Khái quát tình hình đầu tư nước ngoài tại việt nam - Pdf 36

Lời nói đầu
Đầu tư nước ngoài là việc các chủ đầu tư nước ngoài đem vốn vào một quốc gia để
tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm mục đích thu được lợi
nhuận hoặc các lợi ích kinh tế - xã hội khác. Đầu tư nước ngoài bao gồm : đầu tư trực
tiếp và đầu tư gián tiếp.
Về bản chất Đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn
của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ nhau
trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước
ngoài hiện nay. Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài
ngày càng phát triển mạnh mẽ hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính qui
luật trong liên kết hợp tác quốc tế.
Hiện nay các quốc gia trên thế giới cạnh tranh lẫn nhau để thu hút đầu tư nước ngoài.
Đối với nước nhận đầu tư sẽ bổ sung thêm nguồn vốn để khai thác tài nguyên thiên
nhiên của nước mình một cách có hiệu quả, mở rộng qui mô sản xuất, tiếp thu khoa
học công nghệ, giải quyết công ăn việc làm. Còn nước chủ đầu tư sẽ thu được lợi
nhuận hoặc lợi ích kinh tế –xã hội khác ở nước sở tại. Đối với Việt Nam -đất nước có
nền sản xuất nông nghiệp là chính thậm chí đó còn là nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc
hậu. Chúng ta đang từng bước tiến lên công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước. Song
trong điều kiện tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân còn nhiều hạn chế, bởi vậy
đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng đặc biệt là trong quá trình Công nghiệp
hoá đất nước. Nhưng vấn đề sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu qủa
mới là điều quan trọng. Làm thế nào để thu hút ngày càng nhiều các dự án đầu tư
nước ngoài, phân bổ ra sao ? Mục đích cuối cùng là nguồn vốn này góp phần bổ
sung sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả sản xuất, giải quyết
công ăn, việc làm cho người lao động, phát triển cơ sở hạ tầng. . . Tất cả những điều
đó tạo đà thúc đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Đầu tư nước ngoài và hiệu quả đầu tư nước ngoài là một mảng đề tài tương đối rộng.
Ở bài viết này chỉ đưa ra một cách khái quát tình hình đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
trong giai đoạn (1995-5/2000) và hiệu quả của nó




Đầu tư gián tiếp nước ngoài :

Là các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ được thực hiện dưới
hình thức viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi
suất thấp, vốn viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp phát triển
(ODA)
II.

Tầm quan trọng củađầu tƣ nƣớc ngoài đối với Việt Nam :

Việt Nam một đất nước có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, cơ sở vật chất nghèo
nàn, lạc hậu. Để đất nước thoát khỏi tình trạng này, Đảng và nhà nước ta đã đưa ra rất
nhiều các đường lối, chính sách :cụ thể, thực hiện chính sách mở cửa, phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện
công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước. Song trong điều kiện tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế quốc dân còn nhiều hạn chế. Bởi vậy đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan
trọng đặc biệt là trong quá trình Công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước.


Trước hết đầu tư nước ngoài bổ sung thêm nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển, tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam. Thông qua nguồn
vốn đầu tư nước ngoài nhiều nguồn lực trong nước như lao động đất đai, tài nguyên
đã được khai thác sử dụng tương đối hiệu quả, đồng thời giúp Việt Nam chủ động
hơn trong việc bố trí đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế và vào những vùng khó khăn.
Mặt khác thu hút đầu tư nước ngoài cùng với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá
hoạt động đầu tư đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế
Việt Nam với khu vực và thế giới. Đến nay đã có 70 nước và lãnh thổ có dự án đầu tư
nước ngoài tại Việt nam với 3900 dự án được cấp phép với số vốn trên 42 tỉ USD,
trong đó có 3200 dự án đang hoạt động với số vốn đăng kí đạt hơn 38 tỉ USD và vốn

III.
1.

Các hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam :
Hợp đồng - hợp tác kinh doanh :

Hợp đồng - hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Theo
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam –năm 1996 thì : “hợp đồng- hợp tác kinh doanh
là một văn bản kí kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc
nhiều hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở qui trách nhiệm và phân chia kết
quả cho mỗi bên mà không thành lập một pháp nhân mới. ”
2.

Xí nghiệp liên doanh :

Xí nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư trong đó bên nước ngoài và bên Việt Nam
cùng góp vốn thành lập xí nghiệp liên doanh theo một tỉ lệ đã được thoả thuận.
Theo luật đầu tư nước ngoài năm 1996 : “xí nghiệp liên doanh được thành lập tại
Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh kí kết giữa một hoặc các bên Việt Nam.
Xí nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức trách nhiệm hữu hạn là pháp
nhân Việt Nam mà mỗi bên liên doanh phải chịu trách nhiệm theo phạm vi vốn góp
của mình trong vốn pháp định. Đồng thời xí nghiệp liên doanh phải hoạt động theo
nguyên tắc tự chủ về tài chính và các bên tham gia liên doanh cùng tham gia điều
hành, quản lý các cơ sở này theo luật pháp Việt Nam thông qua cử người vào hội
đồng quản trị. Tỷ lệ góp vốn thành lập liên doanh của mỗi bên sẽ qui định tỷ lệ chia
lợi nhuận và tỷ lệ các thành viên tham gia vào hội đồng quản trị của xí nghiệp liên
doanh. ”
3.

Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài :

xí nghiệp những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt đối với nội địa.


Đặc biệt EPZ cho phép nhập khẩu những hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu,
miễn thuế dựa trên kho quá cảnh.
Luật pháp Việt Nam qui định EPZ là khu công nghiệp chuyên sản xuất, phục vụ
cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu có danh giới địa lý xác định,
do chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập bao gồm một hoặc nhiều doanh
nghiệp. Như vậy theo nghĩa rộng, EPZ bao gồm tất cả những khu vực được chính
phủ nước sở tại cho phép chuyên môn hoá sản xuất hàng công nghiệp chủ yếu vì
mục đích xuất khẩu, nó là khu biệt lập có chế độ mậu dịch và thuế quan của nước
đó.
Theo nghĩa hẹp EPZ chỉ giới hạn trong một khu vực riêng biệt, có ấn định danh
giới, ấn định sự kiểm tra của các luồng hàng hoá vào và ra khu vực.
5. Khu công nghiệp (Industrial Zone):
Theo luật pháp Việt Nam qui dịnh khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, do chính phủ
thành lập hoặc cho phép thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất
công nghiệp, không có dân cư sinh sống.
Trong khu công nghiệp có các loại hình khu công nghiệp hoạt động (có thể là các
doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, khu chế xuất, doanh nghiệp khu chế xuất. . . )
Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp.
Để khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào khu công nghiệp chính phủ đã ban
hành qui chế khu công nghiệp. Qui chế đầu tiên về khu công nghiệp được ban hành
kèm theo nghị định 192/CP ngày 18/12/1994 có hiệu lực ngày 1/1/1995. Chính phủ
đã ban hành nghị định 36/CP ngày 24/4/1997về EPZ, khu công nghiệp tập trung,
khu công nghệ cao.
6. Hợp đồng xây dựng -kinh doanh -chuyển giao (BOT) :


Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance -ODA):

ODA được tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) coi là nguồn tài chính do
các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương)
của một quốc gia viện trợ cho các nước đang phát triển và các tổ chức nhằm thúc
đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước này


Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và
các khoản tài trợ có hoàn lại ( cho vay dài hạn với một thời gian ân hạn và lãi suất
thấp ) của Chính phủ, các tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ, các
tổ chức tài trợ chính quốc tế (WB, ADB, IMF. . . ) dành cho chính phủ và nhân
dân nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ phát triển nêu trên được gọi
chung là đối tác viện trợ nước ngoài. Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm
sau đây :
Trước hết nó là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không
trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu
hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA,
nhưng thông thường danh mục các dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà
tài trợ.
Nguồn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản vay ưu đãi. Tuy vậy nếu
quản lí, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại gánh nặng nợ nần
trong tương lai.
Hơn nữa các nước nhận viện trợ ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới
được nhận tài trợ. Điều này tuỳ thuộc vào qui định của từng nhà tài trợ. Chẳng hạn
để nhận tài trợ của IMF nước chủ nhà phải có cổ phần đóng góp vào IMF và số
tiền vay sẽ phụ thuộc vào số vốn cổ phần. Trong đó muốn được tín dụng điều
chỉnh cơ cấu (SAF) hoặc tín dụng điều chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF) với lãi suất
0, 5%/năm thì nước chủ nhà phải thu nhập bình quân /đầu người dưới 600USD /

nhóm nước tài trợ. Hoạt động tài trợ có thể duy trì quyền lực của một chế độ nào
đó hoặc củng cố và mở rộng quyền lực của nó.
Đối với Việt Nam trong điều kiện tích luỹ từ nội bộ của nền kinhtế quốc dân còn
hạn chế, nguồn viện trợ quốc tế không hoàn lại thời gian qua đã góp phần đáng kể
vào việc giải quyết một số khó khăn nhất thời cũng như thực hiện một số chương
trình mà nguồn vốn trong nước không đủ đảm bảo như kế hoạch hoá gia đình,
tổng điều tra dân số, tiêm chủng phòng 6 bệnh cho trẻ em, hệ thống vệ sinh phòng
dịch, mạng lưới y tế xã, các phòng học, nhà trẻ, sản xuất đồ dùng học tập, đồ chơi
trẻ em. Viện trợ quốc tế thời gian qua cũng góp phần quan trọng hỗ trợ nước ta
trong việc đào tạo cán bộ, tiếp cận với thế giới bên ngoài, tăng tiềm lực cho nhiều


cơ quan nghiên cứu khoa học, xây dựng các quy hoạch tổng thể và nghiên cứu
tổng quan của một số vùng lãnh thổ và ngành kinh tế kỹ thuật. Song ODA - đây
chính là khoản nợ mà chính phủ Việt Nam phải trả cho các nhà tài trợ nước ngoài.
Bởi vậy thu hút ODA phải nghĩ đến nguồn vốn đối ứu. Nếu không sẽ bị lâm vào
khủng hoảng nợ trầm trọng không những không mang lại lợi ích cho dân tộc mà
còn khoác lên đất nước mình một khoản nợ nặng nề. Mặt khác ODA thường gắn
liền với các mục đích về chính trị. Do đó cần chú ý đến vấn đề chính trị của quốc
gia, một mặt :tạo sự hoà bình, thân mật với các nước để tăng cường thu hút nguồn
ODA, mặt khác phải ổn định về chính trị –xã hội.
CHƢƠNG II: KHÁI QUÁT CHUNG TÌNH HÌNH ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN (1995-5/2002):
I.

Khái quát chung về đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (1995-5/2002).

Kinh tế thế giới luôn biến động hàng giờ, hàng ngày. Trong bối cảnh biến động
chung đó mỗi nước đều cố gắng tự vươn lên, cạnh tranh lẫn nhau để giành vị trí,
khẳng định mình. Để phù hợp với xu thế chung, Đảng và nhà nước ta đề ra rất

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

5/2002

Triệu

2100

2500

2900

1900

2000

2600


hình giải ngân vốn ODA có những thành tích đáng ghi nhận. Đó là dấu hiệu khả
quan đáng mừng. Việc thu hút mạnh vốn ODA sẽ làm cơ sở để thu hút đầu tư
nước ngoài (FDI. )
2. Cơ cấu ngành :
Luồng đầu tư nước ngoài có sự khác nhau đối với mỗi ngành. Nhìn chung đầu tư
nước ngoài đa số tập trung vào những ngành then chốt, trọng điểm. Chủ yếu là
những ngành công nghiệp mũi nhọn, xây dựng, dịch vụ. . . Điều này cũng thật dễ
hiểu, bởi các nhà đầu tư luôn muốn kết quả đầu tư của mình có hiệu quả không chỉ
cho nước nhận đầu tư mà cả mang lại lợi ích cho chủ đầu tư. Trước hết đối với
ngành công nghiệp và xây dựng :đây là ngành luôn luôn phát triển năng động với
tốc độ thường xuyên cao trên 10-15% góp phần đưa tốc độ tăng trưởng chung của
nền kinh tế tăng cao. Vốn đầu vào công nghiệp và xây dựng thường chiếm khoảng
35%-40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm cả ngành điện lực cũng như xây
dựng. Đầu tư vào xây dựng sẽ góp phần nâng cao, phát triển cơ sở hạ tầng của đất
nước, từng bước nâng cấp cơ sở đã cũ, lạc hậu, tồi tàn. Đa số các dự án đầu tư cho
xây dựng lấy từ nguồn ODA. Có rất nhiều các nhà đầu tư cam kết cho Việt Nam
vay dưới dạng ODA để phát triển cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn như Đan Mạch cho
Việt Nam vay không lấy lãi 270 triệu DKK để xậy dựng các công trình :Đường Là
Ngà, Đá vẩy Hải Phòng, xử lý phân rác Hoocmon, máy đông lạnh thành phố Hải
Phòng ;dự án máy xây dựng xi măng Hoàng Thạch với công suất 2, 2 triệu tấn
/năm tổng kinh phí trên 25 triệu USD ;dự án nâng cấp bến phà Cần Thơ, Mỹ


Thuận với kinh phí 10, 5 triệu USD. . . Bên cạnh đó Đan Mạch, Phần Lan đã viện
trợ không hoàn lại cho Việt Nam khoảng 138 triệu USD tập trung vào lĩnh vực
phát triển cơ sơ hạ tầng
Trong ngành công nghiệp được đầu tư mạnh vào lĩnh vực sản xuất, lắp ráp trang
thiết bị. . .
Đối với ngành công nghiệp chế biến, khu vực có vốn FDI đầu tư 14. 306 tỷ đồng
(56%). Bên cạnh FDI, ODA được đầu tư cho chương trình khôi phục hệ thống cấp

mặt tại 26 tỉnh, thành trong cả nước. Cụ thể :
- Thành phố Hồ Chí Minh có 38 dự án (chiếm 36%) với số vốn 909. 170. 022
USD chiếm 50% so với cả nước.
- Hà Nội có 17 dự án (chiếm 18%) với số vốn đầu tư 274. 136. 504 USD chiếm
13, 5%.
- Bà Rịa –Vũng Tầu có 4dự án với số vốn đầu tư là 228. 500. 000 USD.
- Đồng Nai có 11dự án (số vốn 134. 272. 650 USD).
- Bình Dương có 6dự án (số vốn 13. 534. 513 USD).
- Hải phòng có 3dự án (số vốn 59. 850. 000 USD).
Ngoài ra Cần Thơ có 3dự án, Lào Cai có 2dự án, Khánh Hoà có 2dự án, Hà
Tây:2dự án, Đà Nẵng :2dự án. Các địa phương còn lại như Tây Ninh, Gia Lai,
AnGiang, Bến Tre, Quảng Nam, Hoà Bình, Bình Thuận, Phú Yên, Hưng Yên, Hải
Dương, Ninh Thuận, Đồng Tháp và Thừa Thiên Huế mỗi nơi có một dự án.
Bảng2:FDI phân bổ giữa các vùng.
Dân số vùng

Tổng FDI

FDI/ người

(1000 người ) (tỷ đồng )

(tỷ đồng )

(triệu đồng)

Tây Bắc

2288


989

0, 149

5996

60

0, 014

45020

17809

1, 475

Các vùng

Đồng

Bằng 17018

Tổng đầu tư

sông hồng
Bắc trung bộ
Duyên

10120


long
Toàn quốc

77686

Nguồn :Bộ kế hoạch và đầu tư
Như vậy số dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, các
khu công nghiệp. Số dự án đầu tư nước ngoài ở Miền Nam lớn hơn Miền Bắc. Do
đó sẽ dẫn đến nền kinh tế phát triển chênh lệch, không đồng đều giữa các vùng.
Bởi vậy cần phân bổ các dự án đầu tư nước ngoài một cách đồng đều, tạo nên sự
phát triển cân đối giữa các vùng trên toàn quốc.
4.

Cơ cấu đối tác đầu tư :

Trước đây nền kinh tế của Việt Nam là khép kính, chế độ tập trung quan liêu bao
cấp. Bởi vậy chỉ có những dự án đầu tư nước ngoài của Liên Xô và các nước Đông
Âu cũ, một số nhà đầu tư Châu Á. Song nay do thực hiện chính sách mở cửa, hoà
nhập với nền kinh tế thế giới, các nhà đầu tư đã phần nào tin tưởng đầu tư cho Việt
Nam. Đặc biệt là sau khi kí hiệp định thương mại Việt Mĩ, các hiệp định hiệp ước
khác số lượng các nhà đầu tư vào Việt Nam tăng lên.
Bảng 3:

FDI của một số nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2001

đơn vị : USD
Stt

Nước



Pháp

10

407. 177. 000

103. 677. 000

1. 139. 000

3

Anh

32

68. 044. 900

25. 632. 400

-

4

Đức

6

6. 948. 858



7

Đan

1

2. 500. 000

2. 000. 000

1

1. 000. 000

400. 000

200. 000

60. 000

mạch
8

Italia

9

Tây ban 1

Đầu tư nghĩa là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm
thu lời trong tương lai. Bởi vậy khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu
tư vào bất kỳ nước nào cũng đều gặp những thuận lợi và rủi ro khác nhau. Xét trong
địa bàn nước Việt Nam, bên cạnh những thuận lợi mà đầu tư nước ngoài được
hưởng thì còn khá nhiều khó khăn. Điều này có thể phân tích theo các khía cạnh
khác nhau như sau:


1. Xã hội –chính trị :
Trải qua bao cuộc chiến tranh xâm lược, gặp bao khó khăn, gian nan, vất vả. Vậy
mà Việt Nam vẫn vươn lên, đánh thắng giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Nhìn
chung từ sau hoà bình lập lại xã hội Việt Nam ổn định, thống nhất. Đồng thời thực
hiện chính sách đơn Đảng. Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất ở nước ta.
Đây là Đảng toàn quyền lãnh đạo, hoạt động do dân vì dân.
Xét về chính trị cũng rất ổn định. Bởi Việt Nam chỉ có một Đảng thống nhất kết
hợp với sự quản lý, điều chỉnh tài tình của Đảng và nhà nước cho nên không xẩy ra
những bất đồng mâu thuẫn trong xã hội. Đây chính là điều thuận lợi đối với hoạt
động đầu tư nước ngoài.
2. Kinh tế :
Việt Nam với dân số khá đông, nền kinh tế sản xuất nông nghiệp thủ công là chính,
bởi vậy cần phải mở cửa hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
a. Tài nguyên, thiên nhiên :
Nước ta có bờ biển dài, diện tích rừng tương đối lớn. Điều này rất thuận lợi cho việc
đầu tư khai thác những tài nguyên trên biển và chế biến gỗ. Mặt khác với đồng bằng
phì nhiêu mằu mỡ, nhất là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long
thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Tài nguyên phong phú kết hợp với khí hậu
nhiệt đới. Song điều quan trọng hơn là Việt Nam có một vị trí rất thuận tiện để thông
thương với các nước khác. Có ý kiến cho rằng Việt Nam là cửa ngõ để thông thương
buôn bán với các nước. Bởi vậy đầu tư nước ngoài sẽ gặp thuận lợi trong việc vận
chuyển, chuyên chở.

không được hưởng những chính sách như ưu đãi về thuế, dịch vụ điện nước, các hỗ
trợ khác. Đây cũng là một cản trở đối với hoạt động đầu tư nứơc ngoài ở Việt Nam.
Trong cuộc họp quốc hội vừa qua nhà nước đưa ra kế hoạch giảm đi 4000 doanh
nghiệp nhà nước trong số 6000doanh nghiệp nhà nước để đưa về dưới dạng cổ phần
hoá, đồng thời hạn chế thành lập doanh nghiệp nhà nước. Điều này sẽ tạo được sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp dân doanh với nhau.
Đồng thời thông qua một số sửa đổi bổ sung về thuế làm thuận lợi hơn cho hoạt động
đầu tư nước ngoài.
3. Pháp lí :


Hiện nay có rất nhiều các văn bản dưới luật ra đời song hệ thống luật pháp vẫn
chưa được hoàn chỉnh. Tuy nhiên so với một số nước khác hệ thống luật pháp của
ta tương đối hiện đại. Có rất nhiều văn bản nguồn luật điều chỉnh mối quan hệ đối
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đặc biệt từ khi có luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam ra đời (12/11/1996) và luật sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam (9/6/2000)đã qui định chi tiết hơn. Đồng thời cho phép các nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam theo nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt trong luật đưa
ra biện pháp đảm bảo đầu tư “ nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm
bảo đối xử công bằng và thoả đáng đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam. Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam vốn và tài sản hợp pháp khác của
nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành
chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá ’’ (Theo luật
đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam - năm 1996)
Mặt khác nhà nước đưa ra các qui định mới ưu đãi hơn được ban hành cấp giấy
phép đầu tư sẽ được áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các
bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh. Chính những điều đó sẽ tạo một trạng
thái, tâm lý yên tâm, một cú hích đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi lựa chọn
đầu tư vào Việt Nam.
4. Tài chính :

Ngoài ra luật còn qui định hoàn thuế cho số thu nhập tái đầu tư. Điều này sẽ khuyến
khích đầu tư nước ngoài, thúc đẩy họ hợp tác kinh doanh. Nhưng cũng đồng thời ta
muốn phân bổ nguồn vốn một cách đồng đều. Nói tóm lại bên cạnh những thuận lợi
mà nhà đầu tư nứôc ngoài được hưởng thì còn gặp những khó khăn. Trước hết các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài không được hưởng các ưu đãi về thuế như doanh
nghiệp trong nước, thủ tục đăng kí cấp phép đầu tư ở một số tỉnh còn rườm rà, các
dịch vụ như điện nước doanh nghiệp đầu tư nước ngoài phải trả chi phí đắt hơn. Đây
cũng là một bất cập trong hệ thống chính sách của Việt Nam. Chúng ta còn thiên về
bảo hộ nền sản xuất trong nước. Như vậy sẽ không thu hút được nhiều các dự án đầu
tư nước ngoài mà còn làm cho hoạt động kinh doanh ở trong nước kém hiệu quả,
thiếu sự cạnh tranh. Bởi vậy nhà nước cần hoàn thiện và bổ sung hệ thống luật pháp,
chính sách tạo môi trường đầu tư ổn định, nhất quán, đồng thời từng bước cải thiện
chính sách vĩ mô. Nhà nước không can thiệp quá sâu vào nền kinh tế. Song nhà nước
cần chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường. Đây cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay.
Đầu tư không chỉ nhằm vào lợi ích kinh tế mà còn chú ý đến vấn đề ô nhiễm môi
trường, ổn định chính trị xã hội. Do đó Việt Nam cần bổ sung thêm luật thuế của




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status