Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết rằng mọi quá trình làm đều theo hướng dẫn của TS. Nguyễn
Viết Hoàng
Mọi kết quả trong đồ án đều trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn
Việt Nam. Các kết thực hiện được chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu
nào khác.
Mọi sao chép trích dẫn đều có căn cứ tài liệu đầy đủ, không sao chép gian lận
vi phạm quy chế đào tạo, nếu vi phạm thì chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước hội đồng và nhà trường.
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư …………………………... 9
Bảng 3.1. Dụng cụ thí nghiệm25
thải cho kí túc xá Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội” làm đề tài tốt
nghiệp.
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện tại chưa có hệ thống riêng để xử lý nước thải kí túc xá trường Đại học
Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội. Trong tương lai, lượng sinh viên vào trường có
xu hướng tăng, nhu cầu sử dụng nước trong toàn trường cũng như khu vực Kí túc xá
cũng tăng lên đáng kể. Do vậy cần thiết phải xây dựng hệ thống xử lý nước thảicho
3
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
khu vực Kí túc xá trước khi thải ra ngoài hệ thống thu gom nước thải chung của
toàn thành phố.
Với các dây truyền công nghệ truyền thống thì yêu cầu mặt bằng cần thiết để
xây dựng hệ thống xử lý nước thảilà khá lớn và tốn nhiều chi phí. Vì vậy, chúng tôi
đã lên ý tưởng nghiên cứu sâu sắc hơnvề bể USBF. Bể USBF là công trình đa năng,
có hiệu quả cao, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về chiếm ít diện tích mặt bằng
cũng như giảm chi phí xây dựng.
Nơi thực hiện đề tài:
Mô hình bể USBF có quy mô phòng thí nghiệm với thể tích 120 lít, được đặt
tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Tài nguyên Môi trường.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phân tích trong phòng thí nghiệm.
được sự góp ý và sửa chữa của thầy cô và các bạn về đồ án tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!
5
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG
1.1 . Sơ lược về Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thành lập theo Quyết định
số 1583/QĐ-TTg ngày 23 tháng 08 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở
nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.
Nhà trường có truyền thống đào tạo hơn 60 năm. Trường Đại học Tài nguyên
và Môi trường Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, chịu sự quản lý quản lý Nhà
nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, có tư cách pháp nhân, có
con dấu và tài khoản riêng.
Đến nay, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã trở thành cơ
sở đào tạo đa ngành thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường: Môi trường, Khí
tượng và Thủy văn, Đo đạc và Bản đồ, Quản lý đất đai, Tài nguyên nước, Địa chất
khoáng sản, Khoa học Biển, Biến đổi khí hậu, Kinh tế tài nguyên và môi trường,…
Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý, thực
hiện nhiệm vụ chuyên môn thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường có trình độ Cao
Nước thải kí túc xá chủ yếu là nước sau khi đã được sử dụng cho mục đích ăn
uống, tắm rửa, giặt giũ, vệ sinh nơi ở... của các sinh viên. Như vậy nước thải kí túc
xá được hình thành trong quá trình sinh hoạt của sinh viên. Ngoài ra, nước thải từ
các nhà vệ sinh, nước thải từ căng tin và nước thải từ nhà ăn hòa cùng nước mưa
theo đường cống bố trí xung quanh được đổ chung vào hệ thống nước thải của
phường Phú Diễn.
Lượng nước thải phụ thuộc vào số sinh viên, vào tiêu chuẩn cấp nước và đặc
điểm hệ thống thoát nước. Mức độ xử lý nước thải phụ thuộc vào nồng độ bẩn của
chất thải, khả năng pha loãng giữa nước thải với nước nguồn và các yêu cầu về mặt
vệ sinh và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.
1.3.1 . Phân loại nước thải kí túc xá[2]
Nước thải kí túc bao gồm 2 loại:
Nước đen: là nước thải nhiễm bẩn do chất bẩn do chất bài tiết của sinh viên từ
các nhà vệ sinh, chứa phần lớn các chất gây ô nhiễm. Trong nước thải này chứa
nhiều vi khuẩn gây bệnh và dễ gây mùi hôi thối. Hàm lượng các chất hữu cơ (BOD)
và các chất dinh dưỡng N, P cao. Loại nước thải thường gây nguy hại đến sức khỏe
và dễ làm nhiễm bẩn nguồn nước mặt.
Nước xám: là nguồn nước thải nhiễm bẩn phát sinh từ quá trình: tắm rửa, giặt
giũ của sinh viên với thành phần chất ô nhiễm không đáng kể. Loại nước thải này
chứa chủ yếu các chất lơ lửng và các chất tẩy rửa nhưng nồng độ các chất hữu cơ lại
7
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
nên có tính axit vì thối rữa.
Thành phần vi sinh, vi sinh vật
Trong nước thải còn có mặt nhiều dạng vi sinh vật: vi khuẩn, vi rút, nấm, rong
tảo, trứng giun sán. Trong số các dạng vi sinh vật đó, có thể có cả các vi trùng gây
8
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
bệnh, ví dụ: lỵ, thương hàn, có khả năng gây thành dịch bệnh. Về thành phần hóa
học thì các loại vi sinh vật thuộc nhóm các chất hữu cơ.
Khi xét đến các quá trình xử lý nước thải, bên cạnh các thành phần vô cơ, hữu
cơ, vi sinh vật như đã nói trên thì quá trình xử lý còn phụ thuộc rất nhiều trạng thái
hóa lý của các chất đó và trạng thái này được xác định bằng độ phân tán của các hạt.
Theo đó, các chất chứa trong nước thải được chia thành 4 nhóm phụ thuộc vào kích
thước hạt của chúng.
Nhóm 1: Gồm các tạp chất phân tán thô, không tan ở dạng lơ lửng, nhũ tương,
bọt. Kích thước hạt của nhóm 1 nằm trong khoảng 10 -1-10-4mm. Chúng cũng có thể
là chất vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật và hợp cùng với nước thải thành hệ dị thể không
bền và trong điều kiện xác định, chúng có thể lắng xuống dưới dạng cặn lắng hoặc
nổi lên trên mặt nước hoặc tồn tại ở trạng thái lơ lửng trong khoảng thời gian nào
đó. Do đó, các chất chứa trong nhóm này có thể dễ dàng tách ra khỏi nước thải bằng
phương pháp trọng lực.
Nhóm 2: Gồm các chất phân tán dạng keo với kích thước hạt của nhóm này
1.3.3 . Tính chất của nước thải sinh hoạt
Tính chất nước thải giữ vai trò quan trọng trong thiết kế, vận hành hệ thống xử
lý và quản lý chất lượng môi trường, sự dao động về lưu lượng và tính chất nước
thải quyết định tải trọng thiết kế cho các công trình đơn vị.
Thành phần và tính chất nhiễm bẩn của nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào tập
quán sinh hoạt, mức sống của sinh viên, mức độ hoàn thiện của thiết bị, trạng thái
làm việc của thiết bị thu gom nước thải. Lưu lượng nước thải thay đổi tuỳ theo điều
kiện tiện nghi cuộc sống.Tác hại đến môi trường của nước thải do các thành phần ô
nhiễm tồn tại trong nước thải gây ra.
- COD, BOD: sự khoáng hoá, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây
thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi
trường nước. Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong
quá trình phân huỷ yếm khí sinh ra các sản phẩm như H 2S, NH3, CH4,..làm cho
nước có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường.
- SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí.
- Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống
của thuỷ sinh vật nước.
- Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy,
ngộ độc thức ăn, vàng da…
- Ammonia, phospho: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng độ
trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hoá (sự phát triển bùng phát
của các loại tảo, làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt
thở và diệt vong các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy rất cao do
quá trình hô hấp của tảo thải ra).
- Màu: mất mỹ quan.
- Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt.
10
220
BOD5 , mg/l
110 – 400
220
Tổng N, mg/l
20 – 85
40
Nito hữu cơ, mg/l
8 – 35
15
Nito amoni, mg/
12 – 50
25
Nito nitrit, mg/l
0 – 0,1
6
Tổng chất béo, mg/l
50 - 150
100
7
Tổng Photpho
8
1.4 . Các phương pháp xử lý nước thải[3]
1.4.1. Phương pháp xử lý cơ học
Song chắn rác hoặc lưới chắn rác
Loại bỏ tất cả các tạp chất có thể gây sự cố trong quá trình vận hành hệ thống
xử lý nước thải như tắc cống bơm, đường ống hoặc ống dẫn. Có 2 loại song chắn
rác: song chắn rác vớt rác thủ công và song chắn rác vớt rác cơ giới.
Bể điều hòa:
Dùng để duy trì sự ổn định của dòng thải, khắc phục những vấn đề vận hành
do sự dao động của lưu lượng dòng nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất của các
quá trình ở cuối dây chuyền xử lý.
11
Đồ án tốt nghiệp
các chỉ tiêu COD và BOD.
Tự làm sạch: do trong môi trường có các vi khuẩn giúp cho quá trình chuyển
hóa, phân hủy chất hữu cơnên khi xử lý nước thải cần xem xét nước thải các vi sinh
vật hay không để lợi dụng sự có mặt của nó và nếu có thì tạo điều kiện tốt nhất cho
các vi sinh vật phát triển.
Các phương pháp yếm khí
Trong điều kiện không có oxy, các chất hữu cơ có thể bị phân hủy nhờ vi sinh
vật và sản phẩm cuối cùng là CH4, CO2.
Các loại công trình xử lý nước thải kết hợp lên men bùn cặn lắng: trong các
công trình này diễn ra quá trình lắng cặn nước thải (xử lý sơ bộ hoặc xử lý bậc một)
và lên men bùn cặn lắng, đó là các công trình: bể tự hoại, bể lắng 2 vỏ, bể lắng
trong kết hợp với ngăn lên men đang được ứng dụng để xử lý nước thải sinh hoạt và
các loại nước thải khác có thành phần tương tự.
12
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
Bể phản ứng yếm khí tiếp xúc:nước thải chưa được xử lý được trộn đều với
bùn yếm khí tuần hoàn.
Bể lọc yếm khí: Bể này có lắp đặt các giá thể vi sinh vật kỵ khí dính bám là
các loại vật liệu hình dạng, kích thước khác nhau, đóng vai trò nhưvật liệu lọc.
Dòng nước thải có thể đi từ dưới lên hoặc trên xuống. Các chất hữu cơ được vi
khuẩn hấp thụ và chuyển hóa để tạo thành CH 4 và các chất khí khác. Các khí sinh
học được thu gom tại phần trên bể.
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
của các vi sinh vật trong bể thong khí được gọi chung là chất lỏng hỗn hợp và sinh
khối (MLSS)
Khi nước thải đi vào bể thổi khí (bểaeroten), các bong bùn hoạt tính được
hình thành mà hạt nhân của nó là các phần tử cặn lơ lửng.
Các loại vi khuẩn hiếu khí đến cư trú, phát triển dần cùng với các động vật
nguyên sinh, nấm, xạ khuẩn,… tạo nên các bong bùn màu nâu sẫm, có khả năng
hấp thụ các chất hữu cơ hòa tan, keo và không hòa tan phân tán nhỏ.
Vi khuẩn và vi sinh vật sống dùng chất hữu cơ và chất ding dưỡng (N,P) lam
thức ăn để chuyển hóa chúng thành các chất trơ không hòa tan và thành tế bào
mới.
Dẫn đến trong bể aeroten lượng bùn hoạt tính tăng dần lên, sau đó được tách
ra tại bể lắng đợt 2, một phần được quay trở lại đầu bể aeroten để tham gia xử lý
nước thải theo chu trình mới. Quá trình cứ tiếp diễn đến khi chất thải cuối cùng
không thể là thức ăn của các vi sinh vật được nữa.
Nếu trong nước thải đậm đặc chất hữu cơ khó phân hủy, cần có thời gian để
chuyển hóa thì phần bùn hoạt tính tuần hoàn phải được tách riêng và sục khí oxy
cho chúng tiêu hóa thức ăn đã hấp thụ.Đó là quá trình tái sinh bùn hoạt tính.
Giới thiệu về bể USBF [1]
Công nghệ lọc dòng ngược bùn sinh học USBF (Upflow Sludge Blanket
Filter) được thiết kế dựa trên trên mô hình động học xử lý BOD, nitrate hoá
(nitrification) và khử nitrate hóa (denitrification) của Lawrence và McCarty, Inc.
lần đầu tiên được giới thiệu ở Mỹ những năm 1900 sau đó được áp dụng ở châu Âu
từ 1998 trở lại đây. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, hiện nay USBF lại là công nghệ
và di chuyển từ dưới lên, ngược chiều với dòng bùn lắng xuống theo phương thẳng
đứng. Đây chính là công đoạn thể hiện ưu điểm của hệ thống do kết hợp cả lọc và
xử lý sinh học của chính khối bùn hoạt tính. Phần nước trong đã được xử lý phía
15
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
trên chảy tràn vào mương thu nước đầu ra. Một phần hỗn hợp nước thải và bùn
trong ngăn này được tuần hoàn trở laị ngăn thiếu khí.
Các đặc tính nổi bật [10]
- Nồng độ bùn trong công trình
- Hầu hết các công trình truyền thống đều hoạt động ở nồng độ bùn thấp hoặc
-
trung bình, thường 1.500 - 2.500 mg/l. Nhưng đối với bể USBF lại hoạt động ở
nồng độ bùn cao, điển hình là 2.000 - 4.000 mg/l dẫn đến tuổi bùn lâu hơn và
tăng hiệu quả sinh học.
Tất cả quá trình tích hợp vào một công trình
Ngược lại, công nghệ USBF kết hợp các quá trình nitrat hóa, khử nitơ, lọc và ổn
định bùn bên trong một công trình nhỏ gọn, làm giảm kích thước thiết.
Cấp bằng sáng chế và đã được chứng minh
Các công nghệ USBF ™ đã được thực nghiệm chứng minh xử lý nước thải với
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
- Giảm diện tích xây dựng: Việc kết hợp các quá trình nitrat hóa, khử nitơ, lọc và
ổn định bùn trong một công trình sinh học nhỏ gọn làm giảm kích thước thiết bị,
vẫn đảm bảo hiệu quả xử lý nước tuy nhiên chỉ cần một diện tích xây dựng nhà
máy nhỏ.
- Không cần lọc sơ cấp: Công nghệ USBF không yêu lọc trước khi xử lý sinh học.
Cơ sở đầy đủ cho sự sàng lọc và cho các nhà máy lớn hơn, hệ thống loại bỏ các
hạt cát phải được thực hiện trước khi đươc vào xử lý sinh học
-
Cải thiện đặc tính của bùn: Tải trong của vi sinh vật thấp (tuổi bùn kéo dài 25-30
ngày) sản sinh ít dư thừa, bùn hiếu khí ổn định và cải thiện cấu trúc và đặc tính cơ
học của bùn.
1.4.3. Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học trong điều kiện tự nhiên
a) Các công trình xử lý nước thải trong đất
Các phương pháp xử lý nước thải trong đất: dựa vào mức độ xử lý và tải trọng
tưới nước thải, các phương pháp xử lý nước thải được phân thành ba loại sau:
quá trình lọc tưới chậm, quá trình lọc nhanh, quá trình lọc ngập nước trên mặt.
Các loại công trình xử lý nước thải trong đất: dựa vào đặc điểm xây dựng và khả
năng khảo sát quá trình xử lý người ta chia ra 2 loại công trình là: cánh đồng
ngập nước tự nhiên, cánh đồng ngập nước nhân tạo (gồm cánh đồng ngập nước
axit hay kiềm tới mức không thể trung hòa bằng cách trộn lẫn chúng với nhau
được thì phải cho thêm hóa chất.
Phương pháp này thường để trung hòa axit.
Phương pháp oxy hóa khử
Các chất bẩn trong nước thải công nghiệp có thể phân ra hai loại: vô cơ và
hữu cơ.
Các chất hữu cơ thường là đạm, mỡ, đường, các hợp chất chứa phenol, chứa
nitơ,... nên có thể bị phân hủy bởi vi sinh vật, do đó có thể dùng phương pháp sinh
học để xử lý. Các chất vô cơ thường là những chất không xử lý bằng phương
pháp sinh học được.
Các ion kim loại nặng không thể xử lý bằng vi sinh vật cũng như không loại
được dưới dạng cặn, chỉ 1 phần bị hấp phụ bằng bùn hoạt tính. Thủy ngân,
asen,... còn là những chất rất độc khó xử lý mà còn tiêu diệt các vi sinh vật có lợi
trong nước thải.
1.4.5. Khử trùng và xả nước thải ra nguồn
Khử trùng nước thải
Cùng với các giai đoạn xử lý bậc một, bậc hai,... sẽ làm giảm nồng độ các
chất ô nhiễm (cặn lơ lửng, BOD,..) đáp ứng yêu cầu quy định thì số lượng vi
khuẩn gây bệnh cũng giảm đặc trưng bằng chỉ tiêu coliform (đạt 90-95%). Tuy
nhiên một số loại vi khuẩn gây bệnh vẫn còn, khi vào nguồn nước mặt, gặp điều
kiện thuận lợi sẽ phát triển nhanh chóng. Sau khi xử lý cơ học, sinh học trong
điều kiện nhân tạo, vi khuẩn gây bệnh không bị tiêu diệt hoàn toàn.
Vì vậy, để đảm bảo điều kiện vệ sinh, nước thải đô thị hoặc nước thải sinh
hoạt sau xử lý cơ học hoặc xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo cần phải khử
trùng tiếp tục.
18
Nước thải đầu vào sẽ được thu gom vào bể lắng sơ bộ từ bể lắng sơ bộ. Bể
lắng sơ bộ được thiết kế dạng hình trụ với dung tích chứa nước 15 lít , nước thải sau
khi được thu gom vào bể lắng sơ bộ, tại đây sẽ xảy các quá trình xử lý cơ học, quá
trình lắng cát, quá trình lắng cơ học của các hạt cặn, với những hạt cát và hạt cặn có
19
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
tải trọng thủy lực lớn sẽ được lắng một tại đây. Nước thải trước khi đi ra khỏi bể
lắng sơ bộ này sẽ được điều chỉnh lưu lượng sao cho còn 5 l/h để phù hợp thiết kế
của công trình xử lý phía sau . Quá trình điều chỉnh lưu lượng được tiến hành bằng
van. Phương pháp xác định lưu lượng phù hợp là sử dụng phương pháp thử là sử
dụng sử dụng các bình (cốc) có thể tích xác định và đồng hồ bấm giờ, vặn van nước
ở một mức nhất định từ đó bấm giờ và xem thể tích ở cốc để tính ra được lưu lương,
làm đi làm lại nhiều lần sẽ xác định mức độ khóa van để đạt được đúng lưu lượng
tính toán ban đầu.
Bể USBF là một công trình xử lý kết hợp nhiều quá trình xử lý với cấu tạo
phức tạp gồm có 3 ngăn là ngăn thiếu khí , ngăn hiếu khí và ngăn lắng . Nước thải
sau khi ra khỏi bể lắng sơ bộ sẽ đi vào bể USBF với một lưu lượng phù hợp và ổn
định đã được xác định. Đầu tiên nước thải sẽ đi vào ngăn thiếu khí của bể, ngăn này
có cấu tạo bao gồm 1 cánh khuấy có tốc độ quay từ 20 – 30 vòng / phút. Cánh
khuấy sẽ được hoạt động liên tục với mục đích là để xáo trộn nước thải với bùn hoạt
tính được hoàn lưu từ ngăn lắng của bể để tránh quá trình lắng cặn và lắng bùn ở
đây. Các vi sinh vật ở ngăn thiếu khí này sẽ không được thổi khí để cung cấp không
lý của mô hình trong từng ngày, từng giai đoạn từ đó xác định mức độ xử lý và
thời gian xử lý tối ưu nhất
- Xử lý số liệu, nhận xét, đánh giá và hoàn thiện đồ án.
21
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ BỂ USBF
3.1. Tính toán bể USBF
3.1.1. Tính toán kích thước bể USBF
Thiết kế mô hình với Q = 120 (l/ng.đ):
- Công suất thiết kế của mô hình là Q = 120( l/ng.đ ) = 5 (l/h).
- Chọn thời gian lưu[3]:
+ Chọn tổng thời gian lưu nước thiết kế của mô hình là t = 10h.
+ Trong đó thời gian lưu nước thiết kế ở ngăn hiếu khí là : t = 6h.
+ Thời gian lưunước ở ngăn thiếu khí là : t = 2,2h.
+ Thời gian lưu nước ở ngăn lắng( USBF ) là: t = 1,8h
- Tỷ lệ đáy của ngăn hiếu khí :đáy của ngăn thiếu khí = 7 : 3
Thể tích toàn phần của bể:
Vbẻ = Q x t = 5 x 10 = 50(l)= 0,05 ( m3)
Diệntíchtoànbể: S = m2
Trongđó: Hct – Chiều cao công tác, Hct = 0,35m.
Khi đó, ta có:
VUSBF = Q x t = 5 x 1,8 = 9 (l)= 0,009m3
Kích thước công tác của ngăn lắng ( USBF )
- Kích thước diện tích tam giác ở 1 bên là: 0,25 x 0,35 x 0,35 (m)
- Chiều rộng: B = 0,2m
Kích thước chi tiết của toàn bể như sau :
- Chiều dài: L = 0.7 m = 70 (cm)
- Chiều rộng: B = 0,2 m = 20 (cm)
- Chiêu cao bể: H = 0,4 m = 40 cm
Mô hình thiết kế
Mô hình được thiết kế như Hình 3 [1].
Hình 3.1. Sơ đồ cấu tạo của mô hình
23
2015
Đồ án tốt nghiệp
Hoàng
GVHD: TS. Nguyễn Viết
2015
Chú thích:
(A): Mương thu nước đầu vào.
(B): Ngăn thiếu khí.
(C): Ngăn hiếu khí.
(D): Ngăn USBF.
2015
Cp – Độ hòa tan của oxy không khí trong nước, mg/l
h
0, 35
CT × (10,3 + )
8 × (10,3 +
)
2 = 8,14
2
Cρ =
10,3
10,3
=
Với :
Ct – Độ hòa tan của oxy không khí vào nước, phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất, ở
nhiệt độ 29oC thì lấy bằng 8,0.
C – Nồng độ oxy trong aeroten , lấy bằng 2mg/l.
Cường độ sục khí
J=
D×H
t
(m3/m2h).
J= (29 x 0,35) : 6 = 1,7(m3/m2h)
Nhận thấy J < Jmin, ta lấy: J = Jmin = 43, khi đó lưu lượng không khí đơn vị là:
D=
0,232 – Tỷ lệ phần trăm của oxy trong không khí.
25