1. MỞ ĐẦU
Nghệ An là một tỉnh nông nghiệp có nhiều điểm đặc trưng cho nông thôn
Việt Nam. Theo thống kê cho thấy, tiềm năng phát triển các mô hình biogas ở Nghệ
An quy mô hộ gia đình và quy mô công nghiệp là rất lớn. Tính đến ngày 1/10/2010,
toàn tỉnh có 308.567 con trâu, 395.973 con bò, 1.169.574 con lợn, 14.939.400 con
gia cầm, hàng chục ngàn con dê và hươu nai, hàng năm thải ra môi trường
7.184.592 tấn chất thải rắn, 4.665.585 tấn chất thải lỏng và hàng trăm triệu mét khối
chất thải khí [23]. Nếu không được xử lý, lượng chất thải trên sẽ gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, không chỉ ở các trang trại có quy mô chăn nuôi lớn mà còn cả
ở chăn nuôi quy mô hộ gia đình.
Đánh giá nhanh cho thấy, nếu được đưa vào sản xuất biogas, sẽ cho trên 538
triệu m3 khí sinh học/năm, tương đương khoảng 393 triệu lít xăng, trên 3 tỷ kWh
điện hoặc 2 triệu tấn gỗ củi (Khoảng 1,7 tỷ m 3 gỗ), tương đương hàng chục nghìn
hecta rừng bị phá/năm [23].
Tại Nghệ An việc áp dụng biogas vào việc xử lý chất thải đã hình thành từ
nhiều năm về trước và ngày càng phát triển thêm nhiều hầm biogas tại khắp các địa
phương trong tỉnh. Tuy nhiên, thực tế vận hành các hầm biogas còn có nhiều vấn đề
phát sinh, nước thải, chất thải, khí thải sau xử lý chưa được tối ưu hoá và việc
nghiên cứu khắc phục vấn đề này chưa được chú trọng, chính vì vậy đề tài: “Áp
dụng và nâng cao hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi lợn bằng hầm biogas kết
hợp hồ sinh học” được thực hiện.
* Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi lợn bằng hầm biogas kết hợp hồ sinh
học.
- Tìm cách sử dụng có hiệu quả nước thải sau xử lý hầm biogas.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý chất thải của hệ thống hầm
biogas kết hợp hồ sinh học nhằm góp phần bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
trong chăn nuôi.
* Phạm vi nghiên cứu
- Là những hộ chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình đặc trưng.
- Có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi lợn phù hợp với mục đích nghiên
cứu: Có hầm biogas kết hợp với hồ sinh học.
- Là những hộ gia đình được hỗ trợ từ “Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi
và an toàn thực phẩm” (Livestock Competitiveness and Food Safety Project
-LIFSAP) của Ngân hàng thế giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Vị trí các hầm biogas nghiên cứu được mô tả ở Bảng 2.1.
Bảng 2.1. Vị trí các hầm nghiên cứu
Xóm
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Họ và tên chủ hộ
Hồ Thị Hảo
Nguyễn Thị Minh
Nguyễn Thị Liên
Phạm Ngọc Dụng
Hồ Sỹ Huệ
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn hàng năm ?
-
Lượng phân lợn, nước thải ước lượng hàng ngày ?
-
Số lần, thời gian dọn rửa chuồng trong ngày ?
-
Số lần, thời gian tắm cho lợn hàng ngày, hàng tuần
(Mùa hè, mùa đông) ?
-
Nguồn, lượng nước sử dụng mỗi lần dọn rửa và tắm cho
lợn ?
-
Hiện trạng hoạt động hầm biogas, thời gian đưa vào vận
hành ?
-
Tần suất nạo vét hồ sinh học ?
-
TCVN 6663-1: 2011.
Mẫu nước thải đầu vào được lấy tại cống thải của chuồng nuôi vào thời điểm
dội rửa chuồng (Trong các khoảng thời gian từ 6 giờ 00 – 8 giờ 00 và 16 giờ 00 –
17 giờ 30). Mẫu nước xả đầu ra lấy tại cống xả của hầm biogas. Mẫu còn lại lấy tại
hồ sinh học cách xa cống thải vào hồ.
* Phương pháp phân tích mẫu
Các thông số phân tích bao gồm: Chất rắn lơ lửng (SS), nhu cầu ôxy sinh hóa
(BOD5), COD (Nhu cầu ôxy hóa học), tổng nitơ (T-N), tổng phốt-pho (T-P),
Coliform. Phương pháp phân tích mẫu hầu hết tuân theo tiêu chuẩn của APHA [39].
Phân tích mẫu được tiến hành tại phòng thí nghiệm trung tâm quan trắc môi trường
tỉnh Nghệ An.
•
Mẫu nước xả ra sau hầm biogas để tưới cây thực nghiệm
Mẫu nước xả ra sau hầm biogas được lấy tại các bể chứa nước xả. Thời gian
lấy nước thải từ 16 giờ – 17 giờ. Tần suất lấy tương ứng với các giai đoạn phát triển
của cây trồng cần tưới bón. Lượng nước được lấy mỗi đợt 50 lít và được chứa trong
can nhựa PET.
•
Mẫu nước dùng để pha trộn
Nước dùng để pha trộn với nước xả tưới cây được lấy tại các mương dẫn
nước trên đồng ruộng, nước tại các mương dẫn nước được bơm thẳng từ sông Lam
vào và không có nguồn thải khác trộn lẫn. Thời gian, tần suất, lượng nước lấy tương
đương với những đợt lấy mẫu nước xả.
•
Mẫu nước tại hồ sinh học dùng tưới cây thực nghiệm
200ml/300cm2 (Tương đương 60m3/ha), tưới hay bón thúc vào 3 giai đoạn: Giai
đoạn cây con 3 lá mầm, giai đoạn cây để nhánh và giai đoạn ra hoa.
* Đất dùng để trồng cây được lấy tại ruộng trồng hoa màu của bà con nông
dân. Trước khi được cho vào bình, đất được làm sạch loại bỏ đá sạn, cỏ.
* Giống cây trồng: Giống cây ớt cay địa phương
* Số lượng cây trồng trên mỗi bình: Ban đầu mỗi bình được trồng 3 cây con
2 tuần tuổi, đến sau giai đoạn cây để nhánh phát triển tốt mỗi bình chỉ giữ lại 1 cây
khoẻ nhất.
* Chu kỳ theo dõi: Mỗi tuần một lần tính từ thời điểm tưới đầu tiên đến giai
đoạn quả bắt đầu chín.
* Thời gian thí nghiệm: 4 tháng từ tháng 03/2013 đến tháng 07/2013.
* Điều kiện thí nghiệm: Thí nghiệm được thực hiện trên mô hình thực
nghiệm, cây được trồng trong các bình nhựa trong điều kiện môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên, để đảm bào kết quả của thí nghiệm cây trồng được bảo vệ, tránh những
điều kiện khắc nghiệt của thời tiết như: Nắng gắt, gió lớn, ngập nước.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng chăn nuôi lợn và phát sinh chất thải quy mô hộ gia đình tại xã
Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An
3.1.1. Thực trạng chăn nuôi lợn
3.1.1.1. Một số đặc trưng trong quy trình chăn nuôi lợn hộ gia đình xã Nam Anh
Một số đặc trưng trong quy trình chăn nuôi lợn tại xã Nam Anh khảo sát trên
9 hộ gia đình được trình bày bảng sau:
Bảng 3.1. Đặc điểm trong quy trình chăn nuôi lợn tại các hộ gia đình
Số lợn trung
bình trong
Xóm
bệnh
Lợn
Lợn
Thức ăn
Sản phẩm
nái
thịt
công nghiệp
nông nghiệp
0
1
1-2
0
2-3
1-2
1-2
1-2
0-1
7-10
6-9
0
2
0
1
1
2
0
0
3.1.1.2. Quy mô chăn nuôi lợn
Chuồng kiên cố là loại chuồng nuôi được xây bằng xi măng và gạch, bên trên
lợp ngói hoặc tấm bờ rô xi măng hoặc bằng tôn. Nền chuồng được tráng bằng xi
măng, có mương dẫn nước tiểu sát vách tường thuận lợi cho việc vệ sinh chuồng
nuôi.
Chuồng bán kiên cố là loại chuồng vốn dĩ khi mới xây dựng là chuồng kiên
cố, nhưng do sử dụng lâu năm nên điều kiện chuồng xuống cấp hoặc là loại chuồng
được xây dựng bằng các loại vật liệu đan xen, một phần tường bao được xây bằng
gạch, vữa, cột chống bằng gỗ, mét, mái được lợp bằng tấm bờ rô xi măng.
Chuồng tạm bợ là loại chuồng được xây dựng bằng các loại vật liệu có sẵn
như gỗ, tre nứa. Tường bao là hàng rào tre, mái bằng lá cọ hoặc bờ rô xi măng, nền
đất hoặc láng xi măng.
Bảng 3.2. Một số đặc điểm về quy mô chăn nuôi tại các hộ nghiên cứu
Xóm
1
2
3
4
5
20
12
16
10
8
Kiểu chuồng
Lợn nái
Lợn thịt
0
1
1-2
0
2-3
1-2
1-2
1-2
0-1
7-10
6-9
4-8
8-10
7-10
6-11
8-10
7-10
Tần suất
(m)
dọn
Nguồn nước
Nhà ở
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Hồ Thị Hảo
Nguyễn Thị Minh
Nguyễn Thị Liên
Phạm Ngọc Dụng
Hồ Sỹ Huệ
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
2
3
8
4
chuồng
(lần/ngày)
1
1
1
2
1
1
1
2
2
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
Giếng khoan
3.1.2. Thực trạng phát sinh chất thải quy mô hộ
3.1.2.1. Lượng phân
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi và
(lít/ngày)
270-450
300-500
3
4
5
6
7
8
9
Nguyễn Thị Liên
Phạm Ngọc Dụng
Hồ Sỹ Huệ
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
21-39
28-35
38,5-51
28-52,5
35-49
31,5-41
28-42
210-350
Họ và tên chủ hộ
Hồ Thị Hảo
Nguyễn Thị Minh
Nguyễn Thị Liên
Phạm Ngọc Dụng
Hồ Sỹ Huệ
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
Thể tích hầm
Số năm đã hoạt
biogas (m3)
7
7
9
9
9
9
7
9
9
động (năm)
2
2
2
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
Số người
Tình trạng
Lượng khí
Sự cố
trong hộ
5
5
4
6
6
7
5
4
7
hoạt động
Tốt
Tốt
Bình thường
Tốt
Tốt
Bảng 3.7. Một số thông tin về hồ sinh học tại các hộ gia đình nghiên cứu
Xóm Họ và tên chủ hộ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Hồ Thị Hảo
Nguyễn Thị Minh
Nguyễn Thị Liên
Phạm Ngọc Dụng
Hồ Sỹ Huệ
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
Diện tích
% diện tích
Chu kỳ nạo
Số nguồn
1
2
1
1
1
2
1
2
2
hồ
2
1
1
1
2
1
1
2
2
Bảng 3.8. Hiệu suất xử lý chất thải các hồ sinh học tại các hộ gia đình
Họ và tên chủ hộ
Hồ Thị Hảo
Nguyễn Thị Minh
Nguyễn Thị Liên
Phạm Ngọc Dụng
Hiệu suất xử lý nước thải tại các hồ sinh học (%)
BOD5
Hồ Sỹ Huệ
Nguyễn Văn Sơn
Bùi Đình Trung
Buì Đình Chuyên
Lương Văn Thành
90,1
79,0
87,7
88,9
89,3
86,4
78,1
85,3
87,3
86,2
86,6
83,9
86,5
83,6
83,3
57,3
38,3
50,5
46,6
51,6
đầu ra
(TB± s)
Hiệu suất
xử lý
(%)
TCN
6782006
QCVN
40-2011
BTNMT
(Cột B)
1240 ± 197
386 ± 70
68,9
300
50
2
3
4
5
3.3.1.1. Tính chất nước thải đầu vào hầm biogas nghiên cứu
Về cảm quan, nước thải chăn nuôi lợn có màu đen, đục, mùi hôi thối khó
chịu. Phụ lục hình ảnh cho thấy màu đặc trưng của loại nước thải này trong một đợt
lấy mẫu. Kết quả phân tích một số thông số về chất lượng nước thải chăn nuôi lợn
tại các hộ nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.9.
Số liệu phân tích cho thấy nồng độ chất hữu cơ trong nước thải chăn nuôi lợn
rất lớn. BOD5 vượt TCN 678 - 2006 4 lần và vượt 26 lần so với QCVN 40:2011/
BTNMT. COD vượt TCN 678-2006 7 lần và vượt QCVN 40:2011/BTNMT 19 lần.
Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu của Vũ Đình Tôn [31]. Tỷ lệ
BOD5/COD là 0,44. Theo Lương Đức Phẩm [21] với tỷ lệ như vậy, nước thải chứa
chủ yếu là xenlulozơ, hemixenlulozơ, protein, tinh bột chưa tan và phải qua bước xử
lý kị khí [17].
Hầu hết các thông số về chất rắn lơ lửng, chất dinh dưỡng, vi sinh đều vượt
tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. So với QCVN 40:2011/BTNMT, SS vượt 32,6 lần,
T-P vượt 54 lần, T-N vượt 15,6 lần. Mật độ Coliform rất cao vượt QCVN
40:2011/BTNMT 6560 lần và biến động lớn giữa các hầm khảo sát.
Với đặc điểm như vậy, nếu nước thải chăn nuôi lợn không được xử lý sẽ ảnh
hưởng lớn đến môi trường xung quanh, sức khỏe của con người và gia súc.
3.3.1.2. Tính chất nước thải đầu ra các hầm biogas nghiên cứu
Về cảm quan, nước thải sau hầm biogas có màu đen hoặc xanh đen, ít có mùi
hôi thối. Phụ lục hình ảnh cho thấy, màu sắc của nước thải đầu ra của hầm biogas.
Kết quả phân tích chất lượng nước thải được trình bày ở Bảng 3.9.
Nhìn chung, nước thải đầu ra của hầm biogas có hàm lượng chất ô nhiễm
cao. Các thông số cơ bản của nước thải sau hầm biogas đều vượt tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần, cụ thể như sau: So với tiêu chuẩn TCN 678 - 2006:
+ Nồng độ chất hữu cơ vượt nhẹ. BOD5 vượt 1,3 lần, COD vượt 1,57 lần.
+ Nồng độ chất dinh dưỡng cao, vượt 3,5 lần (Đối với T-N) và 14 lần (Đối với T-P).
So với Quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B):
Nồng độ
đầu vào
TB± s
Nồng độ
tại hồ sinh
học TB± s
Hiệu
suất xử
lý
(%)
TCN
6782006
QCVN
40-2011
BTNMT
(Cột B)
1
BOD5 mg/l
1240 ± 197
51 ± 23
-
100
4
T-N mg/l
624 ± 80
326,4 ± 75
52,3
150
40
5
T-P mg/l
326 ± 90
158,1 ± 46
48,5
20
7,9 lần.
So với QCVN 40-2011/BTNMT:
- COD thấp hơn quy chuẩn, BOD5 và SS vượt nhẹ.
- T-N vượt 8,16 lần, T-P vượt 26,3 lần.
- Coliform giảm đáng kể nhưng vẫn vượt 65,6 lần.
3.3.2.2. Đánh giá hiệu quả xử lý của các hệ thống hầm biogas kết hợp hồ sinh học
Hệ thống biogas kết hợp hồ sinh học cho thấy hiệu quả xử lý nước thải chăn
nuôi lợn rất cao, hiệu quả xử lý đạt trên 95% đối với BOD 5, COD, SS, chỉ số
Coliform đạt đến 99%. Hệ thống biogas kết hợp hồ sinh học đã khắc phục được một
phần hạn chế của hệ thống chỉ có hầm biogas, xử lý một phần các chất dinh dưỡng
(N,P) mà hầm biogas chưa xử lý được. Hiệu quả xử lý T-N đạt 52,3%, T-P đạt
48,5%. Tuy nhiên, nồng độ chất dinh dưỡng tại các hồ sinh học còn khá cao. Theo
thời gian các chất dinh dưỡng sẽ tích tụ dưới đáy hồ và nguy cơ cao gây ra hiện
tượng phú dưỡng. Vì vậy cần có biện pháp nạo vét hồ hàng năm để đối phó trước
với nguy cơ này. Nước thải sau xử lý tại hồ sinh học có thể phù hợp với các mục
đích phục vụ nước tưới tiêu, thuỷ lợi (Không dùng tưới cho các loại rau và thực vật
ăn sống).
3.4. Xây dựng mô hình thực nghiệm sử dụng nước thải sau hầm biogas và nước
tại hồ sinh học
3.4.1. Mô hình thực nghiệm sử dụng nước thải sau hầm biogas
3.4.1.1. Mô hình thực nghiệm sử dụng nước thải sau hầm biogas tưới bón cây
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ớt được đo đạc, ghi chép lại hàng
tuần và được trình bày bảng 3.11.
Bảng 3.11. Quá trình phát triển cây ớt tại các bình sử dụng hỗn hợp nước
xả/nước kênh mương với các tỷ lệ khác nhau qua các tuần quan sát
(Đơn vị: cm)
Bình
B0
23
23
4
2,2
3,7
3
3,7
3,5
3
2,8
2,7
3,1
5,25
3,6
5,5
4,7
5,5
5,5
4,5
4,2
4
4
9,1
7,2
7
8,4
9,5
10,2
17,7
19,5
20,5
14,3
16,7
13
14,7
25,5
26,5
20,7
22
29
27,5
23,5
22,2
16,2
15,7
29,5
31,5
25,5
27
34
31
24
25
17,5
16
quá thừa chất.
3.4.1.2. Năng suất cây ớt trên các bình nghiên cứu
Năng suất các bình được tính dựa trên số quả ớt trên mỗi bình và tổng khối
lượng ớt trên mỗi bình được trình bày bảng 3.15. Số quả trên các bình được tưới
bằng hỗn hợp nước xả từ 15-45 quả, tổng khối lượng quả từ 0,24-0,706 kg, khối
lượng trung bình mỗi quả từ 11,7-16,5 g.
Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ đậu quả của bình 5 và bình 6 rất cao. Số lượng
quả trên các bình này cao gấp 1,5 – 4 lần so với các bình khác. Kích thước quả ớt
lớn hơn, trọng lượng trung bình mỗi quả từ 15,7 – 16,5 g.
Bảng 3.12. Năng suất quả thu được trên các bình thực nghiệm
Bình
B0
B1
B2
B3
B4
B5
B6
B7
B8
B9
B10
Số quả
(quả)
11
18
15
30
31
14,4
15,7
16,5
15,6
15,2
15
15,5
3.4.2.1. Quá trình sinh trưởng, phát triển cây ớt
Mô hình thực nghiệm được xây dựng có 2 bình trồng cây ớt. Bình thứ nhất
(B11) được tưới bón bằng nước lấy tại hồ sinh học. Bình thứ 2 (B0) được tưới bằng
nước kênh mương lấy tại các mương dẫn nước. Chế độ tưới bón được thực hiện vào
các giai đoạn sinh trưởng của cây ớt: Giai đoạn cây con 3 lá mầm, giai đoạn đẻ
nhánh và giai đoạn ra hoa. Kết quả quan sát sinh trưởng cây ớt qua các tuần theo
dõi được trình bày bảng 3.13.
Bảng 3.13. Quá trình sinh trưởng cây ớt khi sử dụng nước hồ sinh học tưới
(B11) so với khi sử dụng 100% nước kênh mương (B0)
(Đơn vị: cm)
Tuần Tuần Tuần Tuần Tuần Tuần Tuần Tuần Tuần Tuần
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
14,5
18,5
22,5
28
31
33
33
Hình 3.14. Biểu đồ so sánh quá trình sinh trưởng cây ớt khi sử dụng
nước hồ sinh học tưới (B11) và nước kênh mương (B0)
Quá trình sử dụng nước hồ sinh học tưới cây cho kết quả tốt, cây ớt được
tưới bằng nước hồ sinh học sinh trưởng nhanh, chiều cao thân cây tại tuần thứ 10 là
33cm cao hơn hẳn so với việc chỉ dùng nước kênh mương tưới chỉ cao 23cm.
3.4.2.2. Năng suất cây ớt
Năng suất cây ớt thu được sau quá trình thử nghiệm cho thấy tỷ lệ đậu quả
trên cây được tưới bằng nước hồ sinh học cao hơn nhiều so với cây chỉ tưới nước
kênh mương 3 lần. Trọng lượng trung bình quả cao hơn 0,3 g và năng suất thu được
cao hơn 3,2 lần. Kết quả năng suất được trình bày bảng 3.14.
Bảng 3.14. Năng suất quả thu được trên các bình thực nghiệm khi được tưới
bón bằng nước hồ sinh học so với bình đối chứng
Bình
kênh mương với tỷ lệ 1:1 hoặc 1,5:1. Kết quả này tương đương với kết quả thí
nghiệm của Viên Thổ nhưỡng nông hoá trên cây bắp cải và thí nghiệm của Sở Nông
nghiệp Bình Định trên cây mướp đắng [6].
Việc sử dụng nước tại hồ sinh học để tưới bón cây cũng cho kết quả tốt, năng
suất cây trồng cao hơn so với cây đối chứng. Tuy nhiên, so với khả năng tăng
trưởng và năng suất của cây được tưới bằng hỗn hợp nước xả/nước kênh mương tỉ
lệ 1:1 hoặc 1,5:1 thì cây tưới bằng nước hồ sinh học thấp hơn (Năng suất thấp hơn
1,4 lần, số quả trên mỗi bình thấp hơn 1,3 lần).
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận:
1. Lượng phân thải và nước thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài,
tuổi, khẩu phần ăn và thời tiết trong ngày. Bình quân tại mỗi hộ gia đình mỗi ngày
thải ra từ 21 – 52,5 kg phân và 210 - 650 lít nước thải. Kết quả này khác nhau giữa
các hộ gia đình tuỳ thuộc vào số lợn nuôi và chế độ chăm sóc.
2. Hệ thống biogas kết hợp hồ sinh học cho thấy hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi
lợn rất cao, hiệu quả xử lý đạt trên 95% đối với phần lớn các chỉ tiêu về chất hữu
cơ, coliform đạt 99%. Hệ thống biogas kết hợp hồ sinh học đã khắc phục được một
số hạn chế của hệ thống chỉ cố hầm biogas, xử lý một phần các chất dinh dưỡng
(N,P) mà hầm biogas chưa xử lý được. Tuy nhiên, hàm lượng chất dinh dưỡng
trong nước hồ còn khá cao, vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước thải sau xử lý tại hồ
sinh học có thể phù hợp với các mục đích phục vụ nước tưới tiêu, thuỷ lợi (Không
tưới cho các loại rau và thực vật ăn tươi sống).
3. Nước xả được trộn với nước kênh mương lấy tại các mương dẫn nước sử dụng
tưới cho cây ớt trồng trong bình thực nghiệm với hàm lượng 200ml/bình và thời
gian tưới bón vào 3 giai đoạn, cây con 3 lá mầm, cây đẻ nhánh và giai đoạn ra hoa.
Kết quả cho thấy với tỷ lệ pha trộn nước xả/nước kênh mương là 1/1 hoặc 1,5/1 cho
hiệu quả tốt nhất, cây trồng phát triển nhanh và cho năng suất cao nhất.
Kiến nghị:
tỷ lệ 1:1 đến 1,5:1. Như vậy, có thể tiết kiệm được tiền phân bón và góp phần xử lý
nguồn nước thải này.