Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 1 -
1.1. Đặt vấn đề
1. 2. Cơ sở hình thành khóa luận
1. 3. Mục tiêu của khóa luận
1. 4. Nội dung thực hiện
1. 5. Phương pháp thực hiện
1. 6. Phạm vi khóa luận
1.7. Ý nghĩa khoa học và kinh tế xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.Đặt vấn đề:
Nước ta đang trong quá trình đổi mới, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước đang được đẩy mạnh. Bên cạnh những thành tựu kinh tế xã hội mang
lại do sự phát triển công nghiệp thì vấn đề môi trường cũng được đặt ra hết sức cấp
bách. Nếu không được giải quyết thỏa đáng và kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến việc
duy trì bền vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thậm chí còn làm chậm lại tốc độ tăng
trưởng kinh tế và làm nảy sinh các vấn đề xã hội.
Để đảm bảo phát triển bền vững, đi đôi với các biện pháp quản lý môi trường
như tiết kiệm nguyên liệu, cải tiến công nghệ - thiết bị, áp dụng công nghệ hiện đại,
công nghệ thân thiện với môi trường… thì việc xử lý nước thải sinh ra trong quá
trình sản xuất rất cần thiết. Nếu không giải quyết tốt việc thoát nước và xử lý nước
thải của nhà máy, xí nghiệp công nghiệp sẽ gây ô nhiễm đối với các nguồn nước
dẫn tới hậu quả xấu, gây tổn thất cho mọi ngành kinh tế. Trong đó các xí nghiệp chế
biến thực phẩm, nước thải có chứa một lượng chất hữu cơ lớn, gây ô nhiễm nặng
cho các nguồn tiếp nhận. Chế biến thủy sản là một ngành như vậy. Bên cạnh những
mặt tích cực của ngành tồn tại những mặt trái, đó là vấn đề ô nhiễm môi trường
:khí thải, chất thải rắn, nước thải. Nếu không có biện pháp xử lý kịp thời thì chính
chúng là nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môi trường. Trong đó nước thải cần
được quan tâm giải quyết do nước thải chế biến thủy sản (CBTS) phát sinh với
lượng lớn, có hàm lượng chất hữu cơ cao và chứa các thành phần sinh mùi… Việc
bàng Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh tây Nam bộ.(nhà máy xử lý nước thải tập
trung khu cong nghiệp Bình chiểu, công ty seapimex, công ty TNHH thủy sản
ANGST-TRƯỜNG VINH, công ty Hùng Vương Sa Đéc)
1.7. Ý nghĩa về khoa học – kinh tế:
-Ý nghĩa về khoa học:
Ứng dụng các kiến thức công nghệ sinh học tiên tiến hiện nay, nhằm lựa
chọn các giải pháp tối ưu trong xử lý nước thải chế biến thủy sản.
-Ý nghĩa về kinh tế: Tiết kiệm chi phí trong xử lý nước thải thủy sản.
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 3 -
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 4 -
2.1. Tổng quan về ngành chế biến thủy sản.
2. 2.Vấn đề về môi trường do ngành chế biến thủy sản gây
ra.
2.3. Tính chất và thành phần nước thải của ngành chế biến
thủy sản.
2. 4. Nhận xét chung về nước thải ngành chế biến thủy
sản.
Khóa luận tốt nghiệp
2.1 .Tổng quan về ngành chế biến thủy sản:
Theo thống kê của bộ thủy sản năm 2010 thì hiện nước ta đã có khoảng
1.4000.000 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra còn có khoảng 544.500.000
ha ruộng trũng, 56.200.000 ha ao hồ chuyên nuôi trồng thủy sản.
Đứng đầu trong các tỉnh tây nam bộ là: Đồng Tháp, Ang Giang, Bến Tre,…
với vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu ôn hòa, nguồn nước ít ô nhiễm do nằm đầu nguồn
hệ thống sông Tiền và sông Hậu cho nên các tỉnh này rất phát triển về ngành nuôi
trồng và đánh bắt thủy hải sản. Hầu như là hơn 45% dân số ở các tỉnh này sống về
nghành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Do đó việc thành lập các nhà máy chế biến
thủy sản là một trong những vấn đề được các tỉnh này quan tâm nhiều nhất.
thực phẩm đông lạnh xuất
khẩu.
Thuỷ sản đông
lạnh, các mặt hàng
thuỷ sản khô, nước
mắm.
Năm 2003, giá trị sản
xuất thuỷ sản của tỉnh
đạt 3.091 tỷ đồng, sản
lượng 286.000 tấn (*)
Trà
Vinh
Có 10 cơ sở chế
biến thuỷ hải sản đông lạnh
với quy mô lớn và nhiều cơ
sở chế biến thuỷ sản khác
Thuỷ sản
đông lạnh, các mặt
hàng thuỷ sản khô,
nước mắm.
Năm 2003, giá
trị sản xuất thuỷ sản
của tỉnh đạt 1.388,5 tỷ
đồng, sản lượng 63.896
tấn (*)
Đồng Hiện nay, có 4 cơ sở chế Thuỷ sản đông Năm 2003, giá trị sản
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 5 -
Khóa luận tốt nghiệp
Tháp
biến thuỷ hải sản đông
khẩu với quy mô 2000 –
20000 tấn sản phẩm/năm.
Thuỷ sản đông
lạnh, các mặt hàng
thuỷ sản khô, đồ
hộp.
Năm 2003, giá trị sản
xuất thuỷ sản của tỉnh
đạt 1.362,6 tỷ đồng, sản
lượng 32.570 tấn (*)
An
Giang
Hiện nay, có 9 cơ sở chế
biến thuỷ hải sản đông
lạnh, thuỷ sản khô xuất
khẩu, với quy mô 50 – 300
tấn sản phẩm/ngày.
Thuỷ sản đông
lạnh, các mặt hàng
thuỷ sản khô, đồ
hộp.
Năm 2003, giá trị sản
xuất thuỷ sản của tỉnh
đạt 1.535,5 tỷ đồng, sản
lượng 67,473 tấn (*)
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP), 2004
(*): Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2004.
2.2. Vấn đề về môi trường do nghành chế biến thủy sản gây ra:
2.2.1.Nguồn gốc phát sinh các chất ô nhiễm trong ngành chế biến thủy hải sản.
Tùy thuộc vào các loại nguyên liệu như tôm, cá, sò, mực, cua… mà
(Quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm khô của công ty Seapimex)
-Quy trình chế biến thủy sản công ty Hùng Vương Sa Đéc:
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 7 -
Xếp khuông
Cấp đông
Bảo quản
Rửa hai
Nước thải
Phân loại cỡ
Thủy sản (nguyên liệu)
Bảo quản đến nhà máy
Rửa lần một
Sơ chế
Nước thải
Nước thải
Khóa luận tốt nghiệp
+Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 8 -
Khóa luận tốt nghiệp
Ban đầu cá đánh bắt đem về sau đó bảo quản đến nhà máy, chất bảo quản ở
đây tùy từng tập quán của địa phương mà có cách bảo quản khác nhau thông thường
bằng nước đá, ngày xưa người ta dùng formon để bảo quản thế nhưng chất này gây
độc cho người tiêu dùng nên không dùng nữa.
Khi đem đến nhà máy tiến hành rửa nguyên liệu lúc này lượng nước rửa
sinh ra tương đối nhiều khoảng 40m
3
cho 100 tấn cá. Sau khi rửa xong người ta tiến
hành sơ chế lúc này cũng rửa nhưng lượng nước chỉ bằng 1/3 lượng nước rửa một.
Phân loại cỡ ở giai đoạn này hầu như là không sinh nước thải.
Sau khi phân loại cỡ tiến hành rửa lần hai lúc này lượng nước sinh ra là rất
liiiiiii
liii
liệu
Tiếp nhận nguyên liệu
liiiiiii
liii
liệu
Rửa một
liiiiiii
liii
liệu
Cân phân cỡ
liiiiiii
liii
liệu
Đánh vẫy, bỏ nội tạng
liiiiiii
liii
liệu
Rửa hai
liiiiiii
liii
liệu
Cân phân cỡ
liiiiiii
liii
liệu
Rửa ba
liiiiiii
liii
gây bệnh có trong cá.
Rửa ba giai đoạn này là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình chế biến
thủy sản bởi vì giai đoạn này đưa vào giai đoạn chế biến nên cần rửa kỹ lưỡng.
Ngâm giai đoạn này hầu như ít nước thải nhất vì lượng nước sử dụng không
nhiều, nhưng nó sinh ra tải lượng ô nhiễm lớn.
Rửa bốn giai đoạn này ít nước thải hơn các giai đoạn rửa trên vì giai đoạn
này là kềt thúc quá trình chế biến, nên nước thải hầu như không nhiều lắm, tải
lượng ô nhiễm của công đoạn này là không cao.
Vô khay và cấp đông giai đoạn này hầu như không sinh nước thải .
Tóm lại với các công đoạn trên thì qua nhiều lần rửa như vậy tải lượng ô
nhiễm là rất lớn. Thông thường COD dao động trong khoảng 1600 – 2300 mg/l hàm
lượng BOD trong khoảng 1200 – 1800 mg/l.
Hàm lượng nitơ tổng cũng rất cao nằm vào khoảng 5- 120 mg/l.
Hàm lượng chất rắn lơ lững của công ty này là 200 – 1000 mg/l.
-Quy trình chế biến thủy sản công ty TNHH thủy sản ANGST-TRƯỜNG
VINH:
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 11 -
Khóa luận tốt nghiệp
+Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Cá nguyên liệu sau khi đánh bắt người ta tiến hành vận chuyển tới nhà máy
sau đó qua quá trình rửa, ở giai đoạn đầu này rửa chủ yếu là các chất bám lên da cá
là chính.
Giai đoạn này nước thải tương đối nhiều vì đối với công đoạn làm phi lê thì
cần rửa sạch.
Lóc thịt đây là giai đoạn ít sinh nước thải nhưng sinh nhiều chất hữu cơ và
các chất khó phân hũy nhất: máu cá, da cá, vẫy cá, ruột cá, xương cá,… các chất
này có chất dễ phân hũy, có chất khó phân hũy.Giai đoạn này là giai đoạn khó xử lý
và phân loại chất thải cũng như là kiểm soát để tiện lợi cho việc xử lý.
Rửa hai đây là công đoạn sinh nhiều chất thải cũng như là nước thải nhất. Vì
lúc này nước chủ yếu dùng để rửa thịt cá cho nên các chất hữu cơ sinh ra nhiều và
2.2.3.Hơi chlorine:
Dung dịch chlorine được dung để khử trùng dụng cụ, thiết bị sản xuất, rửa
tay, rửa nguyên liệu với hàm lượng 20-200 ppm, Hơi Clo khuếch tán vào trong
không khí ngay tại khu vực sản xuất với nồng độ cao, ảnh hưởng đến người lao
động.
Công nhân làm việc trong môi trường có các khí độc và các mùi hôi tanh làm
cơ thể mệt mỏi, giảm hiệu suất làm việc, ảnh hưởng đến sức khoẻ hiện tại và có tác
hại lâu dài.
2.2.4.Tác nhân lạnh:
Hơi dung môi chất lạnh bị rịn rỉ bao gồm các loại khí như R12, R22, NH
3
…
các khí này có thể ảnh hưởng đến tầng ozon.
-Khí NH
3
: Hơi này có trong không khí khu vực phân xưởng sản xuất trong
trường hợp bị rỉ đường ống của hệ thống lạnh. Khí có mùi khai đặc trưng, dễ bị tan
trong nước, có phản ứng kiềm mạnh.Vì thế khí này ảnh hưởng đến mắt, mũi,
họng… Tiêu chuẩn cho phép xả thải là 0.02 mg/l.
-Khí CFCs: Được dung trong các thiết bị làm lạnh, là tác nhân làm thủng
tầng ozon và được khuyến cáo không nên dùng nữa.
-Mi hơi: Mi hơi của nguyên liệu là do sự phân hủy các chất hữu cơ có trong
chất thải rắn và nước thải. Theo thời gian, các chất hữu cơ đặc biệt là chất thải rắn
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 13 -
Khóa luận tốt nghiệp
sẽ phân giải các axit amin thành các chất đơn giản hơn như trimetyamin,
dimetyamin… là những chất có mùi tanh, hơi thối. Công nhân làm việc trong điều
kiện mùi hôi tanh làm cho cơ thể mệt mỏi, giảm hiệu suất làm việc, giảm hiệu quả
sản xuất.
-Khí thải từ các lò nấu, chế biến: Khói thải từ các lò nấu thủ công, nhiên liệu
này triệt để cần có hệ thống xử lý bậc 3 (xử lý chất dinh dưỡng). Điều này làm diện
tích công trình và chi phí đầu tư xây dựng hệ thống xử lý rất lớn. Thường có mùi
hôi do có sự phân huỷ các axit amin
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 14 -
Khóa luận tốt nghiệp
Với tải lượng chất ô nhiễm của ngành chế biến thủy sản thì hưởng rất lớn
đến sức khỏe con người.
Làm tăng độ độc của nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của hệ thủy
sinh, làm giảm khả năng tạo oxy hòa tan trong nước.
Hàm lượng chất hữu cơ cao tạo điều kiện thiếu oxy, trong nước xảy ra quá
trình phân hủy yếm khí tạo ra các sản phẩm độc hại như H
2
S… gây mùi thối cho
nước và làm nước chuyển màu đen.
Là nguồn gốc gây bệnh dịch trong nước, ô nhiễm nguồn nước ngầm.
2.2.6.Chất thải rắn:
Chất thải rắn chủ yếu là các thành phần hữu cơ, dễ lên men, gây thối rửa và
tạo mùi khó chịu, ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí, đó cũng là
nguồn lây lan các dịch bệnh.
-Chất thải rắn được phát sinh từ 3 nguồn:
Từ quá trình chế biến: Bao gồm các loại vỏ, đầu, nội tạng… Nếu chất thải
này không được thu gom sẽ phân hủy gây ra mùi khó chịu.
Từ khu vực phụ trợ: bao gồm chất thải rắn phát sinh từ căntin, bao bì hư
hỏng… Chúng có thành phần giống rác đô thị.
Các loại cặn bã dư do quá trình xử lý nước thải và quá trình phân hủy sinh
học.
2.2.7.Nhiệt thải và tiếng ồn:
Nhiệt thải từ lò nấu, từ hệ thống làm lạnh và tiếng ồn từ các thiết bị sản xuất
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ công nhân và người dân xung quanh.
Tiếng ồn và độ rung thường gây ảnh hưởng trực tiếp đến thính giác, làm
đối phong phú, đối với diều kiện nước ta nên các thành phần nước thải thuỷ sản
cũng khá phức tạp và đa dạng bao gồm 3 loại nước thải: Nước thải sản xuất, nước
thải vệ sinh công nghiệp và nước thải sinh hoạt trong đó nước thải sản xuất có mức
độ ô nhiễm cao hơn cả tuỳ theo đặc tính của nguyên liệu sử dụng mà nước thải có
tính chất khác nhau. Nước thải sản xuất chế biến thuỷ sản chức chủ yếu là chất thải
hửu cơ có nguồn gốc từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và chất béo,
trong hai thành phần này chất béo khó bị phân huỷ bởi vi sinh vật.Nước thải của xí
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 16 -
Khóa luận tốt nghiệp
nghiệp chế biến thuỷ sàn có hàm lượng COD dao động từ 1600 – 2300 mg/l, hàm
lượng BOD
5
cũng khá lớn từ 1200-1800mg/l trong nước thường chức các vụ thủy
sản và các vụn này rất dể lắng. Hàm lượng Nitơ thường rất cao chứng tỏ mức độ ô
nhiễm chất dinh dưỡng rất cao (50 – 120mg/l). Ngoài ra trong nước thải thuỷ hải
sản có chứa các thành phần chất hữu cơ khi phân huỷ tạo ra các sản phẩm trung
gian của sự phân huỷ các axid béo không bảo hoà tạo mùi rất khó chụi và đặc trưng
làm ô nhiễm về mặt cảm quan và ảnh hưởng sức kho công nhân trực tiếp làm việc.
Đặc điểm của ngành chế biến thuỷ hải sản là có lượng chất thải lớn. Các chất
thải có đặc tính dễ ươn hỏng và dễ thất thoát theo đường thâm nhập vào dòng nước
thải.
Đối với các khâu chế biến cơ bản, nguồn thải chính là khâu xử lý và bảo
quản nguyên liệu trước khi chế biến, khâu rả đông, làm vệ sinh thiết bị nhà xưởng.
Đối với hoạt động đóng hộp, ngoài các nguồn ô nhiễm ở các khâu như trên còn có
khâu rót nước sốt, nước muối, dầu. Các nguồn thải chính từ sản xuất bột cá và dầu
cá là nước máu từ khâu bốc dỡ và bảo quản cá và thời điểm dòng thải đậm đặc nhất
là khâu ly tâm nước ngưng tụ các thiết bị cô đặc.
Nước trong chế biến thuỷ hải sản có hàm lượng chất hữu cơ cao vì trong đó
có dầu, protein, chất rắn lơ lửng và chứa lượng phốtphát và nitrat. Dòng thải từ chế
biến thuỷ sản còn chứa những mẫu vụn thịt xương nguyên liệu chế biến, máu chất
Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường, 2007
Bả ng 2.3. bảng thống kê về ô nhiểm của các nhà máy chế biến thủy sản
TT
Tên cơ sở công
nghiệp
Công suất
(TSP/ngày)
Tải lượng ô nhiễm
SS BOD
5
COD N P
1 Công ty XNK
thủy sản Việt
12 – 15 484 3300 3960 198 21
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 19 -
Các thông số Kết quả Đơn vị
pH 6.2 - 7,5 -
COD 2.000 mg/l
BOD
5
1.200 mg/l
Dầu mỡ 80 - 250 mg/l
SS 1200 mg/l
Σ N
100 mg/l
Σ P
30 mg/l
Khóa luận tốt nghiệp
Nam
(SEAPRODEX)
1 – 2 351 460 630 -
9
Xí nghiệp đông
lạnh Huế
2 – 3 - 428 717 - -
10
Cty XNK TS
Quảng Ninh
4 - 6 - - 1347 189 47
Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường, 2007
2. 4. Nhận xét chung về nước thải nghành chế biến thủy sản:
Từ tải lượng ô nhiễm của một số nhà máy nêu trên, nhận thấy nồng độ các
chất ô nhiễm trong nước thải thường không ổn định, phụ thuộc nhiều vào chủng loại
nguyên liêu, đặc tính sản phẩm, trình độ công nghệ và thiết bị, kỹ thuật chế biến,
nhu cầu sử dụng nước cũng như những đặc điểm riêng của từng cơ sở sản xuất.
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 20 -
Khóa luận tốt nghiệp
Mức độ nhiễm bẩn theo các chỉ tiêu ô nhiễm dao động rất lớn. So sánh kết quả của
các thông số đánh giá ô nhiễm với TCVN 5945 – 2005 về giới hạn thông số và nồng
độ chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp áp dụng đối với nguồn loại B, cho
thấy phần lớn vượt giới hạn cho phép nhiều lần: SS từ 1 – 5 lần, BOD
5
3 – 18 lần,
COD 2 – 14 lần, N
ts
đến 1,8 lần, P
ts
đến 4,2 lần và hàm lượng dầu mỡ động vật đến
2,6 lần. Với tỷ lệ BOD
5
rác được giữ lại trên song chắn rác mà ta có thể thu gom bằng phương pháp thủ
công hay cơ khí.
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 22 -
Khóa luận tốt nghiệp
Song chắn rác nhằm giữ lại các vật thô như rác, giẻ, giấy, vỏ hộp, mẫu đất
đá, các nguyên liệu sản xuất rơi vãi…ở trước các công trình sử lý. Song chắn rác
được làm bằng sắt tròn hoặc vuông… đan sắp xếp với nhau, song chắn rác theo khe
hở được phân biệt thành 2 loại: thanh chắn rác thô nằm trong khoảng (30 – 200mm)
và loại trung bình là ( 5 –25mm). Theo đặc điểm cấu tạo chia song chắn rác thành 2
loại: loại cố định và loại di động. Theo phương pháp lấy rác chia làm hai loại là:
loại thủ công và loại cơ giới. Song chắn rác thường đặt nằm nghiêng so với mặt
nằm ngang một góc 45
0
– 90
0
để lợi khi cọ rửa, nhưng cũng có thể đặt vuông góc với
hướng nước chảy. Thanh đan song chắn rác có thể dùng loại tiết diện tròn d = 8 ÷10
mm, loại hình chữ nhật có: S x b = 10 . 40 và 8 . 60 mm, hay là hình bầu dục…,
trong thực tế song chắn rác thường được dùng là song chắn rác hình chữ nhật, tuy
nhiên loại này có tổn thất thuỷ lực lớn.
3.1.2.Lưới lọc:
Nước thải qua song chắn rác để có thể loại bỏ được những chất rắn có kích
thước lớn còn qua lưới lọc để loại bỏ những tạp chất có kích thức nhỏ hơn và mịn
hơn. Các vật thải được giữ lại trên bề mặt lọc, phải cào lấy ra để tránh tình trạng
chắn làm tắc dòng chảy.
Người ta có thể thiết kế lưới lọc hình tang trống cho nước chảy từ ngoài vào
hoặc từ trong ra.
3.1.3.Bể lắng cát:
Bể lắng cát dùng để tách cát và các chất vô cơ không tan khác ra khỏi nước
thải. Việc tách cát và các tạp chất là cần thiết để cho các quá trình ổn định bùn cặn
cho chảy vào các dòng thủy vực. Hơn nữa nước thải chứa dầu mỡ khi cho vào xử lí
sinh học sẽ làm bít các lỗ hổng ở các vật liệu lọc và làm hỏng các cấu trúc bùn hoạt
tính trong bể Aerotank…
Dầu mỡ được lấy ra khỏi bể bằng nhiều biện pháp khác nhau. Biện pháp đơn
giản là dùng các tấm sợi quét trên mặt nước hoặc là chế tạo ra các loại máy hút dầu
mỡ đặt trước dây truyền xử lý.
SVTH: Dương Hồng Thanh Tân - 24 -
Khóa luận tốt nghiệp
3.2.Phương pháp hoá lý:
Là phương pháp dùng các phản ứng hoá học để chuyển các chất ô nhiễm
thành các chất ít ô nhiễm hơn, chất ít ô nhiễm thành các chất không ô nhiễm. Ví dụ
như dùng các chất ôxy hoá như ozone, H
2
O
2
, O
2
,Cl
2
…để oxy hoá các chất hữu cơ,
vô cơ có trong nước thải. Phương pháp này giá thành xử lý cao nên có hạn chế sử
dụng. Thường chỉ sử dụng khi trong nước thải tồn tại các chất hữu cơ, vô cơ khó
phân huỷ sinh học. Thường áp dụng cho các loại nước thải như: nước thải rò rỉ rác,
nước thải dệt nhuộm, nước thải giấy.
Đôi khi một số nhà máy chế biến thủy sản cũng áp dụng phương pháp hoá
học để đưa vào quy trình xử lý, vì phương pháp sẽ tăng cường xử lý cơ học hoặc
sinh học.
Những phản ứng diễn ra có thể là phản ứng oxy hoá khử, các phản ứng tạo
chất kết tủa hoặc các phản ứng phân huỷ chất độc hại.
3.2.1.Trung hòa: