Nghiên cứu, ứng dụng mô hình liên kết bốn nhà vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh - Pdf 36

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ HỮU PHƢỚC

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG MÔ HÌNH “LIÊN KẾT
BỐN NHÀ” VÀO THỰC TIỄN SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 62 31 01 50

LUẬN ÁN TIẾN SĨ: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Trần Đình Thiên
2. TSKH. Trần Trọng Khuê

HÀ NỘI, năm 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực. Những kết
luận khoa học của Luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

VÕ HỮU PHƢỚC


1.5.

Nội dung nghiên cứu …………………………………………………..

12

1.6.

Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………

12

CHƢƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ QUAN
HỆ LIÊN KẾT BỐN NHÀ …………………………………………

16

2.1. Những vấn lý luận đề chung ……………………………………………

16

2.1.1. Các khái niệm ………………………………………………………….

17

2.1.2. Bản chất của quan hệ liên kết “bốn nhà”……………………………….

23

2.1.3. Vai trò của “các nhà” trong liên kết…………………………………….

chế biến phát sinh các nhu cầu liên kết …………………………………

58

3.2.3. Quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm trồng trọt không qua
chế biến phát sinh các nhu cầu liên kết ………………………………..

59

3.2.4. Quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm chăn nuôi phát sinh
các nhu cầu liên kết ………………………………………………. ….

.61

3.2.5. Hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy trình trên đã phát sinh các
nhu cầu liên kết………………………………………………………

62

3.3. Thực trạng các nội dung liên kết “bốn nhà” thực hiện trong sản xuất
nông nghiệp tỉnh Trà Vinh ……………………………………………

65

3.4. Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với liên kết
“bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh………………..

69

3.4.1. Đánh giá thực trạng nhu cầu liên kết trong sản xuất nông nghiệp

3.7. Liên kết “bốn nhà” ở tỉnh Trà Vinh, thuận lợi, thách thức
và cơ hội…………………………………………………………………

89

3.7.1. Sự cần thiết của liên kết “bốn nhà” ở tỉnh Trà Vinh ……………………

89

3.7.2. Liên kết “bốn nhà” ở Trà Vinh còn bộc lộ những hạn chế ……………..

90

3.7.3. Một số vấn đề cần thực hiện trong liên kết “bốn nhà” ở tỉnh Trà Vinh…

96

3.8. Cơ sở đề xuất giải pháp và mô hình liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông
nghiệp tỉnh Trà Vinh …………………………. ...………………

99

CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TỈNH TRÀ VINH ………………………………

106

4.1. Định dạng mô hình trong phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Trà Vinh………………………………………………



4.3.2. Phát huy vai trò Doanh nghiệp trong quan hệ liên kết “bốn nhà” nhằm
phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Trà Vinh…………………………..

122


4.3.3. Tác động của sự liên kết “bốn nhà” đối với phát triển doanh nghiệp….

126

4.3.4. Giải pháp tăng cường năng lực cho Nhà nông, Nhà khoa học và
Doanh nghiệp ………………………………………………………….

132

4.3.5. Đổi mới phương thức hợp đồng và tăng cường hiệu lực thực hiện
hợp đồng tiêu thụ nông sản theo đúng các quy định của pháp luật.........

133

KẾT LUẬN …………………………………………………………………

136

TÀI LIỆU THAM KHẢO. …………………………………………………

137



những mối liên kết mới được hình thành theo yêu cầu khách quan và với vai trò của
liên kết tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh. Trong thực tế, quá trình hình thành quan hệ liên kết đã làm xuất hiện liên kết
giữa các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, công nghiệp, nông
nghiệp… Trong bối cảnh hiện nay cho thấy, địa phương nào, ngành nào tổ chức tốt
quan hệ liên kết thì các doanh nghiệp, các ngành, địa phương đó sẽ có cơ hội phát
triển với tốc độ cao, bền vững, đó là các mô hình liên kết đã đem đến sự thành công
trong sản xuất nông nghiệp như: Hiệp hội mía đường Lam Sơn, mô hình tiêu thụ
nông sản hàng hóa qua hợp đồng ở tỉnh An Giang, công ty sữa Vinamilk…Chính vì
vậy, vấn đề mở rộng quan hệ liên kết trở thành vấn đề thời sự, chiến lược thu hút sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu, quản lý ở các ngành, các cấp.
Trong phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn, để hỗ trợ tiêu thụ sản
phẩm và ổn định thị trường, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, tạo vị
thế và nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản trong bối cảnh hội nhập, nâng cao thu
nhập, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 80/2002/QĐ-TTG về chính sách
khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Trong quá trình triển
khai quyết định, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Nhà
nước, Hội nông dân Việt Nam…đã tổ chức ký chương trình liên kết “bốn nhà” (nhà
nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nông dân) trong sản xuất – chế biến – tiêu thụ.


2

Mặc dù, đã đạt được một số kết quả nhưng trong thực tế qua tổng kết và đánh giá
của các cơ quan chuyên môn, sau hơn 10 năm thực hiện, sự liên kết vẫn rất lỏng lẻo;
hiệu quả còn thấp.
Tỉnh Trà Vinh là tỉnh nông nghiệp và về lâu dài, nông nghiệp giữ vai trò
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Vai trò này được thể
hiện trước hết ở mức sản lượng, thu nhập, việc làm được tạo ra từ sản xuất khu vực
kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ở khả năng phát huy lợi thế so sánh để tạo ra thế ổn

phát triển mô hình liên kết trong nông nghiệp và vấn đề này cần phải thực hiện
nhanh, trước yêu cầu của đổi mới và sâu rộng như hiện nay ngành nông nghiệp
chưa đáp ứng được. Bên cạnh đó, mô hình liên kết bốn nhà là một mô hình cần phải
có và được nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh, với mong muốn
đóng góp một phần nhỏ cho sự phát triển chung, tôi lựa chọn đề tài: “NGHIÊN
CỨU, ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT “BỐN NHÀ” VÀO THỰC TIỄN SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH TRÀ VINH để làm luận án nghiên
cứu sinh.
1.2.Tổng quan tài liệu
Trong phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn vai trò của các nhà đã
được các nhà kinh tế đúc kết các kinh nghiệm sau:
Phát huy vai trò và sức mạnh tổng hợp của “các nhà” là tận dụng có hiệu quả
nhất tiềm năng, lợi thế so sánh về sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra ngày càng
nhiều sản phẩm có giá trị cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, đẩy nhanh công
nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ nhau giữa các nhà kinh doanh, hướng vào
mục tiêu, đối tượng chung là phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông
nghiệp nông thôn.
Vai trò nhà nước là thực hiện nguyên tắc quản lý vĩ mô về kinh tế: tập trung,
vận dụng có hiệu quả các quy luật khách quan, kết hợp hài hòa lợi ích các tập thể,
cá nhân, tạo điều kiện và có cơ chế rõ ràng cho “các nhà” khác hoạt động.
Nông hộ và sự cần thiết phải liên kết
Nông hộ và các hình thức liên kết của nông hộ trong hợp tác sản xuất kinh
doanh là những vấn đề không mới trong phát triển nông nghiệp nông thôn và đã có
rất nhiều báo cáo, tài liệu nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm về vấn đề này.
Nông hộ và liên kết giữa các nông hộ đã được nhắc đến trong rất nhiều tài
liệu cơ bản về kinh tế học sản xuất và kinh tế hộ nông dân.
Ellis Frank (1993) định nghĩa nông hộ nhỏ (peasant farm household) với các
tính chất cơ bản là chủ yếu sống bằng nông nghiệp, sử dụng lao động gia đình để
sản xuất trên mảnh đất của mình, tham gia không hoàn toàn vào thị trường đầu vào

càng hết sức cần thiết để giúp nông dân gắn kết với các yếu tố thị trường. Bằng cách
liên kết với nhau, các nhóm nông dân có thể mua vật tư đầu vào với khối lượng lớn
có giá rẻ hơn, bán nông sản với khối lượng lớn với giá cao hơn, chi phí giao dịch
thấp hơn, cải thiện tính cạnh tranh và quyền điều đình trả giá (bargaining power).
Sự liên kết cũng giúp nông dân tăng khả năng đàm phán với các thị trường đầu vào
như ngân hàng, tổ chức tín dụng; các nhà cung cấp vật tư đầu vào và nhà thu mua
nông sản. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tăng khả năng tiếp cận thị trường của
nông dân.


5

Mối liên kết ngang như vậy (horizontal linkages) không chỉ cần thiết đối với
nông dân mà còn đối với tất cả các dạng hình của người sản xuất, doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở tất cả các ngành nghề trong một xã hội hiện đại và thị trường hóa tối
đa như hiện nay. Đặc biệt khi các hoạt động sản xuất của nông dân được chuyên
nghiệp hóa trong một chuỗi giá trị (value chain) của một ngành hàng cụ thể
(commodity chain), quan hệ liên kết dọc thường được thể hiện dưới hình thức sản
xuất theo hợp đồng (contract farming). Trong trường hợp này, kinh nghiệm thế giới
cho thấy việc kết hợp giữa sản xuất theo hợp đồng và tổ chức hợp tác của nông dân
có thể tăng cường khả năng tiếp cận các cơ hội thị trường mới và các dịch vụ hỗ trợ
đầu tư thâm canh của các nông hộ nhỏ. Sự hợp tác giữa nông dân thường hoạt động
tốt nhất khi nhóm nông dân được kết nối với thị trường đầu vào và đầu ra thông qua
hợp đồng (Jonathan Coulter và cộng sự., 1977). Đồng thời, sự hợp tác này cũng có xu
hướng thành công với các nhóm nông dân nhỏ, dính kết với nhau, liên kết một cách
phụ thuộc lẫn nhau (linkage-dependent) trong quan hệ với ngành kinh doanh nông
sản (agri-business). Từ đó, các chính sách công và các sáng kiến phát triển khuyến
khích liên kết giữa nông dân và ngành kinh doanh nông sản nên bao gồm cả những
hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các liên kết thị trường giữa các nông dân nhỏ.
Theo Đặng Kim Sơn (2006) thì phát triển kinh tế hộ sau khi tạo ra kết quả tốt

xuất từ nông thôn còn thấp, chỉ trừ một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao
như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, điều và một số mặt hàng thủy sản. Các mặt hàng nông
sản như thịt heo, mía, bông, rau quả thì giá thành và giá bán trong nước đều cao hơn
nhiều nước trên thế giới và khu vực, mà nguyên nhân chủ yếu là do sản xuất nông
nghiệp Việt Nam phần lớn do các nông hộ qui mô nhỏ đảm trách với 13 triệu hộ
dân sản xuất nông nghiệp trên 70 triệu thửa ruộng manh mún, chất lượng nông sản
còn thấp, nhất là vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm còn kém. Mặt khác năng lực của
các chủ thể kinh doanh nông nghiệp còn yếu, thiếu liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Theo
thông cáo báo chí của Ngân hàng phát triển Châu Á (2005) do tập quán sản xuất
nhỏ nên nông dân thường gặp khó khăn trong việc tự tổ chức và liên kết với nhau để
cùng sản xuất theo hợp đồng, do đó vai trò của các hiệp hội ngành nghề và liên
minh hợp tác xã (HTX) là vô cùng quan trọng.
Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO từ
tháng 11 năm 2006, thì việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản phải tuân thủ các tiêu
chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn
GAP và thương hiệu hàng hóa thường được đặt ra mà thông thường để đạt sản xuất
theo tiêu chuẩn GAP trong điều kiện sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn nhỏ lẻ,
manh mún thì nhất thiết phải hình thành các tổ chức liên kết để xây dựng thương
hiệu hàng hóa cũng như chứng nhận tiêu chuẩn hàng hóa. Mặt khác, khi các doanh
nghiệp ký kết hợp đồng với nông dân, nếu ký kết từng hộ nông dân thì chi phí giao
dịch sẽ cao, nhất là khi có sự tranh chấp hợp đồng, do đó doanh nghiệp thường ký
với tổ chức đại diện nông dân mà hình thức phổ biến là các tổ hợp tác và hình thức
cao hơn là HTX.


7

Tổ chức của nông dân và các hình thức liên kết
Tuỳ theo từng quốc gia, trên thế giới có nhiều hình thức tổ chức của nông
dân như Nhóm nông dân (Farm Group); Nhóm sản xuất (Producer Group); Hội



8

dân đơn giản mang tính chất tương trợ để nông dân có điều kiện học tập trong thực
tế. Có thể khẳng định rằng tổ chức của nông dân là hoạt động mang tính quyết định
đối với sự tồn tại của liên kết dọc giữa người sản xuất và các tác nhân khác trong
nền kinh tế thị trường.
Cơ chế chính sách Việt Nam đặc biệt coi trọng việc tổ chức liên kết sản xuất,
mà điển hình là việc ban hành Luật HTX năm 2003. Mặc dù Luật HTX đã ra đời
và được áp dụng vào thực tiễn, vẫn có không ít khó khăn xảy ra. Khi phân tích
đánh giá vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời kỳ mới,
Đào Thế Tuấn (2006) cũng ủng hộ việc hình thành các tổ chức chuyên nghiệp của
nông dân, có tính chất đa dạng, dễ thích ứng với các đặc thù địa phương. Các tổ
chức nông dân kiểu mới này không nhằm giải quyết các quan hệ bên trong mà
nhằm xây dựng thêm các mối quan hệ bên ngoài như giúp tiếp xúc với thị trường
và xã hội. Tác giả cũng chỉ ra những khiếm khuyết của HTX, Luật HTX hiện nay,
và đặt ra vấn đề liên kết dọc, tổ chức các HTX theo ngành hàng. Đồng thời, để
thúc đẩy nông nghiệp hợp đồng (theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg), nông dân cần
phải tổ chức lại thành HTX hay hiệp hội để bênh vực quyền lợi cho nhau và tăng
khả năng mặc cả trên thị trường.
Như vậy, liên kết giữa các nông hộ trong sản xuất – kinh doanh từ đơn thuần
là một biện pháp đối phó với các thế lực thị trường, hoặc chỉ thuần túy là tăng
cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của cả nhóm và từng hộ cá lẻ, đã phát triển trở
thành một thể chế quản lý và phát triển nông thôn, giúp cho nông dân có thể tự làm
chủ được cuộc sống của mình.
Theo J. Bingen (1999), những ảnh hưởng tích cực của tổ chức hợp tác (liên
kết ngang) và các mối liên kết dọc với các chuỗi siêu thị và các doanh nghiệp kinh
doanh nông sản thường chiếm ưu thế về tiếp cận thị trường ở phần lớn các nước
đang phát triển. Đặc biệt ở các vùng gần đô thị, do hoàn cảnh thuận lợi về địa lý,

nông thôn phát triển.
Tăng cường sự hình thành các tổ chức của nông dân còn là xu hướng để củng
cố vốn xã hội (social capital), đặc biệt ở đây là củng cố các mối liên kết thông qua
vốn quan hệ (quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, quan hệ làng xóm). Đây đang là xu
thế phát triển nông thôn kiểu mới trên toàn cầu (Staveren. I, 2002). Điểm này sẽ rất
phù hợp với xã hội nông thôn Việt Nam, trong đó có vùng Nam bộ. Một đặc thù
nổi bật của người Nam bộ là rất trọng chữ tín. Những liên kết gia đình, hình thành
những doanh nghiệp kiểu gia đình gồm vài chục hộ phần lớn là họ hàng, anh em
liên kết, gắn bó với nhau để cùng sản xuất một sản phẩm hay một hoạt động dịch vụ
cung ứng cho thị trường chắc chắn sẽ giúp các liên kết ngang bền chặt (Trung
Quốc- nơi có xã hội nông thôn tương tự Việt Nam là điển hình thành công cho dạng
liên kết kiểu gia đình này). Nhờ mối quan hệ gia đình và làng xã mà có được sự tin
cậy, trung thành, giúp đỡ nhau kinh nghiệm làm ăn, vốn… Như vậy tổ chức sản
xuất kiểu này sẽ hạn chế rủi ro của mối liên kết ngang hộ-hộ.


10

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt Nam hiện nay, tăng cường
khả năng cạnh tranh nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới là để gia tăng xuất
khẩu và ổn định sản xuất, tạo ra công ăn việc làm ở khu vực nông thôn. Liên kết
dọc theo ngành hàng đang bắt đầu diễn ra ở nhiều vùng khác nhau, cho nhiều ngành
hàng nông sản khác nhau. Liên kết ngang cũng đang được hình thành, nhưng chủ
yếu ở cấp độ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Liên kết ngang giữa các nông hộ
vẫn còn yếu kém, do nhiều lý do khác nhau.
Từ các kết quả nghiên cứu và tình hình thực tiễn trên, có thể thấy, liên kết
nông dân nhỏ trong sản xuất – kinh doanh vẫn là một vấn đề hết sức căn bản trong
tổ chức sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tình hình hội nhập kinh tế toàn cầu,
nhưng vẫn chưa được giải quyết rốt ráo.
Ở các tỉnh Nam Bộ, vấn đề liên kết sản xuất – kinh doanh nông sản giữa

tác xã trong mối liên kết bốn nhà, báo Sài Gòn giải phóng số ra ngày 22-6-2009;
Mai Văn Quyền: Liên kết “bốn nhà” tạo “đường băng” để nông dân cất cánh, tạp
chí nông nghiệp, nông dân, nông thôn số 3 (195) năm 2010; Liên kết bốn nhà xây
dựng vùng lúa chất lượng cao ở Hà Nội, Báo nhân dân số ra ngày 12-10-2010 đã
bước đầu nêu lên vai trò, thực trạng (chủ yếu là hạn chế) của mối liên kết bốn nhà
trong thời gian qua ở một số địa phương và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng
cường hơn nữa mối liên kết trong thời gian tới. Một số cuộc Hội thảo như: Hội thảo
triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn tại Cần
Thơ ngày 10-12-2010 đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và xây dựng nông thôn mới trong
thời gian qua, đồng thời tập trung phân tích, đánh giá các nhóm giải pháp để phát
triển toàn diện, hiện đại, bền vững nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới, Hội
thảo: Xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng Sông Cửu Long tại Cần Thơ, tháng 12
năm 2012 đã đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới của các tỉnh Đồng bằng
Sông Cửu Long, từ đó rút ra những hạn chế để đưa ra những giải pháp phù hợp hơn
trong thời gian tới.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những luận cứ khoa học và lý luận về liên kết và vai trò của
“bốn nhà” trong phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp nông thôn.
- Làm rõ tính tất yếu của mối liên kết giữa nhà nông – nhà nước – nhà doanh
nghiệp – nhà khoa học (bốn nhà).
- Thực trạng về liên kết trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
- Đề xuất mô hình liên kết “ bốn nhà” và giải pháp nâng cao hiệu quả các
mối liên kết “ giữa các nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.


12

1.4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:
1.4.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Trước hết, đề tài phân tích những quan điểm liên kết trong sản xuất nông
nghiệp và các mô hình liên kết. Đây là nền tảng, là khuôn khổ chung cho việc phân
tích, đánh giá các quan hệ liên kết, bắt đầu từ việc phân tích các quan hệ ngược,
xuôi trong quá trình hoạt động và phát triển của nông nghiệp, nông thôn tỉnh Trà
Vinh để từ đó xác định các quan hệ, nội dung, hình thức liên kết, trong nội dung
ứng dụng mô hình liên kết “bốn nhà” vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp, nông thôn
tỉnh Trà Vinh. Đồng thời, phân tích là cơ sở để đánh giá mức độ, hiệu quả, triển
vọng phát triển liên kết giữa “bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra, tổng hợp thực tiễn, đối chiếu lý thuyết cũng là một phương pháp bổ
sung quan trọng để đánh giá, phân tích ảnh hưởng của các mối liên kết trong sản xuất
nông nghiệp, nông thôn và ứng dụng mô hình liên kết vào thực tiễn tỉnh Trà Vinh.
Như vậy, đề tài tiếp cận và giải quyết vấn đề theo cách: Trước hết, đề tài làm
rõ những vấn đề xung quanh những cơ sở lý luận cơ bản về liên kết “bốn nhà”, và
những tác động qua lại giữa “các nhà”. Tiếp theo, đề tài đi sâu phân tích, đánh giá
thực trạng, đề xuất hệ thống giải pháp để xác lập các mô hình ứng dụng vào thực
tiễn sản xuất nông nghiệp, nông thôn tỉnh Trà Vinh, nhằm phát triển và nâng cao
chất lượng các quan hệ liên kết, phát huy năng lực nội sinh trong phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh. Bên cạnh đó, cách tiếp cận so sánh
cũng được sử dụng theo nguyên tắc thực hiện các nội dung so sánh về không gian,
thời gian để thấy rõ được mức độ hiệu quả của các quan hệ liên kết.


14

ra

h tế
kin
ờng
i trư


Sản xuất nông
nghiệp

g



ch

Nh

à


ng
ng
hi
ệp

,H
CNH

ĐH

Thị trường

nh

iệ


ớc

thôn
g
n


Đề tài: “Nghiên cứu mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà
Vinh” nghiên cứu dựa trên các mối liên kết đa chiều giữa Nhà nước, Nhà Khoa học,
Nhà Nông, Nhà doanh nghiệp, với sự ảnh hưởng của; môi trường kinh tế quốc tế,
phát triển bền vững nông nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiêp nông
thôn, thị trường đầu vào – đầu ra.


15

Qua cách tiếp cận của vấn đề nghiên cứu, có thể xây dựng cho luận án khung phân
tích như sau:
THỰC TRẠNG CÁC GIẢI PHÁP
LIÊN KẾT
GIẢI PHÁP


LUẬN
LIÊN
KẾT

Giải pháp đã thực hiện

Thực trạng liên kết của

QUAN HỆ LIÊN KẾT BỐN NHÀ

2.1. Những vấn đề lý luận chung
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp phải đối mặt với các
vấn đề: Cạnh tranh hàng hóa; doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp; cơ chế,
chính sách nước này cạnh tranh với nước kia. Để giải quyết vấn đề đó cần phải có
sự liên kết lại với nhau giữa các nhà trong sản xuất nông nghiệp. Theo Micheal
Porter, liên kết để tăng sức cạnh tranh và chuỗi giá trị gia tăng là nền tảng của sự
cạnh tranh và dựa trên tư duy liên kết ngành hàng. Liên kết chuỗi giá trị ngành hàng
phát triển được phải dựa vào cơ chế, tổ chức, chính sách nhà nước nhằm phát huy
sức mạnh cạnh tranh và lợi thế so sánh của từng địa phương, từng ngành hàng.
Liên kết “bốn nhà” là nền tảng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn. Nghị quyết 26 của Trung ương Đảng đã nhấn mạnh: mục
tiêu trước mắt là tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông
thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp,
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.
Như vậy, liên kết “bốn nhà” cần thực hiện các bước như sau:
- Xác định chủ đề và mục tiêu cụ thể của chủ đề: chủ đề và mục tiêu cần xác
định rõ và định ra được chiến lược dài hạn;
- Vai trò và chức năng từng nhà: Xác định chức năng, nhiệm vụ từng nhà,
đồng thời tạo môi trường thuận lợi và đưa ra thể chế chính sách để các nhà hoạt
động nhằm gắn kết và phát triển;
- Nối kết vai trò từng nhà có liên quan: sự mâu thuẩn về lợi ích thường xãy ra
và khó nối kết để thực hiện, bởi vì: (i) mỗi nhà dù ở cấp độ nào, có mục tiêu, lợi ích
và tổ chức hoạt động của họ trong từng thời điểm nhất định. Nếu liên kết chức năng
mà ảnh hưởng đến quyền lợi thì họ khó có thể tham gia và thực hiện chức năng một
cách hiệu quả. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách và làm luật cần am hiểu cặn
kẽ cho từng nhà và cơ chế để họ thực thi nhiệm vụ, thỏa mãn lợi ích và phân bố vào
hệ thống phát triển chung mà đường lối của Đảng đã vạch ra. (ii) Mâu thuẫn từng


80/2002/QĐ – TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng chính phủ. Đây là chủ trương
“liên kết bốn nhà” trong phát triển nông nghiệp Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế.
Liên kết “bốn nhà” thể hiện sự liên kết của các tác nhân có liên quan trong
một quá trình nào đó. Trong nghiên cứu này “bốn nhà” bao gồm: nhà nước, nhà


18

khoa học, nhà nông, nhà doanh nghiệp (thương lái). Như vậy, “bốn nhà” trong cụm
từ “liên kết bốn nhà” bao gồm: nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà
nước. “Liên kết bốn nhà” trong phát triển nông nghiệp là sự liên kết giữa nông dân,
doanh nghiệp, nhà khoa học dưới sự hỗ trợ của nhà nước nhằm gắn sản xuất với chế
biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa; thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển ổn
định, bền vững; tiến tới nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, đủ sức bước
vào thời kỳ hội nhập khu vực và thế giới. Trong liên kết này thì vai trò của các
“nhà” được thể hiện như sau:
Nhà nƣớc: Bao gồm các cơ quan quản lý các cấp (chính quyền địa phương,
Sở, ngành), Nhà nước trong liên kết “bốn nhà” là các cơ quan quản lý sản xuất nông
nghiệp từ Trung ương đến địa phương, là chính quyền các cấp, các ngành nghề liên
quan đến sản xuất nông nghiệp. Nhà nước ban hành các chính sách có liên quan đến
sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, dồn điền đổi thửa, phát triển hợp tác xã, tổ
hợp tác; hỗ trợ xây dựng hạ tầng, vốn, nhân lực, phát triển các vùng sản xuất hàng
hóa lớn, vùng nguyên liệu tập trung. Ngoài ra, nhà nước còn giữ vai trò bảo trợ
thông qua hệ thống pháp luật, với vai trò quan trọng trong việc quản lý, nhà nước
ban hành các chính sách nhằm tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển,
vừa giám sát, điều hòa mối liên kết “bốn nhà”. Khi tham gia vào mối liên kết bốn
nhà, nhà nước đóng vai trò như một “nhạc trưởng” nhằm hỗ trợ, điều phối thông
qua các chủ trương, chính sách như: khuyến khích và đầu tư hạ tầng cơ sở, quy
hoạch vùng nguyên liệu, xúc tiến thương mại, hỗ trợ vốn; cung cấp thông tin thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status