VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LAN HƯƠNG
ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁO
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý
THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
Chuyên ngành
: Triết học
Mã số
: 62.22.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa
học: PGS.TS Trần Nguyên
Việt
Hà Nội – 2014
MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI...................5
4.2.3. Giáo dục ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội..............................131
4.3. Một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức
trách nhiệm trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam......................................................138
Tiểu kết chƣơng 4....................................................................................................144
KẾT LUẬN.............................................................................................................146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................148
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, các dân tộc đều đứng trƣớc đòi hỏi
tất yếu khách quan, đó là vừa phải hòa mình vào bối cảnh chung, vừa phải khẳng
định các tính chất riêng có của quốc gia, dân tộc mình. Với tƣ cách là cái bản chất
định vị vai trò, chỗ đứng của các dân tộc, giá trị văn hóa truyền thống luôn là hệ
chuẩn nhận diện sức sống và tƣơng lai phát triển của chính dân tộc ấy. Do đó, việc
nghiên cứu lý luận nhằm tiếp tục làm rõ vai trò của các giá trị truyền thống với tƣ
cách hình thành nên bản sắc văn hóa là điều cần thiết và có ý nghĩa đối với đất
nƣớc ta hiện nay.
Trong không khí ấy, các giá trị văn hóa tinh thần Đông phƣơng, trong đó có
Nho giáo đang nhận đƣợc sự quan tâm ngày càng nhiều sự đóng góp của nó vào sự
hình thành các giá trị đó trong thời kỳ lịch sử lâu dài. Chính những thành công của
một số nƣớc trong khu vực chịu ảnh hƣởng của Nho giáo đã chứng tỏ điều đó.
Không chỉ trong lịch sử, mà ngày nay Nho giáo nói chung, học thuyết đạo đức của
nó noia riêng đang tiếp tục tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần của nhiều
dân tộc. Do đó, vấn đề căn bản hiện nay là phải khai thác cái gì ở Nho giáo và vận
dụng nó nhƣ thế nào cho phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Không
những thế, yêu cầu này còn xuất phát từ thực tiễn vì mục đích xây dựng xã hội lành
mạnh, hài hòa và phát triển.
Việc kế thừa và phát huy đạo đức truyền thống nói chung và các giá trị đạo
trung, hiếu của Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm
ở Việt Nam hiện nay”, cho luận án tiến sỹ triết học của mình với mong muốn đƣợc
đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm rõ và sâu sắc hơn hai phạm trù đạo
đức đó của Nho giáo cũng nhƣ cho việc hoạch định phƣơng hƣớng giải quyết các
vấn đề thực tiễn cấp bách nảy sinh trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc
trong điều kiện hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích: Từ việc phân tích nội dung căn bản của đạo đức trung, hiếu của
Nho giáo và sự tiếp biến của nó ở Việt Nam, luận án làm rõ ý nghĩa của đạo đức
trung hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Phân tích bối cảnh ra đời và những nội dung của đạo đức trung, hiếu trong tiến trình
lịch sử của Nho giáo.
- Phân tích sự tiếp biến và đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo Việt Nam
- Phân tích về ý nghĩa của trung, hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu bằng việc chỉ khảo cứu đạo đức trung,
hiếu của Nho giáo ở Trung Quốc (Nho giáo Nguyên Thủy, Nho giáo thời Hán, Nho
giáo thời Tống) và phân tích nội dung của nó trong Nho giáo Việt Nam qua các đại
biểu nho học chọn lọc. Trên cơ sở đó, đánh giá ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục
ý thức trách nhiệm cá nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
- Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch
sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện mới.
hƣng vong và những nội dung cơ bản của Nho giáo đã nhận đƣợc sự quan tâm rộng
khắp của giới nghiên cứu ở Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới.
Các công trình nghiên cứu về Nho giáo trong những thập niên gần đây tăng nhanh
và khó có thể có đƣợc con số thống kê cụ thể, chi tiết. Vì vậy, một sự khảo sát,
đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài chỉ là phác những nét cơ bản thông
qua những công trình liên quan trực tiếp để từ đó chúng tôi có thể đi sâu nghiên cứu
và đạt đƣợc những bƣớc tiến cũng nhƣ kết quả nhất định.
Bản thân Nho giáo với tƣ cách là học học thuyết chính trị, đạo đức, tôn giáo
luôn mang trong mình tính đa nghĩa ở mỗi một vai trò mà không có sự tách biệt
hoàn toàn. Nghiên cứu về đạo đức Nho giáo nói chung vì thế cũng không tách bạch
một cách siêu hình với việc nghiên cứu các nội dung khác Nho giáo. Trong tính
thống nhất tƣơng đối đó, vấn đề đạo đức của Nho giáo nói chung và đạo đức trung,
hiếu của Nho giáo nói riêng đã đƣợc khai thác ở những tầng bậc khác nhau.
Trần Văn Giầu trong “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX
đến cách mạng Tháng Tám, tập 1, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước
nhiệm vụ lịch sử” cho rằng: “Trong quan niệm Nho giáo, đạo đức là một khái niệm
có rộng hơn là đạo đức ta thƣờng nói hàng ngày tức là những nguyên tắc, những
quy phạm để đánh giá, nhận định xem đâu là tốt, xấu, đâu là phải, trái, đâu là nên,
chăng. Khái niệm đạo đức của Nho giáo còn là sự biểu hiện của “tính”, của “thiên
tính”, của “đạo”, nó chẳng những là tính riêng của con ngƣời mà cũng là tính chung
cho cả trời đất. Nhà Nho và Nho giáo nhìn cái gì cũng nhìn theo con mắt đạo đức:
trời, ngƣời, lịch sử, không coi trọng tính khách quan của sự vật. Hơn nữa đạo đức
trong Nho giáo lại là phƣơng châm, phƣơng hƣớng lớn của việc trị nƣớc…Nho
giáo không chú trọng nghiên cứu thiên nhiên. Nho giáo chú trọng con ngƣời, đạo
đức.
Sách Nho giáo về đạo đức nhiều hàng chục xe, cô đọng lại chỉ hai chữ luân thƣờng
hay cƣơng thƣờng. Tuy luân thƣờng hay cƣơng thƣờng không phải là tất cả đạo
đức Nho giáo song luân thƣờng là cốt tủy của Nho giáo, là cái chung nhất của Nho
ta coi đức nhân là đức lớn tập trung tinh túy của tất cả các đức khác, thì chúng ta có
thể kết luận rằng, Khổng giáo coi hiếu đễ là gốc của tất cả mọi đức nói chung…
Hiếu đễ không phải chỉ là đức tốt của ngƣời làm con làm em mà còn luyện cho con
ngƣời trở thành hữu đạo, hữu đức trong nƣớc trong thiên hạ nữa” [30, tr.130]. Nhà
nghiên cứu Quang Đạm đã từ nhiều luận điểm trong Ngũ Kinh, Tứ Thư…và nhiều
tài liệu diễn giải của những danh nho về sau để nêu lên mấy nguyên lý lớn nhất của
chữ hiếu: sự thân và thủ thân gắn liền với nhau; suốt đời thiện kế, thiện thuật;
dƣơng danh hiển thân, cách báo hiếu tốt nhất [30, tr.178].
Ngoài hiếu đễ, Quang Đạm cũng đề cập tới các mối quan hệ khác trong gia
đình và trong phạm vi nhà. Mối quan hệ quân thần đƣợc tác giả đề cập trong phần
quan hệ trên dƣới. Tuy nhiên trong mối quan hệ vua tôi, ít thấy tác giả đề cập tới
đạo trung mà chủ yếu nói về đƣờng lối cai trị và cách xử thế của vua. Điểm đáng
lƣu ý là trong cách tiếp cận, phân tích, chứng minh của Quang Đạm, tính khách
quan đƣợc quán triệt khá triệt để cho nên có thể thấy đƣợc cả ƣu điểm và nhƣợc
điểm của đạo đức Nho giáo đối với đời sống đạo đức chung của xã hội.
Vi Chính Thông trong “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” cũng góp một
cách nhìn về đạo đức Nho giáo nói chung và một số phạm trù đạo đức cụ thể của nó
nói riêng. Dành riêng một phần bàn về “Căn bệnh đạo hiếu”, Vi Chính Thông cho
rằng “Nho gia đã dựa vào hiếu để nói về đạo đức, quả là cách tiếp cận thuận lợi”
[123, tr.101]. Theo tác giả, kết quả của việc coi mọi biểu hiện của đạo đức con
ngƣời đều đã thể hiện ở hiếu, cứ từ hiếu mà suy ra là “Khi hiếu đã thay thế cho mọi
biểu hiện của đạo đức, ngƣời ta sẽ rơi vào “phiếm hiếu chủ nghĩa”…Về sau, đạo
hiếu trở thành công cụ duy trì nền chuyên chế chính là xuất phát từ đó. “Phiếm hiếu
chủ nghĩa” trở thành tệ nạn phổ biến” [123, tr.102]. Cách đánh giá này có những
điểm hợp lý nhất định vì rõ ràng, khi đẩy bất cứ một nguyên lý đạo đức nào lên một
cách thái quá, kết quả cũng sẽ là sự thiên lệch, siêu hình. Tƣ tƣởng biện chứng đòi
hỏi phải xem xét toàn diện cả ƣu khuyết điểm của cùng một vấn đề. Vấn đề đặt ra
là, có phải trong suốt tiến trình lịch sử Nho giáo, đạo hiếu luôn ở vào hoàn cảnh bị
là cha truyền con nối, chính thể chuyên chế cũng cha truyền con nối” [123, tr.272].
Đề cập nhiều nội dung liên quan đến hiếu đạo và bƣớc đầu đi vào lý giải nguyên
nhân lẫn lộn giữa hiếu và trung song Vi Chính Thông gần nhƣ không đề cập tới đạo
trung. Chính vì vậy, cần có sự khảo sát kỹ hơn nữa để tìm hiểu xem diễn biến đạo
đức trung hiếu của Nho giáo.
Đi theo lối truyền thống và mở ra một triển vọng khai thác vấn đề trung hiếu
ở cấp độ sâu hơn phải kể đến tác phẩm “Chữ hiếu trong nền văn hoá Trung Hoa”
của Tiêu Quần Trung. Với bốn chƣơng, Tiêu Quần Trung đã đề cập tới khởi nguồn,
diễn biến, ý nghĩa của đạo hiếu và bƣớc đầu nêu lên những suy nghĩ về lịch sử của
hiếu đạo với các giá trị đƣơng đại. Theo ông, từ Khổng Tử đến Hiếu kinh là hoàn
thành lý luận hiếu đạo của Nho gia. Về sau nhà Hán dùng hiếu trị thiên hạ. Còn văn
hóa hiếu đạo thời Ngụy, Tấn, Tùy, Đƣờng là loại suy tôn và biến dị. Tác giả cũng
đƣa ra nhận định về đỉnh cao ngu hiếu thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trên cơ
sở đó, Tiêu Quần Trung đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hiếu đạo và việc báo hiếu,
không chỉ chỉ ra tác dụng lịch sử của hiếu đạo mà còn khẳng định giá trị hiếu đạo
trong quan hệ gia đình, xã hội, quốc gia và dân tộc. Ông khẳng định: “Hiếu đạo
trong xã hội cổ đại Trung Quốc đã phát huy tác dụng lịch sử của nó chủ yếu là tác
dụng làm ổn định, hòa mục gia đình đến 9 họ và duy trì ổn định xã hội. Phát huy
ảnh hƣởng trọng yếu của nó không gì thay thế đƣợc. Bản thân hiếu đạo là đạo đức
giao tế điều hòa quan hệ cha con, họ tộc. Hiếu đạo là một cử chỉ thân tình tự nhiên,
song cũng lại là công cụ giáo dục nghĩa vụ con ngƣời…Hiếu đạo không trực tiếp
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, song nó có tác dụng làm cho gia đình và xã hội ổn
định, nhƣ vậy là đã gián tiếp làm cho xã hội phát triển” 135, tr.373 .
Nhìn chung, những nhìn nhận và đánh giá của Tiêu Quần Trung là khá sâu
sắc. Tuy nhiên, có thể do nghiên cứu từ góc độ và phƣơng pháp tổng hợp của văn
hóa nên tính chất tổng hợp lý tính trừu tƣợng mang tính triết học trong tác phẩm
còn mờ nhạt. Chƣa thấy Tiêu Quần Trung phân tích về cơ sở tồn tại xã hội, cái mà
trên đó văn hóa hiếu đạo nảy sinh và phản ánh. Cho nên, tuy diện mạo của hiếu đạo
trong nền văn hóa Trung Hoa thì đã đƣợc phác họa song lý do cƣ bản để nó nảy
ngƣời Việt Nam nhƣ thế nào cần có sự luận giải và minh chứng rõ hơn nữa.
Gần đây tác phẩm “Đối thoại với tiên triết về văn hoá phương Đông thế kỷ
XXI” của Trần Chí Lƣơng đã đƣợc dịch ra tiếng Việt. Trong công trình này, với lối
viết đối thoại hiện đại, tác giả đã mƣợn lời của các tiên triết để nói về tƣ tƣởng của
họ và ý nghĩa của nó trong thế kỷ 21. Trong phần “Hiếu với nguyên tắc nhân luân
hiện đại”, Trần Chí Lƣơng khẳng định: “Trung và hiếu là hai phạm trù cực kỳ quan
trọng trong văn hóa truyền thống Nho gia và văn hóa truyền thống Trung Quốc,
đƣợc xem là thể hiện trực tiếp của đạo lý trong trời đất. Trung và hiếu có sự chuyển
hóa lẫn nhau, chỉ có thực hiện đƣợc đạo hiếu mới có thể thực hiện đƣợc đạo
trung…Ngày nay, chúng ta tiến hành nhận thức lại trung hiếu phải đứng trên độ cao
phát triển của thế kỷ XXI, có sự đánh giá so sánh để có thể hiểu biết và phát huy
mới hơn” [86, tr.140]. Trần Chí Lƣơng dẫn lời của Khổng Tử về ba tầng thứ bậc, ba
mức độ của hiếu gồm tiểu hiếu, trung hiếu và đại hiếu trong đó: (1) Kính dƣỡng là
biết kính trọng nuôi dƣỡng cha mẹ gọi là đạt tiểu hiếu. (2) “Bất nhục chi hiếu” là
làm ngƣời con không để lại điều gì nhục nhã cho cha mẹ gọi là đạt trung hiếu. (3)
“Đại đạo chi hiếu” là làm ngƣời con phải lấy vợ lấy chồng để có nối dõi tông
đƣờng và biết thuận ứng đại đạo lý, thuận ứng quy luật khách quan gọi là đại hiếu.
[86, tr.142].
Trần Chí Lƣơng đặt vấn đề lý giải ngụ ý trong lời dạy của các tiên triết nhƣ
Khổng Tử, Mạnh Tử, Vƣơng Dƣơng Minh, Chu Hy… theo lối phát vấn. Chẳng
hạn, khi bàn về “hiếu với sinh tồn của nhân loại”, có đoạn: “Lục Ngọc Lâm: Khổng
thánh nhân! Phải kính dƣỡng cha mẹ, đó là điều tất nhiên. Nhƣng đem đạo hiếu
nâng lên thành nguyên tắc cơ bản của nhân loại trong đối xử nhân thế, sẽ khiến cho
hành vi của con ngƣời trở nên bảo thủ bó tay, bị ràng buộc quá nhiều, xã hội chỉ
biết tông theo tông pháp khó mà tiến lên đƣợc. Khổng Tử: Hiếu với sự phát triển xã
hội là nhất trí, thống nhất với nhau. Hơn nữa hiếu còn có thể yêu cầu làm rạng danh
tổ nghiệp, lập công danh hiển hách, soa lại nói hiếu cản trở sự tiến lên của xã hội,
sao lại nói xã hội bị dẫm chân tại chỗ, bảo thủ đƣợc. Bản chất của hiếu là sinh, có
lƣu lại nên phải bảo vệ, không đƣợc hủy hoại; Phải tạo ra “cái tôi mới” khác nữa
(tức là lấy vợ sinh con) để nối tiếp sinh mệnh của cha mẹ…Về phƣơng diện tinh
thần, khi cha mẹ còn sống, con cái phải thuận theo ý chí của cha mẹ chứ không chỉ
Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com blog giáo dục, công nghệ
biết nuôi dƣỡng vật chất mà thôi. Khi cha mẹ có sai lầm thì con cái phải khuyên lơn
cha mẹ sửa chữa. Sau khi cha mẹ qua đời, con cái phải cúng tế và tôn kính tƣởng
nhớ để cha mẹ trở nên bất hủ trong tâm trí của mình…Mặt khác, con cái phải nối
tiếp sự nghiệp của cha mẹ, hoàn thành chí hƣớng còn dang dở của cha mẹ, hoặc bản
thân ngƣời con có những tạo tác và những thành tựu khiến mình nổi danh, nhờ đó
cha mẹ đƣợc tiếng thơm, đạt đƣợc sự bất hủ trong ký ức và mến mộ của mọi
ngƣời” [71, t.1, tr.489-490].
Phùng Hữu Lan cũng khẳng định hiếu về phƣơng diện tinh thần là đại hiếu,
chí hiếu và nó quan trọng hơn hiếu về mặt nhục thể. Những nhận định này của ông
Phùng Hữu Lan là khá chính xác và cùng quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu
khác. Ông cũng dẫn luận minh chứng bằng kinh điển Nho giáo (chủ yếu là trong Lễ
Ký, Hiếu Kinh và Kinh Thi) và cho rằng: “Theo đó mà nói, hễ có hiếu hạnh thì ắt có
mọi đức hạnh. Cho nên hiếu là căn bản của đạo đức. Vào đời Hán, học thuyết này
ảnh hƣởng rất mạnh. Hễ ai hiếu đễ thì đƣợc trọng thƣởng. Thụy hiệu của các vua
đời Hán đều có chữ Hiếu. Nhƣ vậy có thể thấy hiếu rất đƣợc xem trọng vào thời
đó” [71, t.1, tr.493]. Tuy khẳng định vị trí của hiếu và phần luận bàn đƣợc đặt trong
phần Nho gia đời Tần Hán song không thấy Phùng Hữu Lan bàn trực tiếp về tƣ
tƣởng hiếu của các Nho gia thời kỳ này mà chỉ tập trung vào Nho giáo nguyên thủy.
Do đó, cần tiếp tục có sự nghiên cứu, so sánh để làm rõ sự tƣơng đồng cũng nhƣ
khác biệt trong quan niệm về hiếu của các nho gia ứng với từng thời kỳ trong lịch
sử tồn tại và phát triển Nho giáo.
Cũng có những nhà nghiên cứu đi sâu hơn vào đạo đức trung, hiếu của Nho
giáo và đánh giá sự tiếp biến của nó trong xã hội Việt Nam trong phạm vi nghiên
cứu hẹp và đƣa ra nhiều nhận định có giá trị. Chẳng hạn:
chặng đƣờng phát triển dài song những ý kiến của ông cho thấy tính chất phức tạp
của việc nhận thức và vận dụng đạo đức Nho giáo ở Việt Nam. Tính chất phức tạp
này, cùng với những nhận thức không đầy đủ hoặc thái quá đã khiến cho Nho giáo
nói chung và đạo đức trung hiếu của Nho giáo nói riêng phải gánh chịu nhiều tội
trạng trong lịch sử. Đây là căn cứ định hƣớng quan trọng trong việc tiến hành
nghiên cứu đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo và sự tiếp biến của chúng khi du
nhập vào Việt Nam.
Hà Thúc Minh với các bài viết “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng
đạo đức Nho giáo về hoà mục và trung- hiếu”; “Biến thiên của gia đình và chữ
hiếu”. Ông đã cho rằng: “chữ hiếu có cái lý của nó bởi vì nó dựa vào gốc rễ của tự
nhiên, đồng thời nâng con ngƣời lên khỏi tự nhiên, nhƣng một khi nó chỉ là công
cụ của quyền lực thì lại hạ con ngƣời xuống, biến thành ngu trung, ngu hiếu…chữ
hiếu còn thì gia đình phƣơng Đông còn, chữ hiếu mất thì gia đình phƣơng Đông
mất” 96, tr.7 . Nhận định này có thể cần phải đƣợc luận giải, minh chứng một cách
cụ thể hơn, song trong chừng mực nhất định, đó là những nhận định sâu sắc, mang
tính định hƣớng, gợi mở cho công việc nghiên cứu.
Trần Nguyên Việt với bài viết “Đạo hiếu Việt Nam qua cái nhìn lịch đại” đã
luận giải khái niệm hiếu, quan điểm hiếu đạo theo tiến trình phát triển lịch sử tƣ
tƣởng Việt Nam. Trần Nguyên Việt cho rằng: “Tinh thần trung hiếu thời Trần đã để
lại cho các triều đại phong kiến Việt Nam về sau một bài học sâu sắc mà triều đại
nào không biết phát huy nó đều gặp phải khó khăn trong việc điều hành đất nƣớc và
đặc biệt, không thể thắng đƣợc kẻ thù xâm lƣợc”
161,
và “chủ trƣơng lấy
hiếu trị thiên hạ, “lấy trung làm hiếu” (Minh Mệnh chính yếu) đã làm cho đạo hiếu
trách nhiệm cho con ngƣời
Nhƣ chúng ta đều biết, cơ sở xã hội để tồn tại của Nho giáo đã bị xóa sổ từ
lâu trong lịch sử nhƣng sức sống và sự ảnh hƣởng của đạo đức Nho giáo là điều đã
đƣợc lịch sử xác nhận. Ngày nay, thay vì việc phê phán Nho giáo theo trào lƣu
trƣớc đây gắn với toàn bộ tội trạng của xã hội phong kiến, các nhà nghiên cứu chú
trọng vào khuynh hƣớng khai thác những giá trị của đạo đức Nho giáo, những giá
trị có thể tích hợp đƣợc với hệ giá trị hiện đại trên quan điểm khách quan, toàn diện
và thực tiễn. Chính khuynh hƣớng này khẳng định việc cần thiết phải kế thừa và
phát huy các giá trị của Nho giáo nói chung, đạo đức trung, hiếu của Nho giáo nói
riêng.
Quang Đạm trong “Nho giáo xưa và nay” khẳng định: “Nhìn từng đạo lý
Nho giáo riêng rẽ, ngƣời ta thấy có hay có dở, có đúng có sai, không hoàn toàn
đồng nhất. Nhƣng nếu từ những đạo lý riêng rẽ ấy mà nhìn nhận bằng nhận thức
cảm tính và tƣ duy siêu hình… thì rốt cuộc đều là thoát ly hiện thực, và bảo thủ
cũng sai, xóa sạch cũng sai. Kinh nghiệm sinh động, thiết thực và phong phú của
cuộc sống luôn luôn đòi hỏi: Bao giờ cũng đặt sự vật và con ngƣời dƣới ánh sáng
của khoa học và thực tiễn cách mạng mà phân biệt cái đúng, cái tốt cụ thể để kế
thừa và phát huy, cái sai, cái xấu để xóa bỏ hoặc cải tạo. Đối với Nho giáo đã để lại
những dấu ấn còn sức sống đáng chú ý trong các truyền thống và nền nếp hoạt động
của chúng ta, đó là một đòi hỏi cần thiết thƣờng xuyên. Chính trong thời cuộc đổi
mới hiện nay, điều đó đã và đang trở thành bức thiết” 30, tr.551 .
Nguyễn Hiến Lê ngay trang đầu của ấn phẩm “Khổng Tử” cũng khẳng
định: “Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời đại của nó, xem nó
giải quyết đƣợc những vấn đề của thời đại đó không, coi đó là tiến bộ so với các
thời trƣớc, một nguồn cảm hứng cho các thời sau không. Và nếu sau mƣơi thế hệ,
ngƣời ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí của con ngƣời đƣợc nâng cao thì phải coi
nó là cống hiến to lớn của nhân loại rồi” 76, tr.5 .
Hoàng Tuấn Kiệt trong “Tầm nhìn mới về lịch sử Nho học Đông Á” đã viết:
áp dụng đƣợc ở thực tế, bởi thế mà kiến giải của Khổng Tử vẫn có ý nghĩa soi sáng
ở đó. Vua thì giữ lễ mà bề tôi thì trung, cha hiền từ, con hiếu thảo, anh thì thân ái
mà em thì cung kính, chồng hòa vợ thuận, bằng hữu thì thân tín…” 52, tr.89 .
Tào Thƣợng Bân trong “Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần” đƣa ra
nhận định: “Xét từ xu thế thời đại và Luận ngữ hoặc truyền thống Nho gia, Khổng
giáo mở đầu từ niềm tin khôi phục con ngƣời. Khi con ngƣời không còn tranh
giành lẫn nhau, cũng không dựa vào trời hay thần thánh nào cả, thì con ngƣời phải
kết hợp lại trên cơ sở tin tƣởng lẫn nhau để duy trì cuộc sống, phải tích cực đối xử
tƣơng thân tƣơng ái với nhau…Chúng ta có thể nói Khổng Tử là ngƣời đầu tiên đã
đặt học vấn thành điều kiện quan trọng tất yếu phải có để hoàn thiện nhân cách.
Dùng việc giáo dƣỡng hậu thiên để hoàn thiện mẫu hình con ngƣời nhất định,
khiến cho ai cũng trở thành ngƣời lý tƣởng chí thiện, chí nhân nhƣ Nghiêu, Thuấn.
Đây là sáng kiến siêu việt của Nho học Tiên Tần, cũng là nguyên do chủ yếu khiến
Nho giáo đƣợc ngƣời đời sau hết mực suy tôn” 6, tr.28 .
Vi Chính Thông trong “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” cho rằng: “Một
trong những chức năng chủ yếu của tƣ tƣởng đạo đức là đề ra đƣợc lý tƣởng nhân
sinh. Quan trọng hơn là chỉ ra đƣợc phƣơng pháp đạt tới lý tƣởng – đó là công việc
Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com blog giáo dục, công nghệ
thực tế của đạo đức. Đối tƣợng vận dụng đạo đức là cuộc sống con ngƣời…Hƣớng
về giúp ích hay hƣớng về phản lại là do sự chi phối của sức mạnh lý tính. Gợi nên
sức mạnh lý tính là sự tu dƣỡng của đạo đức Nho gia” 123, tr.93 .
Tiêu Quần Trung trong “Chữ hiếu trong nền văn hóa Trung Hoa” cũng
khẳng định: “Quan niệm, tôn chỉ và đặc điểm của nhà Nho là ở chỗ tính nhân văn
và tính đạo đức. Có nghĩa là giáo dục lấy con ngƣời làm trung tâm và mục đích, là
một loại giáo dục “thành nhân” chứ không chỉ là “thành tài”. Làm ngƣời ra sao,
thành ngƣời nhƣ thế nào? Tức là trở thành “con ngƣời đạo đức”. Khổng Tử khai
sáng Nho học là học phái đạo đức. Ông khai sáng sự nghiệp là giáo dục đạo đức.
Nhiệm vụ giáo dục theo ông là đào tạo học trò thành “ngƣời có đạo đức”. Tính chất
Thấy đƣợc sự cần thiết phải kế thừa và vận dụng các giá trị truyền thống
trong đó có Nho giáo để giáo dục đạo đức, Nguyễn Văn Phúc với “Vai trò của giáo
dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường” đã khẳng
định: “Trong các xã hội phƣơng Đông truyền thống, giá trị nhân cách vốn đƣợc xác
định bởi vốn hiểu biết về mối quan tâm của con ngƣời đối với ngƣời khác, bởi
trách nhiệm và cộng đồng. Thậm chí trong những tình thế phải quyết chọn, ngƣời ta
sẵn sàng “xả thân thành nhân”, coi đó là phƣơng châm giải quyết những xung đột
giữa cá nhân với cộng đồng. Nhƣng trong điều kiện của cơ chế thị trƣờng, dƣới áp
lực của lợi nhuận, cạnh tranh, giá trị nhân cách ít biểu hiện qua những đóng góp, hy
sinh của con ngƣời. Nó thƣờng đƣợc nhìn nhận, đánh giá bằng mức độ thành đạt,
quy mô thu nhập, thậm chí bằng khả năng biến ngƣời khác thành phƣơng tiện hợp
pháp để thực hiện các mục đích của một con ngƣời nhất định…Trong điều kiện
nhƣ vậy, giáo dục đạo đức phải hình thành và củng cố trong con ngƣời một niềm
tin sâu sắc vào những giá trị đích thực và lâu bền của con ngƣời. Tình thƣơng,
trách nhiệm, lƣơng tâm, sự trung thực và khiêm tốn…là những phẩm chất nhân
cách không thể mua bán đƣợc, không thể thay đổi đƣợc” [21, tr.221]
Du Vinh Căn trong “Tư tưởng Khổng Tử” khẳng định: “Khổng Tử đã đƣa ra
nội dung trọn vẹn về đạo đức, luật lệnh đƣợc coi là lễ giáo và đức giáo. Trong việc
lấy lễ giáo và đức giáo để phòng ngừa phạm tội, Khổng Tử đã đƣa ra hàng loạt luật
lệnh đạo đức, ông chú trọng tới một trong những biện pháp mang tính tổng hợp để
khống chế tội phạm xã hội và hệ thống đối sách phòng ngừa phạm tội. Trong đó
23
điều trƣớc tiên là phải “hiếu”…Đạo đức giáo hóa của hiếu và gia đình đƣợc coi là
vật truyền tải của hiếu, là đòn bẩy trong hệ thống đối sách ngăn ngừa và khống chế
phạm tội. Trong xã hội tông pháp, lấy hiếu để ổn định gia đình, lấy ổn định gia đình
để ổn định xã hội, thì không còn nghi ngờ gì nữa, điều đó có thể đạt đƣợc hiệu quả
nhƣ mong muốn” [8, tr.164]
gia đình và trách nhiệm đối với tập thể, xã hội, tổ quốc.
Trong “Cách tiếp cận của Khổng Tử” (in trong “Nho giáo xƣa và nay”, Vũ
Khiêu chủ biên), Phan Ngọc cho rằng, học thuyết của Khổng Tử: “Là học thuyết
đầu tiên đặt con ngƣời giữa những con ngƣời và chỉ giữa những con ngƣời, tách
khỏi vũ trụ cũng nhƣ tách khỏi thần linh, linh hồn, cuộc sống kiếp sau và tìm thấy ở
trách nhiệm giữa tôi với những ngƣời khác ý nghĩa cuộc sống, giá trị và hạnh phúc
của tôi. Ông là ngƣời đầu tiên nói với con ngƣời cái chân lý bất tử: sống là chịu
trách nhiệm” [64, tr.61]. Phan Ngọc cũng đặt vấn đề lễ. Đứng trƣớc những quan
điểm cho rằng: “làm chủ bản thân theo lễ là nhân” là phản động, Phan Ngọc đƣa ra
ý kiến: “Vấn đề là quy định cho thực dân chủ, cách mạng, nội dung của lễ - điều
này làm sao có thể bắt tội Khổng Tử đƣợc? Còn con ngƣời chỉ là con ngƣời xã hội
khi biết tự kiềm chế mình, vâng theo những tiêu chuẩn hành vi đƣợc coi là mẫu
mực. Xác lập vai trò của lễ là xác lập sự kiểm tra của toàn dân đối với từng ngƣời,
kể cả ngƣời lãnh đạo. Khi pháp luật chƣa thành một ý thức thƣờng trực ở từng con
ngƣời mà tình hình các xã hội Châu Á là thế, nếu vứt bỏ lễ đi thì chỉ đƣa xã hội tới
hỗn độn hoặc tới chuyên chính của những ngƣời thiếu trách nhiệm” [64, tr.63].
Tuy không thấy Phan Ngọc đi sâu luận giải vấn đề này nhƣng cách đặt vấn
đề này cho thấy mối tƣơng quan không tách rời giữa những đạo đức trung hiếu của
Nho giáo và việc giáo dục ý thức trách nhiệm cho con ngƣời. Bởi lẽ trách nhiệm
giữa ngƣời với ngƣời khi thực hiện lễ mà Phan Ngọc nói tới đã bao hàm trong đó
mối quan hệ vua tôi, cha con. Vấn đề đặt ra là cần tiếp tục đi sâu để xác lập đƣợc
một cách chi tiết mức độ ảnh hƣởng hay sự quy định của Nho giáo và từng phạm
trù đạo đức trong đó có đạo đức trung, hiếu của Nho giáo đối với việc giáo dục để
hình thành ý thức trách nhiệm của con ngƣời.
Với một sự khai thác sâu, Nguyễn Thị Nga trong “Quan niệm của Nho giáo