, Hoa. Chính vì
vậy, tiềm năng phát triển các môn thể thao dân tộc ở khu vực miền núi phía
Bắc là rất lớn, đặc biệt là trong các trường đại học, cao đẳng.
Các môn thể thao dân tộc được tổ chức thi đấu trong các lễ hội, Hội thi
Thể thao Văn hoá các dân tộc góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá truyền
thống. Những môn thể thao như: Ném còn, Kéo co, Đẩy gậy, Đi cà kheo, Đua
thuyền, Đánh quay, Bắn nỏ, Chạy vượt đồi núi, Vật… được liệt vào kho tàng
các trò chơi dân gian Việt Nam thường được tái hiện ở lễ hội.
Sự hấp dẫn của các môn thể thao dân tộc đã thu hút được đông đảo mọi
người tham gia và nhiều lễ hội đã trở thành nơi để các môn thể thao dân tộc
được lưu giữ, phát huy, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân.
Nếu có sự quan tâm thích đáng, các môn thể thao dân tộc có thể sẽ phát
triển thành một phong trào rèn luyện sức khoẻ rộng rãi trong cộng đồng các
dân tộc và làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.
Hàng năm các tỉnh miền núi được Vụ thể thao quần chúng tổ chức thi
đấu giao lưu các môn thể thao dân tộc nhằm tăng cường tinh thần đoàn kết,
giữ gìn nét đẹp văn hoá và phát triển các môn thể thao truyền thống như: Bắn
nỏ, Kéo co, Ném còn, Đá cầu, Đẩy gậy… tạo tiền đề cho việc đưa các môn
thể thao dân tộc phát triển trong khu vực và thế giới.
Phát triển các môn thể thao dân tộc trong khối sinh viên đại học, cao
đẳng miền núi phía Bắc còn có tác dụng rèn luyện thể lực, phát triển thể chất
cho sinh viên, tạo môi trường hoạt động thể thao lành mạnh, góp phần tạo tạo
con người phát triển toàn diện phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.


tính khả thi sẽ có tác dụng nâng cao nhận thức về giá trị và vai trò của việc
giữ gìn và phát triển các môn thể thao dân tộc, thu hút đông đảo sinh viên
tham gia tập luyện, đồng thời phát triển thể lực cho sinh viên.


6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về TDTT và nâng cao chất lượng GDTC
Bác Hồ là nhà lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dân tộc Việt Nam và là
một nhà tư tưởng lớn - là danh nhân văn hóa thế giới. Sinh thời Bác rất
quan tâm đến hoạt động TDTT. Tư tưởng của Người bao trùm trong việc
đặt nền tảng xây dựng TDTT của nước nhà, là sự khẳng định có tính chất
cách mạng của công tác TDTT, là nhu cầu khách quan của một xã hội phát
triển, là nghĩa vụ của mọi người dân yêu nước. Mục tiêu cao đẹp của TDTT
là bảo vệ, tăng cường thể chất của nhân dân, góp phần cải tạo giống nòi,
làm cho dân cường, nước thịnh. Những ý tưởng này xuyên suốt trong các
văn kiện của Đảng [118].
Giáo dục thể chất là một bổn phận của nền TDTT nước nhà. GDTC là
một nội dung, biện pháp quan trọng góp phần đào tạo thanh, thiếu niên Việt
Nam phát triển hài hoà về trí tuệ và thể chất, tinh thần và đạo đức, đồng thời
xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của
học sinh, sinh viên.
Nhận thức một cách đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, vai trò của GDTC đối với
mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo một
cách sáng tạo công tác TDTT nói chung, GDTC nói riêng phù hợp với từng
thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Cùng với sự phát triển của đất nước, GDTC
ngày một phát triển phục vụ tốt cho mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo
của đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 có đưa ra

triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng... có thể thấy rõ Đảng ta luôn coi
TDTT là một công tác cách mạng như bao công tác cách mạng khác. Sự
nghiệp TDTT 1à sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội, của các cấp,
các ngành, coi GDTC là một bộ phận khăng khít của hệ thống giáo dục XHCN


8
ở nước ta. GDTC là một trong những phương tiện quan trọng trong đào tạo con
người phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (đã ban hành
nghị quyết 29/NQ/TW ngày 4/11/2013 về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã nêu rõ nội
dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế [20].
Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo
chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp
ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học
tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát
huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu
Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt,
quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã
hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại
hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào
tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến
năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Trên cơ sở đó, Bộ giáo dục và đào tạo triển khai Nghị quyết 29 với

các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá,
hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.
Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào


10
tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa
các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triểngiáo dục và đào tạo đối với các vùng
đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa
và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và
đào tạo.
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào
tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
để phát triển đất nước.
Trên cơ sở chủ chương của Đảng, trong những năm qua, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã không ngừng nghiên cứu cải tiến chương trình GDTC trong nhà
trường các cấp, thể hiện tính đa dạng, phong phú dựa trên mục tiêu của
GDTC góp phần tạo nên những con người mới phát triển toàn diện “cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Đó là chủ
trương kịp thời có ý nghĩa chiến lược của công tác GDTC trong nhà trường và
biến những chủ trương của Đảng và Nhà nước thành những hành động cụ thể.
1.2. Giáo dục thể chất trong các trường đại học ở Việt Nam
Giáo dục thể chất trong các trường đại học có một vị trí và ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ trí thức mới đáp ứng được
những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nước nhà để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh" [19].
Mục tiêu của hệ thống GDTC trong các trường đại học là đào tạo các
đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có trình

để phát triển hài hoà, cân đối cơ thể và các tố chất thể lực của sinh viên.
Thứ hai: GDTC trong trường đại học là một quá trình sư phạm, nó có
tác dụng tích cực đến phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong và
thẩm mỹ. Nó đóng một vai trò quan trong trong việc hình thành nhân cách
cho người cán bộ khoa học tương lai.


12
1.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất là một bộ phận cơ bản quan trọng trong hệ thống giáo
dục toàn diện của Đảng, nhà Nhà nước ta. Xuất phát từ mục tiêu và những
hoạt động của mình, cùng với những khái niệm cơ bản của các mặt giáo dục
chung, việc đánh giá chất lượng GDTC được xác định bởi khả năng thực hiện
được mục đích và nhiệm vụ chương trình theo các nội dung cơ bản sau:
Thời gian tham gia học tập lý thuyết cũng như thực hành theo thời khoá
biểu của chương trình.
Thực hiện được các bài tập và yêu cầu kiểm tra GDTC theo qui định.
1.2.2. Lý thuyết (kiến thức về giáo dục thể chất)
Kiến thức GDTC có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp thu kỹ
năng, kỹ xảo vận động. Theo Nôvicốp A.G. và Mátvêép G.P. thì: "Kiến
thức làm tiền đề cho việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động và sử dụng
một cách có hiệu quả các năng lực thể chất trong cuộc sống. Kiến thức chỉ
rõ ý nghĩa cá nhân và xã hội của việc GDTC cũng như bản chất của việc
giáo dục này, các kiến thức cho phép sử dụng các giá trị của TDTT với
mục đích tự giáo dục." [68].
Cũng theo 2 tác giả trên thì kiến thức về GDTC giúp cho việc lựa chọn
và sử dụng các bài tập thể chất "Cùng một loại bài tập, có thể mang lại hiệu
quả hoàn toàn khác nhau căn cứ vào phương pháp sử dụng bài tập đó" [68].
Theo tiến sĩ khoa học giáo dục Liên Xô Pomomarev (1983) nhận xét:
Kiến thức GDTC được xác định bởi những tri thức chung, các hệ thống kỹ

cách thức chưa ổn định khi giải quyết nhiệm vụ vận động" [82].
Trong quá trình tập luyện việc lặp đi lặp lại nhiều lần động tác thì các
bộ phận tạo thành động tác đó ngày càng trở nên quen thuộc, các cơ chế phối
hợp vận động dần dần được tự động hoá và kỹ năng vận động chuyển thành
kỹ xảo. Vì vậy "kỹ xảo vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật
động tác ở mức độ sự điều khiển động tác xảy ra một cách tự động và động


14
tác tiến hành với độ vững chắc cao" [84]. Như vậy khả năng thực hành được
hiểu như ở mức độ đánh giá nhất định (kỹ năng hoặc kỹ xảo). Việc thực hiện
các động tác kỹ thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện học tập, trang
thiết bị dụng cụ, sân bãi, trình độ của sinh viên, chế độ học tập, nhận thức của
sinh viên trong việc chuyển hoá các bài tập thể chất là phương tiện để rèn
luyện, củng cố và nâng cao sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực phục vụ
đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ học tập và công tác sau này.
1.2.4. Các chỉ tiêu thể lực
Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT
ngày 18/9/2008 [34], quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh
viên (Thay thế Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể). Văn bản này áp dụng đối với
học sinh, sinh viên của các học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường
trung cấp chuyên nghiệp, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung
học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Không áp dụng đối với
học sinh, sinh viên khuyết tật, tàn tật; học sinh, sinh viên mắc các loại bệnh
không thể vận động với cường độ và khối lượng cao, được cơ sở y tế có thẩm
quyền từ cấp huyện trở lên xác nhận.
Việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên được phân theo lứa
tuổi từ 6 tuổi đến 20 tuổi. Học sinh, sinh viên từ 21 tuổi trở lên sử dụng các
chỉ số đánh giá của lứa tuổi 20.
Khi đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên cần dựa trên 6 nội

Duy trì và hoàn thiện hệ thống thi đấu thể thao cho mọi người chu kỳ
hàng năm, hai năm hoặc bốn năm…;
Ban hành chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển TDTT đối với
các đối tượng xã hội đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi,
người khuyết tật.
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư và ban hành các chính sách khuyến khích huy
động các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển TDTT quần chúng.


17
Khuyến khích phát triển thể thao giải trí, kinh doanh dịch vụ thể thao gắn
với hoạt động văn hóa, du lịch.
Ban hành các quy chuẩn về quy hoạch đất đai cho TDTT; tăng cường
đầu tư xây dựng các sân chơi bãi tập, công trình thể thao trong quần thể trung
tâm văn hóa - thể thao cấp xã, cụm, thôn, bản.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hướng dẫn viên TDTT
quần chúng; chú trọng tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cộng
tác viên TDTT cấp xã và thôn, làng, bản.
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức,
trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền cơ sở và các cán bộ ngành TDTT
về vai trò của hoạt động TDTT, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Xây dựng mô hình điểm về cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động TDTT
tại các thôn, bản và xã; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển TDTT ở
các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đưa công tác sưu tầm, thống kê phân loại các trò chơi vận động dân
gian trong các lễ hội truyền thống hàng năm của các dân tộc thiểu số thành
một nội dung của nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa
phi vật thể các dân tộc Việt Nam; lựa chọn một số trò chơi vận động dân gian
để đề xuất đưa vào thi đấu trong hệ thống thi giải thao quốc gia; chú trọng bảo

chúng cần thiết phải:
Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo
gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập
luyện TDTT, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các hình thức tổ
chức tập luyện TDTT ở cơ sở. Gắn việc chỉ đạo phát triển phong trào TDTT
với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở”
[19], với Chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng khu đô thị văn


19
minh; quan tâm phát triển phong trào TDTT người cao tuổi, người khuyết tật
và người lao động tại các khu công nghiệp.
Bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc trong các hoạt động TDTT. Có các giải pháp để phát huy tính tích
cực, tính văn hóa, văn minh trong TDTT.
Chú trọng phát triển TDTT trong lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại; phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong việc phát triển TDTT của
nhân dân trên từng địa bàn, nhất là ở vùng biên giới, vùng cao, hải đảo, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về các môn thể thao dân tộc còn
được thể hiện qua các môn thể thao dân tộc trong các cuộc thi đấu, cũng như
các hoạt động nghiệp vụ, văn hóa thể thao định kỳ như: Hội khỏe Phù Đổng,
Hội thi nghiệp vụ Sư phạm - Văn nghệ - Thể thao toàn quốc và Hội thi Văn
hóa - Thể thao các trường dân tộc nội trú.
Hội khoẻ Phù Đổng là Đại hội TDTT của học sinh phổ thông có quy
mô từ cấp trường đến cấp toàn quốc, Hội khoẻ Phù Đổng là ngày hội văn
hóa thể thao lớn nhất của tuổi trẻ học đường, là điểm hội tụ vận động viên
xuất sắc nhất của ngành giáo dục đào tạo để đua sức đua tài, thể hiện tài
năng thể thao [118].

1983

Hà Nội

Lần thứ II

1987

Lần thứ III

1992

Lần thứ IV

Số đoàn Tổng số Số môn Các môn
thi
thể thao
tham dự VĐV
dân tộc
36

737

6

40

1060

9


Lần thứ VI

2004

Huế

64

5695

15

2008

Phú Thọ

63

12000

17

Lần thứ
VII

TP. Hồ Chí
Minh

Đá cầu

thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khoẻ Phù Đổng được tổ chức theo
chu kỳ 2 năm/lần.
Hội khoẻ Phù Đổng cấp khu vực: Sau khi được Ban Chỉ đạo Hội khoẻ
Phù Đổng toàn quốc ủy nhiệm đăng cai tổ chức khu vực, Ủy ban Nhân dân cấp
tỉnh ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khoẻ Phù Đổng
cấp khu vực được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần.
Hội khoẻ Phù Đổng lần thứ VIII – 2012 được chia 5 khu vực, gồm:
Khu vực I: Thi đấu tại Phú Thọ, gồm 13 đơn vị: Cao Bằng, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc
Cạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình.
Khu vực II: Thi đấu tại Bắc Ninh, gồm 12 đơn vị: Bắc Ninh, Bắc
Giang, Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh,
Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và Thái Bình.
Khu vực III: Thi đấu tại Nghệ An, gồm 12 đơn vị: Đà Nẵng, Thừa
Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh,
Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định và Phú Yên, Khánh Hoà.
Khu vực IV: Thi đấu tại Bình Dương, gồm 13 đơn vị: Bình Dương, TP.
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum,
Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu.
Khu vực V: Thi đấu tại TP. Cần Thơ, gồm 13 đơn vị: Cần Thơ, Đồng
Tháp, Long An, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà
Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng và Hậu Giang.
Hội khoẻ Phù Đổng cấp toàn quốc: Bộ giáo dục và đào tạo ra Quyết
định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc.
Được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần.
Qua số liệu thống kê các môn thể thao dân tộc ở bảng 1.1 cho thấy, Hội
khỏe Phù Đổng lần thứ I đến thứ III không có các môn thể thao dân tộc. Tuy
nhiên, từ Hội khỏe Phù Đổng lần thứ IV đến Hội khỏe Phù Đổng lần thứ VIII,




23
Thơ. Tham dự Hội thi là các học sinh dân tộc thiểu số đến từ 52 trường trên
khắp mọi miền Tổ quốc. Ngoài 7 môn được tổ chức thường xuyên từ các Hội
thi trước (Cờ vua, Đá cầu, Điền kinh, Bóng bàn, Bóng đá, Bóng chuyền, Bắn
nỏ), bắt đầu từ Hội thi lần thứ V – 2006 được (tổ chức tại Bắc Giang) đã bắt
đầu bổ sung thêm môn thể thao dân tộc nữa, đó là môn Đẩy gậy [37].
Như vậy, Các môn thể thao dân tộc trong những năm gần đây đã được
quan tâm phát triển và hình thành hệ thống giải thi đấu trong học sinh và sinh
viên. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển các môn thể thao dân tộc trong
các trường chuyên nghiệp nói chung và các trường đại học, cao đẳng miền núi
phía Bắc nói riêng.
1.4. Đặc điểm, vai trò và xu thế phát triển các môn thể thao dân tộc
1.4.1. Khái niệm về trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc
Theo tác giả Mai Văn Muôn, trò chơi vận động dân gian là những trò chơi
dân gian có sự vận động đua tranh về thể lực là chính, theo quy lệ chơi và có sự
phân định hơn - kém, thắng - thua, được - hỏng. Đó chính là tiền đề của các nội
dung hoạt động thể thao dân tộc ỏ việt Nam sau này. (Trò chơi vận động dân
gian là trò chơi dân gian có sự vận động, đua tranh về thể lực là chính).
Theo các tài liệu lý luận và phương pháp TDTT, thể thao trước hết là
một hoạt động trò chơi (trình độ khác nhiều so với các trò chơi thông thường,
đơn giản), một hình thức thi đấu đặc biệt, chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận
động thể lực, nhằm phát huy những năng lực chuyên biệt, đạt những thành
tích cao, cao nhất, được so sánh trực tiếp và công bằng trong điều kiện chuyên
môn như nhau.
Theo nghĩa rộng (khá phổ biến), thể thao không chỉ là hoạt động thi
đấu, biểu diễn đặc biệt mà còn là sự chuẩn bị cho nó cùng những quan hệ,
chuẩn mực, những thành tựu đạt được trong hoạt động này.
Trên nguyên tắc, bất kỳ một loại hình hoạt động nào nhằm phát huy,
hoàn thiện những năng lực của con người, được tạo ra để làm đối tượng cho

1.4.2.1. Các ưu thế của thể thao dân tộc Việt Nam
Có tính phổ biến cao, dễ phổ cập trong mọi đối tượng từ mầm non đến
người có tuổi, mọi vùng, mọi địa phương trong cả nước.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status