Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Có nhiều phương pháp xử lý các chất ô nhiễm trong nước như: keo tụ,
trao đổi ion, hấp phụ, kết tủa, trung hoà… Đặc biệt, phương pháp hấp phụ với
việc sử dụng nhiều vật liệu hấp phụ khác nhau như than hoạt tính, silicagel,
nhựa trao đổi ion, zeolite, các vật liệu có nguồn gốc tự nhiên (chitosan, xenlulo,
…) có khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước mà phương pháp khác
không xử l ý được. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng phương pháp hấp phụ để
xử lý nước xuất hiện một số hiện tượng không mong muốn như tắc cột, quá trình
lắng kéo dài làm ảnh hưởng đến tốc độ trong quá trình xử lý và đòi hỏi hệ thống
có quy mô lớn.
Để giải quyết nhược điểm này, ta có thể dung kĩ thuật hấp phụ tầng động
sử dụng vật liệu hấp phụ có từ tính. Trong khóa luận này em nghiên cứu: “Các
điều kiện tổng hợp và ứng dụng vật liệu hấp phụ có từ tính để xử lý các chất ô
nhiễm hữu cơ, bước đầu thử nghiệm hấp phụ phẩm màu Alizarin vàng”. Hi vọng
nghiên cứu này đóng góp phát triển một hướng mới trong công nghệ xử lý nước
thải.
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
1
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP HẤP PHỤ [4 ]
1.1 Khái niệm
Hấp phụ là sự tích luỹ chất trên bề mặt phân tách pha. Đây là một phương
pháp nhiệt tách chất, trong đó các cấu tử xác định từ hỗn hợp lỏng hoặc khí
m
V: Thể tích dung dịch
m: Khối lượng chất hấp phụ
Ci: Nồng độ dung dịch đầu
Cf: Nồng độ dung dịch khi đạt cân bằng hấp phụ
Cũng có thể biểu diễn đại lượng hấp phụ theo khối lượng chất hấp phụ
trên một đơn vị diện tích bề mặt chất hấp phụ
(Ci – Cf).V
q=
m.S
S: Diện tích bề mặt riêng của chất hấp phụ
1.2. Các mô hình cơ bản của quá trình hấp phụ
1.2.1. Mô hình động học
Sự tích tụ chất bị hấp phụ trên bề mặt vật rắn gồm hai quá trình:
- Khuếch tán ngoài: khuếch tán các phân tử chất bị hấp phụ từ pha
mang đến bề mặt vật rắn
- Khuếch tán trong: khuếch tán các phần tử bị hấp phụ vào trong lỗ
xốp.
Như vậy lượng chất bị hấp phụ trên bề mặt vật rắn sẽ phụ thuộc vào 2 quá
trình khuếch tán. Tải trọng hấp phụ sẽ thay đổi theo thời gian tới khi quá trình
hấp phụ đạt cân bằng.
Gọi tốc độ hấp phụ là biến thiên độ hấp phụ theo thời gian ta có:
dx
r=
dt
Khi tốc độ hấp phụ phụ thuộc bậc nhất vào sự biến thiên nồng độ theo
thời gian thì:
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
V : Thể tích dung dịch của chất bị hấp phụ
a, Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir
Mô tả quá trình hấp phụ một lớp đơn phân tử trên bề mặt vật rắn. Phương
trình Langmuir được thiết lập với các giả thiết sau [1]:
- Các phần tử được hấp phụ đơn lớp phân tử trên bề mặt chất hấp phụ
(tiểu phân bị hấp phụ liên kết với bề mặt tại mỗi trung tâm xác định).
- Sự hấp phụ là chọn lọc (mỗi trung tâm chỉ hấp phụ một tiểu phân).
- Giữa các phần tử chất hấp phụ không có tương tác qua lại với nhau.
- Bề mặt chất hấp phụ đồng nhất về mặt năng lượng, tức sự hấp phụ xảy
ra trên bất kỳ chỗ nào thì nhiệt hấp phụ vẫn là một giá trị không đổi. Hay trên bề
mặt chất hấp phụ không có những trung tâm hoạt động.
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
4
Khoá luận tốt nghiệp
Phương trình đẳng nhiệt Langmuir:
q = Cm .
bC l
1 + b.C l
q: Tải trọng hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/g).
Cm: Tải trọng hấp phụ cực đại (mg/g).
b : Hằng số, chỉ ái lực của vị trí liên kết trên bề mặt chất hấp phụ
Khi b.Cl >1 thì q = Cm mô tả vùng hấp phụ bão hoà.
Khi nồng độ chất hấp phụ nằm giữa 2 giới hạn trên thì đường đẳng nhiệt
ON =
1
b.C m
b, Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Frenundrich
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
5
Khoá luận tốt nghiệp
Đây là một phương trình thực nghiệm có thể sử dụng để mô tả nhiều hệ
hấp phụ hoá học hay vật lý. Các giả thiết của phương trình như sau:
- Do tương tác đẩy giữa các phần tử, phần tử hấp phụ sau bị đẩy bởi phần
tử hấp phụ trước, do đó nhiệt hấp phụ giảm khi tăng độ che phủ bề mặt.
- Do bề mặt không đồng nhất, các phần tử hấp phụ trước chiếm các trung
tâm hấp phụ mạnh có nhiệt hấp phụ lớn hơn, về sau chỉ còn lại các trung tâm
hấp phụ có nhiệt hấp phụ thấp hơn.
Phương trình này được biểu diễn bằng một hàm mũ;
q = k. Cf1/n
Cf : Nồng độ cân bằng của chất bị hấp phụ
q : Tải trọng hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/g).
k : Dung lượng hấp phụ (ái lực chất hấp phụ đối với bề mặt chất hấp phụ)
hằng số này phụ thuộc vào nhiệt độ, diện tích bề mặt và các yếu tố khác.
n : Cường độ hấp phụ, hằng số này phụ thuộc vào nhiệt độ và luôn >1.
Phương trình Frenundrich phản ánh khá sát số liệu thực nghiệm cho vùng
ban đầu và vùng giữa của vùng hấp phụ đẳng nhiệt.
Để xác định các hằng số, ta đưa phương trình trên về dạng đường thẳng:
Dung môi có sức căng bề mặt lớn thì chất tan càng dễ bị hấp phụ. Chất tan trong
dung môi nước bị hấp phụ tốt hơn so với dung môi hữu cơ.
Độ xốp của chất hấp phụ: Khi kích thước mao quản trong chất hấp phụ
giảm thì sự hấp phụ từ dung dịch thường tăng lên. Nhưng đến một giới hạn nào
đó, kích thước mao quản quá nhỏ sẽ cản trở sự đi vào của chất bị hấp phụ.
Nhiệt độ: Khi tăng nhiệt đô sự phụ thuộc trong dung dịch giảm, tuy nhiên
đối với những cấu tử tan hạn chế, khi tăng nhiệt độ, độ tan tăng làm cho nồng độ
của nó trong dung dịch tăng lên, do vậy khả năng hấp phụ cũng có thể tăng lên.
pH của môi trường ảnh hưởng nhiều lên tính chất bề mặt của chất hấp phụ
và chất bị hấp phụ trong dung dịch, nên cũng ảnh hưởng tới quá trình hấp phụ.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: nồng độ của chất tan trong dung
dịch, áp suất đối với chất khí, quá trình hấp phụ cạnh tranh đối với các chất bị
hấp phụ.
2. CHITIN VÀ CHITOSAN
2.1. Giới thiệu chung
- Chitin là một polysacarit rất phổ biến trong tự nhiên, đứng thứ 2 chỉ sau
xenlulozơ về hàm lượng. Chitin có trong vỏ của hầu hết các loài động vật giáp
xác như tôm, cua, mực…và các loại côn trùng, sâu bọ. [8 ]
CH2OH
CH2OH
O
O
O
OH
NHCOCH3
O
OH
NH2
Hình 1.6. Cấu trúc của Chitosan
2.2. Điều chế Chitin và Chitosan.
2.2.1. Phân lập Chitin
Chitin được tách từ vỏ tôm, cua bằng các phương pháp hoá học. Trong vỏ
tôm, cua, chitin tồn tại cùng với các muối khoáng và protêin, do đó, quy trình
chung để tách chitin là loại bỏ các muối khoáng (chủ yếu là CaCO 3), protêin và
các hợp chất màu để thu lấy Chitin sạch. Quá trình thường được thực hiện như
sau:
Ban đầu, ngâm vỏ tôm, cua trong dung dịch HCl 10% trong nhiều giờ, sau
đó lọc rửa nhiều lần bằng nước đến trung tính để loại bỏ hết muối khoáng. Vỏ
tôm cua đã loại hết muối khoáng được ngâm tiếp trong lượng dư NaOH 10%
cho đến khi vỏ tôm trở nên trong. Lúc đó, toàn bộ lượng Protêin đã bị phân huỷ
hết. Tiến hành lọc, rửa nhiều lần bằng nước đến trung tính, sấy khô thu được
chitin thô màu trắng ngà, phớt hồng. Chất màu có trong chitin được loại bỏ bằng
cách nhúng ngập Chitin trong H2O2 1% hoặc KMnO4 sao cho toàn bộ màu phớt
hồng của chitin biến mất. Tiến hành lọc, rửa nhiều lần bằng nước, sau đó bằng
ancol axeton rồi sấy khô đến khối lượng không đổi thu được chitin sạch, màu
trắng. [2 ]
2.2.2. Điều chế Chitosan
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
8
Hình 1.7. Sơ đồ điều chế Chitosan từ Chitin
2.3. Các tính chất vật lý của Chitin và Chitosan
2.3.1. Độ đề axetyl hoá của chitosan: (DA)
Độ đề axetyl hoá là một trong những đặc tính quan trọng nhất của
Chitosan. Nó xác định hàm lượng nhóm amino tự do trong mạch polysaccarit.
Độ đề axetyl hoá ảnh hưởng đến tất cả các tính chất lý hoá của chitosan (khối
lượng phân tử, độ nhớt, tính tan…). Có rất nhiều phương pháp để xác định DA
như: phổ hồng ngoại, phương pháp chuẩn độ thể tích, phương pháp phổ tử
ngoại, chuẩn độ so màu, phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H – NMR.
2.3.2. Phân tử khối của chitosan:
Phân tử khối (PTK) của Chitosan phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên
liệu và phương pháp sản xuất nó. Khối lượng phân tử của chitin tự nhiên thường
lớn hơn 1.000.000 đvC trong khi các sản phẩm chitosan kỹ thuật giảm xuống từ
10.000 – 12.000 đvC. Trong quá trình điều chế Chitosan, các điều kiện khắc
nghiệt có thể dẫn đến việc cắt mạch phân tử Chitosan.
Nói chung, các yếu tố như độ oxi hoà tan, nhiệt độ cao và những tác động
biến dạng đều có thể gây ra sự cắt mạch sản phẩm Chitosan. Ở nhiệt độ cao >
280ºC sự phân huỷ nhiệt của Chitosan xảy ra và mạch Chitosan bị bẻ gãy rất
nhanh.
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
9
Khoá luận tốt nghiệp
Để xác định phân tử khối của Chitosan, người ta có thể sử dụng các
phương pháp khác nhau như: phương pháp sắc ký, tán xạ ánh sáng, phương
pháp đo độ nhớt… [5 ]
2.3.3. Tính tan của chitosan:
Chitosan không tan trong nước , trong dung dịch kiềm và các dung môi
Khoá luận tốt nghiệp
- Tốc độ phân tán các ion kim loại đến bề mặt Chitosan trong nhóm
axetylamino của chitin có hiệu ứng liên hợp p-л làm cho mật độ điện tử trên
nguyên tử nitơ của chitin giảm xuống và khả năng tạo liên kết phối trí với kim
loại giảm xuống.
N
C
CH3
H
O
Do đó, nếu hàm lượng nhóm amino cao, DA lớn thì phân tử chitosan sẽ
có khả năng tạo phức tốt với kim loại chuyển tiếp.
Khả năng tạo phức của chitosan với các kim loại chuyển tiếp đã được phát
hiện và nghiên cứu nhiều với các kim loại như Cu, Pb, Hg, Cr, Co, Fe, Zn, Cd…
Người ta đã lợi dụng tính chất này để loại bỏ các ion kim loại chuyển tiếp ra
khỏi nước.
Bên cạnh đó, do mật độ các nhóm amino cao trong mạch polyme,
chitosan đồng thời cũng là tác nhân đông tụ và keo tụ rất tốt. Các nhóm này có
thể tương tác với các chất tích điện âm như protêin, các chất rắn, các chất màu.
Khả năng khuếch tán của hợp chất màu lên Chitosan tương tự như đối với
Xenlulo. [5 ]
2.4. Ứng dụng Chitin và Chitosan trong xử lý môi trường [2,5 ]
Chitin và chitosan có nhiều ứng dụng trong thực tế, trong các lĩnh vực
như y học, thực phẩm, mỹ phẩm, công nghệ xử lý môi trường và các quy trình
công nghệ khác.
Có nhiều phương pháp khác để làm tăng độ bền cơ lý hoá cho hợp chất
chitosan như: phủ than hoạt tính lên chitosan… Ngoài ra, người ta có thể dùng
các vật liệu khác nhau: đất sét, muối alginate. Khả năng ứng dụng của vật liệu
này là đánh bẫy những vật liệu tồn tại trong nước như tế bào sống. Vì vậy, vật
liệu này được dùng để xử lý nước thải sẽ làm cho hiệu quả hấp phụ tăng lên rất
nhiều.
2.5: Ứng dụng của chitin và chitosan trong các lĩnh vực khác:
Các ứng dụng của chitin và chitosan trong y học bắt nguồn từ việc nghiên
cứu ảnh hưởng và đặc tính hóa học của lysozyl, enzyme có mặt trong cơ thể con
người dưới dạng dịch lỏng. Người ta cũng chứng minh được rằng chitosan có
khả năng hạn chế các fibroplasias làm lành các vết thương và làm tăng sự phát
triển của các tế bào, phân loại các tế bào. Chitin và các dẫn suất của nó còn được
làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sợi tổng hợp, ứng dụng trong các quá
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
12
Khoá luận tốt nghiệp
trình y học. Chitosan được phát hiện có tác dụng cầm máu tốt, do đó, các băng
gạc làm từ chitosan được dùng để điều trị ngoại khoa và bảo vệ vết thương.
Chitosan cũng được biết đến là chất có khả năng làm giảm cholesterol, các dạng
chitosan có tác dụng này bao gồm các tiểu phân, các dạng dung dịch được chuẩn
bị cho điều trị bằng đường uống.
Nhờ khả năng tạo phức và đông tụ cao, chitosan được ứng dụng rộng rãi
trong công nghiệp thực phẩm. Chitosan được dùng để loại bỏ các chất màu, các
chất rắn và các chất axit từ nước táo và nước cà rốt. Ngoài những tác dụng trên,
chitosan còn có tác dụng kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm do tính kháng
khuẩn, kháng nấm. Trong nông nghiệp chitosan được dùng làm chất kích thích
hạt nảy mầm chống bệnh tật và tăng năng suất cây trồng. Ngoài ra chitosan còn
khả năng hấp phụ của vật liệu thì người ta chế tạo vật liệu hấp phụ có kích thước
nhỏ. Tuy nhiên, khi kích thước vật liệu nhỏ thì quá trình lắng kéo dài làm ảnh
hưởng đến tốc độ của quá trình xử lý và đòi hỏi hệ thống có quy mô lớn. Giải
quyết vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu chế tạo nhựa trao đổi có từ tính ứng
dụng trong công nghệ xử lý nước, nước thải. Dưới tác dụng của từ trường các
hạt vật liệu hấp phụ sẽ lắng và tách ra khỏi dung dịch nhanh hơn, do vậy làm
tăng tốc độ quá trình xử lý, tái sinh vật liệu và giảm quy mô hệ thống [5 ].
Hình 2.1. Sơ đồ hệ thống xử lý nước bằng vật liệu hấp phụ có từ tính
Nhiều loại polyme tổng hợp đã được sử dụng làm vật liệu hấp phụ, tuy
nhiên, nhược điểm của các loại vật liệu này là tạo ra các monome khó phân huỷ,
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
14
Khoá luận tốt nghiệp
gây ô nhiễm thứ cấp cho môi trường. Xu hướng ngày nay người ta thay thế nhựa
tổng hợp bằng các polyme sinh học nhằm mục đích vừa tận dụng dược các
nguồn nguyên liệu có sẵn, rẻ tiền, không gây hại cho môi trường. Trong đó
Chitosan là vật liệu được chú ý nhiều nhất. Chitosan có cấu trúc và tính chất hoá
lý đặc biệt, hoạt tính cao và khả năng lựa chọn khá tốt đối với các lớp chất thơm
và kim loại nặng. Năm 2004 – 2005 nhóm nghiên cứu trường ĐH Khoa học tự
nhiên Hà Nội dã nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng vật liệu hấp phụ có từ tính xử
lý các chất ô nhiễm vô cơ khá hiệu quả.
Các vật liệu polyme mang từ tính có nhiều ứng dụng trong công nghệ sinh
học: kĩ thuật gen, phân lập tế bào, cố định enzym, tách AND. Đặc điểm từ tính
rất quan trọng đối với những polyme này. Do vậy, các nhà khoa học ngày càng
chú ý đến cải thiện tính chất của các vật liệu có từ tính.
Một trong những nhược điểm của vật liệu hấp phụ polyme tổng hợp là
tạo thành các monome khó phân huỷ, gây ô nhiễm thứ cấp cho môi trường. Xu
hướng ngày nay người ta thay thế nhựa tổng hợp bằng các polyme sinh học
nhằm mục đích vừa tận dụng được các nguồn nguyên liệu có sẵn, rẻ tiền, không
gây độc hại cho môi trường. Do đó, nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng đã
nghiên cứu cố định những hạt từ tính lên chitosan, vật liệu này được ứng dụng
trong khá nhiều lĩnh vực thực tế như: y học, công nghệ xử lý nước thải.
Young Kim và Kun Jai Lee đã nghiên cứu cố định oxyt sắt từ lên
chitosan, sau đó tạo liên kết ngang để tăng độ bền hoá lý. Vật liệu này được nhà
khoa học sử dụng trong việc xử lý nước thải sinh ra từ các nhà máy hạt nhân,
hay các thành phần nước thải có tính chất phóng xạ do chứa các ion kim loại
chuyển tiếp là sản phẩm của nhà máy năng lượng hạt nhân được tạo ra từ các
phản ứng phân hạch hạt nhân. (Ví dụ:
58
Co, 60Co, 54Mn, 51Cr, 59Fe, 63Ni, 65Zn…).
Hầu hết các ion kim loại này đều tham gia vào quá trình trao đổi ion do đó một
tác nhân trao đổi ion phù hợp cho quá trình công nghệ là khá cần thiết. Ở đây tác
giả đã sử dụng nhựa trao đổi ion có từ tính được tạo ra từ chitosan và oxyt sắt từ
được tạo liên kết ngang với glutaraldehyt.
Gregory L.Rorrer và Tzu-Yang Hsien cũng đã tổng hợp ra các hạt nhựa
chitosan có từ tính dùng cho việc tách ion Cd 2+ ra khỏi nước thải. Quá trình điều
chế các hạt nhựa chitosan xảy ra theo ba bước: ban đầu các hạt chitosan có từ
tính được tạo ra, sau đó tạo liên kết ngang và sấy khô để loại nước ra khỏi cấu
trúc xốp. Các hạt vật liệu này được sử dụng hấp phụ tách loại Cd 2+, hiệu suất
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
16
chitosan.
- Khảo sát các tính chất của vật liệu:
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
17
Khoá luận tốt nghiệp
+ Chụp TEM đánh giá độ phân tán của oxit sắt từ trên Chitosan
+ Khảo sát độ bền hoá học trong môi trường axit
- Thí nghiệm ứng dụng vật liệu xử lý phẩm màu hữu cơ:
+ Bước đầu thử nghiệm khả năng hấp phụ và giải hấp Alizarin vàng
của vật liệu
+ Khảo sát ảnh hưởng của các chất ô nhiễm khác: Cd2+, Thymol xanh
đến khả năng hấp phụ của vật liệu.
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
18
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM
2.1. Hoá chất, thiết bị và dụng cụ
2.1.1. Hoá chất
- Dung dịch CH3COOH 4% pha từ CH3COOH đặc 99,8%
- Chitosan dạng bột, màu trắng ngà
- Oxit sắt từ Nhật
- Glutaraldehyd 25%
sau đó đem đo độ hấp phụ quang tại bước sóng 375 nm. Kết quả như bảng 2.1:
Bảng 2.1: Số liệu đường chuẩn Alizarin
TT
C
(mg/l)
Abs
1
2
3
4
5
6
7
8
0
2
4
6
Khoá luận tốt nghiệp
Hình 2.3: Đường chuẩn Alizarin vàng
2.3.2. Xác định tải trọng hấp phụ
- Tính toán được nồng dộ trước và sau khi hấp phụ xác định tải trọng hấp
phụ theo công thức sau:
q=
Trong đó:
(C0 − C s )V
m
Co: nồng độ dung dịch đầu (mg/l)
Cs: nồng độ dung dịch sau hấp phụ (mg/l)
V : thể tích dung dịch sau hấp phụ (l)
m : khối lượng vật liệu (g)
- Xác định tải trọng hấp phụ cực đại theo phương trình Langmuir (đã trình
bày ở chương I)
2.4. Tổng hợp vật liệu hấp phụ
Hoà tan 50g Chitosan dạng bột vào 1l dung dịch CH3COOH 4% (tạo
thành dung dịch Chitosan 50g/l). Khuấy hỗn hợp bằng máy khuấy cơ học đồng
thời thêm từ từ 12,5g sắt từ oxit đã được tinh tuyển vào hỗn hợp và khuấy trong
6h tốc dộ 200 vòng /phút. Nhỏ dung dịch NaOH 2M vào hỗn hợp, khuấy liên tục
cho đến khi kết tủa hoàn toàn. Vật liệu thu được đem rửa bằng nước cất đến pH
= 7 – 8. Chia vật liệu làm 2 phần:
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
21
Khuấy
5h
Khô tự
nhiên
M2
Sấy
khô
40o
Nhỏ
giọt
NaOH
2M
Khô tự
nhiên
Lọc rửa
pH = 7 – 8
Hạt
chitosan/Fe3O4
trung tính
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
M5
sắt từ
Độ phân tán của oxit sắt từ trong chitosan quyết định đến từ tính của vật
liệu. Do vậy để vật liệu có độ từ tính ổn định tiến hành khảo sát nồng độ dung
dịch chitosan để tìm ra nồng độ thích hợp cho việc phân tán oxit sắt từ.
Thí nghiệm như sau: Pha các dung dịch chitosan có các nồng độ khác
nhau, sau đó thêm oxit sắt từ vào khuấy ở thời gian khác nhau. Tiếp tục để yên
hỗn hợp huyền phù quan sát hiện tượng và xác định thời gian tách pha. Kết quả
như sau:
Bảng 3.1: Khảo sát độ phân tán của oxit sắt từ trong chitosan
DD chitosan (g/l)
Tg khuấy (h)
Tg tách pha (h)
10
3
5
20
3
5
30
4
7
50
6
36
70
chitosan. Trên ảnh xuất hiện một số vùng màu đậm hơn nguyên nhân có thể do
kích thước oxit sắt từ không đồng đều (kích thước hạt oxit sắt từ vùng này lớn
hơn các vùng khác). Kết quả này cho thấy rằng kích thước hạt oxit sắt từ càng
nhỏ thì phân tán càng đồng đều.
3.1.3: Khảo sát độ bền của vật liệu trong môi trường axit:
Vật liệu khi ứng dụng để xử lý nước yêu cầu phải có độ bền cao trong các
môi trường. Để khảo sát độ bền của vật liệu trong môi trường axit tiến hành thí
SV: Đặng Thị Lan Anh - MT801
24
Khoá luận tốt nghiệp
nghiệm như sau: Cho 1g vật liệu vào bình nón có chứa 100ml dung dịch H 2SO4
1M (pH = 1), khuấy sau 3h lọc lấy dung dịch đem đo độ đục trên máy 2100N TURBIDIMETER. Kết quả thu được như sau:
Bảng 3.2: Độ bền của vật liệu trong môi trường axit
Vật liệu
Độ đục
(Ntu)
M1
M2
M3
M4
M5