Nghiên cứu, xác định mức độ tồn lưu chất độc da camdioxin và đánh giá hiệu quả thử nghiệm công nghệ hóa cơ xử lý dioxin tại khu vực sân bay biên hòa - Pdf 36

LỜI CÁM ƠN!
Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, Tôi đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu của các thầy cô, các đồng nghiệp và gia đình trong suốt quá trình
thực hiện luận văn. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ
lới cám ơn chân thành tới:
TS. Nguyễn Hùng Minh đã tận tình hướng dẫn tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Văn phòng 33; Dự án “Xử lý dioxin tại những điểm ô nhiễm nặng ở Việt
Nam” đã tạo điều kiện về thời gian và cho tôi cơ hội được tham gia nhóm khảo
sát tại sân bay Biên Hòa và được tập huấn công tác thử nghiệm công nghệ HóaCơ xử lý dioxin tại.
Phòng thí nghiệm Dioxin (Tổng cục môi trường) đã giúp đỡ về chuyên
môn và hỗ trợ trong suốt quá trình lấy mẫu tại Biên Hòa và phân tích các số liệu.
Chân thành cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo sau đại
học, Khoa Môi trường và Bộ môn Công nghệ Môi trường đại học Khoa học Tự
nhiên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cám ơn TS.Vũ Chiến Thắng, Phó Chánh Văn
phòng 33 đã có những gợi ý, giải đáp những vướng mắc trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thiện luận văn.
Cám ơn bố mẹ anh chị em và người vợ yêu quý đã luôn ở bên cạnh động
viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn này./.


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG................................................................................................iv
DANH MỤC HÌNH..................................................................................................v
DANH MỤC VIẾT TẮT........................................................................................vii
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................3

1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam...............................3

3.1 Nghiên cứu, xác định mức độ ô nhiễm tại khu vực phía tây nam sân bay
Biên Hòa (khu vực Pacer Ivy).......................................................................30
3.1.1 Nhiễm độc dioxin trong đất bề mặt.................................................32
3.1.2 Nhiễm độc trong đất và trầm tích sâu..............................................36
3.2 Đánh giá hiệu quả của công nghệ Hóa-Cơ xử lý dioxin.........................46
3.2.1. Kết quả phân tích đất trước và sau xử lý........................................46
3.2.2 Đánh giá hiệu quả xử lý...................................................................49
3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xử lý.......................................54
Dựa vào bảng trên ta thấy, nồng độ đầu vào lại tỷ lệ nghịch tức là nồng độ
đầu vào càng cao thì hiệu quả xử lý lại cao hơn. Điều này có nghĩa là phản
ứng trong các lò phản ứng không phải là động lực học bậc một, mà trong quá
trình phản ứng có thể tạo ra sản phẩm trung gian có độc tính cao hơn và
cũng có thể do quá trình lấy mẫu không đồng nhất từ lúc lấy mẫu đầu vào,
đầu ra hoặc là dioxin bị lưu, dồn lại trong lò phản ứng từ những mẻ xử lý
trước…...........................................................................................................57
3.3 Đề xuất giải pháp công nghệ xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa ...........58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................63

iii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Số lượng các chất diệt cỏ đã được sử dụng tại miền Nam Việt Nam . .3
trong thời gian chiến tranh với Mỹ.........................................................................3
Bảng 1.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 2000 của Bộ Quốc phòng,
Văn phòng 33 và Ban 10-80.....................................................................................6
Bảng 1.3 Một số dự án thử nghiệm công nghệ Hóa Cơ.......................................15
Bảng 1.4: Kết quả xử lý PCPs (ug/kg)...................................................................16
Bảng 1.5: kết quả xử lý dioxin và furan (Đơn vị tính:TEQ)................................16

Hình 1.2 Cấu tạo máy nghiền bi............................................................................11
Hình 1.3 Mô tả quá trình đứt gẫy các liên kết hóa học........................................12
Hình 1.4 Mô hình công nghệ giải hấp nhiệt trong mố .........................................13
Hình 1.5 Biểu đồ độ giảm của TCDD trong nghiên cứu thử nghiệm
tại Đà Nẵng.............................................................................................................. 14
Hình 2.1 Kết quả lấy mẫu dioxin tại phía Tây Nam đường bay (Pacer Ivy)......19
Hình 2.2 thiết bị sấy khô........................................................................................22
Hình 2.3 bốn lò phản ứng được lắp song song......................................................22
Hình 2.4 hệ thống máy nhào đất sau xử lý............................................................23
Hình 2.5 Các bao đất nhiễm dioxin lưu tại nhà kho.............................................24
Hình 2.6 Phương pháp lấy mẫu đất dưới bề mặt.................................................27
Hình 3.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu vực Pacer Ivy...............................................31
Hình 3.2 Phân bố giá trị nồng độ TEQ tại khu vực phía Tây/Pacer Ivy (vàng và
đỏ: trên 1.000 ppt)...................................................................................................34
Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn nồng độ dioxin phân bố theo chiều sâu
(mẫu 11BH-H6).......................................................................................................37
Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn nồng độ dioxin phân bố theo chiều sâu
(mẫu 11BH-C3).......................................................................................................38
Hình 3.5 Vị trí 10 mẫu core và nồng độ dioxin trong các lớp bề mặt (Màu xanh
<1.000 ppt; Màu tím > 1.000ppt)...........................................................................41
Hình 3.6 Phân chia ranh giới của các khu vực nhiễm độc tại khu vực Pacer Ivy
( diện tích ô 50x50m)...............................................................................................45
Hình 3.7 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 01-10.................................46
Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 11-16.................................47
Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 17-23.................................47
Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 24-30...............................48
Hình 3.11 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 31-38...............................48

v


QC: Quality Control/ kiểm soát chất lượng
VOC: Chất hữu cơ dễ bay hơi

vii


MỞ ĐẦU
Trong thời gian chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, từ năm 1961 đến 1971,
quân đội Mỹ đã phun rải hơn 74 triệu lít chất diệt cỏ xuống miền nam Việt Nam,
trong đó ước tính có khoảng 366 kg dioxin. Đến nay, đã gần 5 thập kỉ trôi qua từ
khi chất độc da cam được sử dụng tại Việt Nam, dioxin vẫn tiếp tục gây ra ô nhiễm
môi trường, thâm nhập chuỗi thức ăn và cộng đồng dân cư, đặc biệt tại những khu
vực gần với các căn cứ không quân cũ của quân đội Mỹ, đây là nơi được coi là các
điểm nóng về ô nhiễm.Trong 3 điểm nóng (sân bay Phù Cát, Đà Nẵng, Biên Hòa)
thì Sân bay Biên Hoà được phát hiện là khu vực ô nhiễm dioxin nặng nhất. Ngay
sau khi chiến tranh kết thúc Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động
nghiên cứu và các biện pháp phục hồi môi trường tại các điểm nóng. Tại sân bay Đà
Nẵng đang áp dụng công nghệ giải hấp nhiệt để xử lý khoảng 73.000m 3 đất và trầm
tích đất nhiễm, tại sân bay Phù Cát trong năm 2012 dự án “Xử lý ô nhiễm tại các
điểm nóng ở Việt Nam” thuộc Văn phòng 33 đã tiến hành chôn lấp cô lập 7.500m 3
đất nhiễm. Riêng tại khu vực sân bay Biên Hòa chúng ta vẫn chưa tính toán được
chính xác khối lượng đất nhiễm dioxin cần xử lý để lên phương án xử lý dioxin.
Vì vậy, để có thể xây dựng được kế hoạch tổng thể tẩy độc đất nhiễm tại sân
bay Biên Hòa, việc điều tra, khoanh vùng và tính toán khối lượng đất nhiễm là cần
thiết. Cùng với đó là phải tìm kiếm được công nghệ có khả năng xử lý triệt để đất
nhiễm dioxin.Trong kế hoạch “Xử lý ô nhiễm dioxin tại các vùng nóng ở Việt
Nam” nhằm tìm kiếm các công nghệ áp dụng xử lý triệt để đất nhiễm dioxin, đáp
ứng cả về kinh phí và thời gian xử lý. Công nghệ hóa cơ còn được gọi là công nghệ
nghiền bi của New Zealand là một trong số các công nghệ nằm trong Chương trình
thử nghiệm.Chương trình này được thiết kế với sự phối hợp của các bên gồm



CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam
1.1.1 Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến
tranh của Mỹ ở Việt Nam
Bảng 1.1: Số lượng các chất diệt cỏ đã được sử dụng tại miền Nam Việt Nam
trong thời gian chiến tranh với Mỹ

Đơn vị: lít
Tác giả

Chất da cam

Chất trắng

Chất xanh

Các chất:
tím, hồng,
xanh lá mạ

Tổng cộng

Westing (1976)

44.373.000

19.835.000


Trong bảng này số liệu của Westing không bao gồm các chất tím, hồng và
xanh mạ là những chất có hàm lượng dioxin rất cao (Bảng 1.1). Theo Young
(2009), thì con số 74.175.920 lít là tổng số Mỹ đưa vào Việt Nam, đến năm 1972
theo kế hoạch Pacer Ivy đã đưa về nước 25.200 phi (loại 208 lít) chất da cam, tương
đương 5.241.600 lít, còn lượng đã sử dụng là 74.250.800 lít. Theo số liệu của
Stellman (2003) thì số lượng tổng các chất diệt cỏ là 76.954.806 lít(~77 triệu) các
chất, tương đương với 95.112.688 kg (~ 95 triệu kg), trong đó có 67% các chất chứa
dioxin, mà chủ yếu là chất da cam với khối lượng 49,27 triệu lít, tương đương
63.000 tấn.
Khối lượng 95.112.688 kg các chất diệt cỏ này được phun rải lên 2,63 triệu
ha chiếm 15,2% diên tích toàn miền Nam Việt Nam (172.540.000 ha, theo SIPRI,
1971). Nếu chỉ tính riêng các chất có hoạt chất 2,4,5-T, thì diện tích bị phun rải loại
các chất này, cũng theo Stellman và cộng sự là 1,68 triệu ha, chiếm 9,7 % diện tích
toàn miền Nam.

3


Từ các số liệu trên đây, có thể đánh giá mật độ phun rải như sau: Tất cả các
chất là ~ 36 kg/ha, riêng các chất da cam với khối lượng 49.268.937 lít tương đương
63.064.240 kg, rải trên 1,68 triệu ha thì mật độ 37,5 kg/ ha, gấp 17 lần liều sử dụng
trong nông nghiệp theo hướng dẫn của bộ lục quân mỹ năm 1969 là 2,2 kg/ha. Với
mật độ này thì các chất diệt cỏ trở thành những chất độc phát quang và phá hoại
mùa màng có tính hủy diệt.
Theo ước tính có hơn 2,5 triệu ha rừng bị tác độc ở nhiều mức khác nhau gây
ảnh hưởng nặng nề đến sinh thái rừng ở nam Việt Nam (Văn phòng 33,2007). Và
hàng triệu nạn nhân chất độc da cam/dioxin với nhiều loại chứng bệnh khác nhau:
ung thư, suy giảm miễn dịch, tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh, v.v. Đặc biệt, ở một
số sân bay như Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát, có những điểm bị ô nhiễm chất độc
da cam/dioxin rất nặng (những “điểm nóng” về môi trường), hàm lượng dioxin trong

5470 ppt (theo trọng lượng khô) trong trầm tích. Các đợt khảo sát tiếp theo vào năm
2004-2005 cho thấy nồng độ vẫn cao trong một vài mẫu trầm tích tại hồ 2, với nồng
độ cao nhất trong mẫu trầm tích là 833 ppt TEQ. Trong chương trình khảo sát gần
đây nhất vào tháng 1 năm 2008, hiện trạng ô nhiễm dioxin tại khu Z1 vẫn còn cao,
với nồng độ TEQ của mẫu cao nhất là 262.000 ppt. Ngoài ra, các khu vực phía tây
nam sân bay và khu vực vành đai của Z1, nồng độ dioxin trong nhiều mẫu vượt quá
ngưỡng 1.000 ppt TEQ. Đặc biệt các mẫu lấy tại vùng đất thấp ở cuối dốc của khu
Z1 bao gồm các kênh rạch thoát nước, ao hồ tại đầu phía Nam của sân bay tiếp tục
bị ô nhiễm dioxin với nồng độ cao. Cần có thêm các chương trình lấy mẫu và phân
tích mẫu để có thể xác định chính xác thể tích đất và trầm tích cần được xử lý. Nồng
độ dioxin tại khu vực Pacer Ivy (địa điểm do Bộ Quốc phòng Mỹ đề nghị khảo sát,
nằm ở phía Tây Nam của sân bay) là tương đối cao, cho thấy khu vực này có thể đã
được sử dụng để phun thuốc diệt cỏ trong chiến tranh Mỹ - Việt Nam. Tuy nhiên số
lượng mẫu lấy tại khu vực này còn hạn chế. Vì đây là một khu vực có diện tích lớn
và có khả năng lan truyền ô nhiễm đến các hệ sinh thái nước qua hệ thống kênh
rạch, nên cần thiết phải có những đánh giá kỹ lưỡng về mức độ ô nhiễm.Kết quả
nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 1.2.

5


Bảng 1.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 2000 của Bộ Quốc phòng, Văn
phòng 33 và Ban 10-80.
Tên dự án

Vị trí
Khu vực Z1
Hồ Cổng 2

Khu ruộng gần hồ

(n)

Nồng độ trung
bình (tổng
TEQ)

Khoảng nồng độ
(tổng TEQ)

Đất

50

18750 ppt

nd – 410000 ppt

Trầm tích

3

2990 ppt

1380 – 5470 ppt

Trầm tích

6

339 ppt


107 ppt

59 – 210 ppt

Đất

7

50 ppt

26 – 108 ppt

Trầm tích

7

88 ppt

17 – 149 ppt

Trầm tích

-

-

36 – 833 ppt

Đất


Trầm tích

4

2835 ppt

1090 – 5970 ppt

Đất

30

1119 ppt

6,15 – 13300 ppt

Trầm tích

1

413 ppt

Trầm tích

5

966 ppt

6

chứa cũ, và PISA ở sân bay thành phố Đà Nẵng. Trong nghiên cứu này, mặt cắt
đứng ở khu kho chứa Pacer Ivy chỉ ra rằng nồng độ TEQ tăng theo độ sâu: 0-10
cm và 10-30 cm.
- Theo hướng lan tỏa, dioxin tích tụ trong hồ Sen, trong bùn, động vật, thực
vật thủy sinh: trong 3 hồ: hồ Sen A bị ô nhiễm dioxin nặng cần có biện pháp xử lý.
Hồ B và hồ C: trong các mẫu bùn và cá nồng độ dioxin không cao, dưới 100 ppt
TEQ.
- Khu vực ngoài sân bay theo hướng lan tỏa: Đất khu dân cư, bùn trong các
hồ Xuân Hà, hồ 29-3, sông Hàn, sông Cẩm Lệ, sông Phú Lộc có nồng độ dioxin
thấp, dưới mức cho phép.
- Động vật, thực vật thủy sinh trong hồ Sen A có hàm lượng dioxin cao, trên
ngưỡng cho phép, cần xử lý và không được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn cho
chăn nuôi.
- Kết quả khảo sát vào năm 2009 cho thấy nồng độ dioxin cao và khẳng định
khu vực đầu phía bắc sân bay Đà Nẵng là một điểm nóng. Ô nhiễm dioxin ở khu
phía nam sân bay Đà Nẵng ở mức nhỏ.
- Kết quả khảo sát mới nhất vào tháng 1 năm 2010 cho thấy mức độ ô nhiễm
dioxin trong đất tại các khu kho chứa, trộn và nạp; và trầm tích trong các khu kênh
rạch vẫn cao. Đặc biệt, là dioxin được tìm thấy trong nước ngầm với nồng độ

8


khoảng 0,86 ppt TEQ, chúng tỏ dioxin đã có khả năng ngấm sâu vào các mạch nước
ngầm.
Tình hình xử lý dioxin tại Đà Nẵng:
Đất và trầm tích ô nhiễm hiện đang được xử lý bằng công nghệ bằng công
nghệ giải hấp nhiệt tại mố (IPTD, in pile thermal destruction).
Tháng 4/2011 Bộ Quốc phòng đã phê duyệt dự án xử lý môi trường ô nhiễm
dioxin tại sân bay Đà Nằng do Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ)

Đông Nam của sân bay), tuy nhiên các mẫu này đều có nồng độ dioxin thấp và tỷ lệ
TCDD trên tổng TEQ nhỏ (dưới 50%). Kết quả cho thấy khu vực này có lẽ không bị
sử dụng nhiều chất độc da cam trong thời gian chiến tranh, mà có thể đã được sử
dụng để làm văn phòng, doanh trại quân đội và các mục đích giải trí.
Đến năm 2011, trong khuôn khổ Dự án “Xử lý ô nhiễm môi trường tại những
điểm nóng ô nhiễm nặng dioxin tại Việt Nam”, từ nguồn kinh phí Quỹ Môi trường
toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP),
Văn phòng Ban Chỉ đạo 33 (Chủ dự án) năm 2011-2012 đã tiến hành chôn lấp, cô
lập 7.500m3 đất và trầm tích nhiễm dioxin trên diện tích 2,06 ha (Dự án
Dioxin,2011).
1.2 Các phương pháp xử lý dioxin
Xuất phát từ nhu cầu thực tế về việc bảo vệ và phục hồi môi trường, đặc biệt
là khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, từ những năm 90 của thế kỷ trước các
nhà nghiên cứu môi trường của Việt Nam cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức, các
nhà khoa học Quốc tế đã triển khai một số công trình nghiên cứu nhằm tìm ra các
giải pháp tẩy độc cho các khu vực bị ô nhiễm nặng chất độc da cam/dioxin ở sân
bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát. Các công nghệ đã và đang được nghiên cứu,
thử nghiệm và áp dụng tại Việt Nam được trình bầy sau đây:

10


1.2.1 Công nghệ Hóa Cơ (Dehalogenation by mechanochemical reactionDMCR)
Trong báo cáo công nghệ hóa cơ (Mechano-Chemical Destruction) (John
Robertson,2008) của công ty Environmental Decontamination, New Zealand có giới
thiệu. Quá trình xay nghiền tạo ra nguồn năng lượng lớn trong quá trình nghiền vật
liệu tạo ra một phản ứng đám mây tầng sôi của các hạt khoáng và một lượng lớn
electron (gốc phản ứng tự do) và ion trên bề mặt. Công nghệ này hoạt động tốt nhất
khi các chất chứa nhiều khoáng giòn và cứng. Khi những tinh thể bị đứt gẫy thì các
liên kết hóa học cũng bị phá vỡ theo nhiều cách khác nhau, đồng thời giải phóng

1.2.2 Giải hấp nhiệt trong mố (In Situ Thermal Desorption- ISTD/IPTD).
Phương pháp do Terra-Therm Inc.(USA) đề xuất, hiện nay đã và đang được
áp dụng xử lý tại Sân bay Đà Nẵng. Phương pháp gồm hai bước, bước một là dùng
điện cực gia nhiệt cho đất, bùn nhiễm trong mố (ụ đất) đến nhiệt độ thích hợp để
làm bay hơi các hợp chất hữu cơ độc hại gây ô nhiễm (hình 1.4); bước hai là thu
gom và xử lý bằng các phương pháp thích hợp khác. (CDM Smith,2009)

12


Hình 1.4 Mô hình công nghệ giải hấp nhiệt trong mố
1.2.3 Công nghệ Sinh học.
Biện pháp sinh học xử lý chất ô nhiễm nói chung và các hợp chất dioxin nói
riêng đã được nghiên cứu ứng dụng từ lâu đã dần trở thành hướng đi triển vọng vì
đây là một biện pháp tuy có nhược điểm là thời gian xử lý kéo dài nhưng là một
biện pháp hiệu quả, rẻ tiền và đặc biệt là không tạo sản phẩm thứ cấp, an toàn đối
với con người và hệ sinh thái. Công nghệ này được chia thành 3 phương pháp:
- Bổ sung các vi sinh vật có khả năng phân hủy chất ô nhiễm vào vùng ô
nhiễm mà ở đó điều kiện môi trường có thể điều khiển được (bioaugmentation)
(Wise, 2000).
- Kích thích phát triển của vi sinh vật bản địa ngay tại nơi bị ô nhiễm
(biostimulation);
- Phân hủy bằng thực vật (phytoremediation) (Vroblesky và cs, 1998);
Đối với đất nhiễm dioxin tại các điểm nóng Biên Hòa và Đà Nẵng, Viện
công nghệ sinh học thuộc Viện khoa học công nghệ Việt Nam (2004) đã có các
nghiên cứu khảo sát ban đầu, đánh giá khả năng phân hủy dioxin của các vi sinh vật
bản địa. Các nghiên cứu ở điều kiện pilot hiện trường, số lượng vi sinh vật trong các

13


trên diện tích 4,3 ha đất nhiễm chất đôc da cam/dioxin trong các hố chôn an toàn
(báo cáo Dự án Z1, Bộ Quốc phòng). Vào năm 2012, Bộ Quốc phòng phối hợp với
Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ bằng ngân sách của Chính phủ Mỹ thực hiện đã
chôn lấp hoàn toàn 7.500m3 đất nhiễm tại sân bay Phù Cát do Văn phòng 33 làm
chủ dự án (2011-2012).
Phương pháp chôn cô lập không phải là phương pháp xử lý tận gốc nguồn
gây nhiễm, nhưng là giải pháp cô lập và ngăn chặn triệt để nguồn gây nhiễm; giải
pháp đơn giản, rẻ tiền có thể áp dụng trên nhiều vùng miền của Việt Nam.

1.3 Kinh nghiệm trên thế giới áp dụng công nghệ cơ hóa trong xử
lý dioxin
Theo báo cáo của Công ty EDL (EDL company,2011) thì dây truyền công
nghệ MCD của New Zealand đã được áp dụng thực tế xử lý đất bị ô nhiễm
dioxin ở các quy mô khác nhau và ở một số quốc gia, kết quả được trình bày
trong bảng dưới đây.
Bảng 1.3 Một số dự án thử nghiệm công nghệ Hóa Cơ
Năm

Địa điểm/dự án

2006

USA – Francisco

2007

USA - Francisco

2010


Total Petroleum Hydrocarbons (TPHs) và các chất ô nhiễm khác đạt hiệu quả cao
hơn 99% sau 45 phút xử lý.
Bảng 1.4: Kết quả xử lý PCPs (ug/kg)

- Năm 2007, công ty EDL tiếp tục tiến hành thử nghiệm xử lý đất nhiễm
POPs, Dioxins… tại San Fransisco. Kết quả xử lý dioxin và furan cho thấy trong 15
phút đầu, nồng độ dioxin và furan còn cao hơn nhiều lần so với nồng độ ban đầu.
Có thể giải thích rằng dioxin, furan được tạo thành do sự phá hủy thứ cấp của các
hợp chất hữu cơ khác. Sau 15 phút, dioxin và furan bắt đầu được phá hủy, và trung
bình sau 60 phút xử lý hiệu quả đạt đến 94%.
Bảng 1.5: kết quả xử lý dioxin và furan (Đơn vị tính:TEQ)

- Năm 2011, EDL tiến hành thử nghiệm xử lý ở Osaka, Japan. Với hệ thống
xử lý cải tiến hơn so với các cuộc thử nghiệm trước. Mô hình xử lý này giống với

16


mô hình công nghệ đã tiến hành thử nghiệm tại sân bay Biên Hòa vào cuối năm
2012.
200kg đất đã được xử lý với độ ẩm 10%, kết quả được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 1.6 : Kết quả xử lý Dioxins (total)

Reactor 1 out: mẫu đất trước khi ra khỏi lò phản ứng số 1
Reactor 2 out: mẫu đất ra khỏ lò phản ứng số 2
Ngoài ra EDL còn tiến hành xử lý một số các hợp chất hữu cơ khó phân hủy
khác như Aldrien, thuốc trừ sâu và cả kim loại nặng… đều cho thấy hiệu quả xử lý
khá tốt của công nghệ MCD, đó là:
Năm 2004 Mapua, tại New Zealand công nghệ hóa cơ đã xử lý 8.650 m 3 xử
lý: Sr IIIl DDT, aldrien, dieldrin, lindane.

Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga phân tích 11 mẫu và Công ty AXYS phân tích 4
mẫu, bao gồm 2 mẫu lặp lại để kiểm chứng phương pháp.
Kết quả phân tích cho thấy, phía tây của khu vực này (chân dốc đường băng)
có nồng độ dioxin cao (2.000 và 22.300 ppt TEQ). Tại khu vực phía Tây - Nam
mức độ ô nhiễm thấp hơn. Đối với trầm tích, mẫu lấy tại cá ao hồ và rãnh thoát
nước dọc theo hướng dòng chẩy từ đường băng thì nồng độ dioxin đều cao hơn
ngưỡng cho phép của Việt Nam và Quốc tế (1090, 1500 và 5970 ppt TEQ). Đây là
khu vực có địa hình phức tạp với nhiều ao nuôi cá và hồ.Mức độ ô nhiễm dioxin rất

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status