Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
Lời cảm ơn
Trong thời gian làm đồ án tốt nghiệp, em đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo nhiệt tình của thầy cô, bạn
bè và gia đình.
Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS. Trần
Thị Mai - Trường ĐHDL Hải Phòng đã định hướng, chỉ bảo và
giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn
môi trường, trường Đại học Dân Lập Hải Phòng đã cung cấp kiến
thức giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá
luận.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã
luôn luôn tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt
quá trình học tập vừa qua.
Mặc dù đã cố gắng hết mình nhưng do thời gian và trình độ
bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận của em chắc chắn còn
nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và
bạn bè.
Hải Phòng, ngày 06 tháng 07 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Hoài Thu
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
1
Cát bà nhanh chóng trở thành một khu du lịch lớn nhất miền bắc. Nếu năm 2003
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
2
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
mới chỉ có 250 ngàn du khách đến Cát Bà thì năm 2007 đã có hơn 650 ngàn du
khách.
Chỉ trong vòng 5 năm tới, Cát Bà sẽ nhanh chóng trở thành trung tâm du
lịch quốc gia vì Cát bà là trung tâm du lịch cho cả miền bắc, Vân Nam, Quảng
Tây và Quảng Đông Trung Quốc với hơn 300 triệu dân.
Từ các điều kiện thuận lợi đó em chọn nghiên cứu đề tài khoá luận “Đánh
giá tác động môi trường dự án xây dựng khu dịch vụ du lịch và khu biệt thự nghỉ
dưỡng tại Cát Bà - Hải Phòng”.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
3
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
I.TỔNG QUAN
Trường ĐHDL Hải Phòng
Khí hậu khu vực dự án mang những nét đặc trưng khí hậu của vùng biển.
Đảo Cát Bà nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng
trực tiếp của khí hậu Đại dương. Gió mùa Tây Nam về mùa hạ và gió mùa Đông
Bắc về mùa Đông, nhìn chung là thuận lợi, ít khắc nghiệt hơn các vùng có vĩ độ
ở đất liền. Khí hậu trong khu vực chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.
Mùa mưa thường trùng với mùa hạ, kéo dài 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 6, mùa
khô trùng với mùa đông kéo dài từ tháng 7 đến tháng 4 năm sau. Sau đây là một
số đặc trưng khí hậu trong vùng.
+ Bức xạ mặt trời, mây và nắng
Bức xạ mặt trời là phạm vi đồng nhất trên phạm vi lớn do vây các đặc
trưng bức xạ mặt trời tại trạm Phù Liễn có thể coi số liệu đặc trưng của Cát Bà
Tổng lượng bức xạ cả năm đạt 77-78 kcal/cm3.
Mây là tập hợp các hạt nước với kích cỡ khác nhau tồn tại trong khí
quyển. Hàng năm lượng mây trên khu vực rất lớn chiếm 66-76% bầu trời. Tập
trung lượng mây vào các tháng cuối Đông đầu Xuân rất lớn lớn nhất rơi vào
tháng III. Thời kỳ nhiều mây thường vào hai tháng từ tháng III đến tháng VIII
Nắng hàng năm có khoảng 1650 - 1750 giờ, các tháng mùa hè có khoảng
160-220 giờ các tháng đầu Xuân chỉ 50-60 giờ, các tháng cuối Đông đầu Xuân
chỉ còn7-20 %
Bảng 1.1 : Số giờ nắng trung bình tháng và năm tại trạm Cát Bà (h)[5]
Trung
Số giờ nắng trung bình các tháng trong năm (h)
Trạm
T1
+ Nhiệt độ:
Nhiệt độ không khí gọi tắt là nhiệt độ là một trong những yếu tố tự nhiên
ảnh hưởng đến quá trình phát tán các chất ô nhiễm trong khí quyển, ảnh hưởng
đến quá trình bay hơi của các loại nhiên liệu đốt và khí hoá lỏng; ảnh hưởng đến
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
5
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể… Vì vậy, việc nghiên cứu chế độ nhiệt là việc
cần thiết.
Nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động từ 16, 5 đến 17,3 0C.
Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23,0-24,0 0C.
Mùa hè. Tháng nóng nhất : 28-26,5 0C ( tháng 7, 8).
Mùa đông. Tháng lạnh nhất : 16-17 0C ( tháng 1, 2).
Nhiệt độ trung bình nước biển lớp bề mặt thường cao hơn nhiệt độ không
khí trung bình khoảng 1-2 0C
Bảng 1.2 : Nhiệt độ trung bình tháng và năm tại trạm Cát Bà (0C)[5]
Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (0C)
Trạm
Cát Bà
T1
T2
biển lớp mặt các tháng này đạt khá cao dao động từ 27- 31 0C, nhiệt độ cao nhất
đo được là 34,3 0C.
+ Độ ẩm không khí.
Độ ẩm không khí gọi tắt là độ ẩm. Độ ẩm được thể hiện qua nhiều đặc
trưng khác nhau, ở đây nêu ra đặc trưng thường được sử dụng:
Độ ẩm tương đối (ĐATĐ) trung bình hàng năm giữa các khu vực khác
nhau không nhiều chỉ khoảng 2-4% nhưng trị số trung bình tháng đều cao.
ĐATĐ trong thời kỳ ẩm ướt nhất trong năm từ tháng II -IV trung bình các tháng
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
6
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
có thể xuống dưới 80% còn lại đều trên 80%, Từ tháng II đến tháng VIII thậm
chí còn cao hơn 85% . Có thể nói đây là khu vực thuộc loại ẩm ướt nhất nước ta.
Độ ẩm tương đối cực đại là tháng VIII (60,6%) và tháng X (87,3%).
Độ ẩm tương đối cực tiểu là tháng XI (80%) và tháng XII (83,4%).
Độ ẩm cũng như nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố tự nhiên
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển hoá và phát tán các chất ô nhiễm trong
khí quyển, đến quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể và sức khoẻ con người lao
động.
Bảng 1.3: Độ ẩm trung bình tháng và năm tại trạm Cát Bà (%)[6]
Trung
Độ ẩm trung bình các tháng trong năm (%)
Trạm
76,7 84,6 86,7 86,0 84,0 85,6 84,0 84,7 84,0 80,2 77,2 78,8
83,1
+ Mưa
Chế độ mưa tại Cát Bà kéo dài khoảng 5 tháng từ tháng 05 đến tháng 7
hàng năm
Lượng mưa hàng năm trên toàn khu vực biến đổi từ khoảng 1.600 mm
phía Tây Nam đến 2.200mm thuộc vùng núi phía Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng
Ninh. Tổng lượng mưa của khu vực Cát Bà cả năm đạt tới 1700 - 1800 mm,
được chia ra làm 2 mùa. Mùa mưa kéo dài từ tháng IV đến tháng X với tổng
lượng mưa là 80% so với cả năm. Mùa khô kéo dài từ tháng XI đến tháng IV
năm sau, lượng mưa là 200mm - 550mm. Một năm, lượng mưa lớn nhất vào các
tháng VIII và tháng IX, .
Số ngày mưa khoảng 60 - 70 ngày mưa một năm
Lượng mưa cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng không khí. Khi mưa sẽ
cuốn theo lượng bụi và các chất ô nhiễm có trong khí quyển cũng như các chất ô
nhiễm trên mặt đất.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
7
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
+ Gió
Gió mùa được thể hiện 4 tháng tiêu biểu trong năm là I,IV,VII,X
T2
T3
T4
T5
T6 T7
T8
T6
T7
T8
T6 bình năm
3,3 3,3 3,4 3,8
4,0 3,6 3,7 3,3
3,4 3,7 3,7 3,5
3,6
Cát Hải 3.6 3.6 3.6 3.1
T2
T3
T4
T5
T6 T7
T8
T6
T7
T8
T6 bình năm
Cát Bà
54,7
34,5
31,6
38,8
đầu từ giữa mùa hè. Tháng có dông phát triển mạnh nhất là hai tháng VII và
VIII. Dông được xem như là một hiện tượng điện khí quyển. Dông gắn với sét
có thể gây hoạ với con người, công trình và nhiều loại thiết bị điện, điện tử và
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
9
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
dông còn liên quan đến sự phát triển của mây và mưa cường độ lớn, đến lốc
xoáy .v.v . Ảnh hưởng đến lật tầu thuyền trên biển và tại nơi neo đậu.
+ Đặc điểm thuỷ văn
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy văn biển.
Mức nước thuỷ triều cao nhất TB:
+1,7 m.
Mực nước thủy triều thấp nhất TB:
- 0.13m.
Cao độ thủy triều lớn nhất:
2,4m.
+ Chế độ thuỷ triều
nhất vào tháng VII, IX độ cao h= 5,6 m ; Độ dài sóng 27 m hướng Nam; chu kỳ
sóng 8s
+ Độ mặn nước Biển
Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV là lúc hoạt động mạnh của gió mùa
Đông Bắc. Độ mặn của lớp nước bề mặt trung bình các tháng biến đổi từ 20- 30
0
/00.( điểm đo Cát Hải ), 34 0/00 ( điểm đo Cát Bà )
Mùa mưa từ tháng V- X là lúc ảnh hưởng mạnh của gió mùa Tây Nam,
mùa mưa nhiều, độ mặn giảm đi đáng kể. Độ mặn của lớp nước bề mặt trung
bình các tháng biến đổi từ 7- 21 0/00. ( điểm đo Cát Hải ), dưới 28 0/00 ( điểm đo
Cát Bà ).
Độ mặn cao nhất đo được 28,7 0/00 ( điểm đo Cát Hải ), 260/00 ( điểm đo
Cát Bà ). Độ mặn nhỏ nhất đo được 4,8 0/00 ( điểm đo Cát Hải ), 22,8 0/00 ( điểm
đo Cát Bà ).
+ Độ pH nước biển
Tại vùng biển Cát Bà Độ pH có chỉ số khá cao và ít biến động độ pH
trung bình 7.88 - 8.0 cao nhất 8.34 thấp nhất 7.66.
Độ trong, độ đục
Độ trong xác định bằng thước đo độ trong. Độ trong trung bình từ 66- 60
cm cao nhất 60 cm, thấp nhất 50- 80 cm, Độ trong biến theo mùa, mùa khô độ
trong lớn và ít biến đổi, mùa mưa độ trong nhỏ và biến đổi nhiều hơn.
Độ đục xét 2 thời kỳ đo vào tháng III và VII.
Khí hậu là yêú tố không thể thiếu đối với quy hoạch công trình trong tính
toán kết cấu, để quyết định kiến trúc nhiệt đới, công việc chống nắng hay chống
lạnh. Để bảo đảm tiện nghi nhiệt cho người làm việc cần chống nắng hay chống
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
Hệ sinh thái biển và ven biển của huyện đảo: Hệ sinh vật phù du trong
nước biển với 135 loài thực vật phù du với sinh khối 1.000.000 tế bào/m 3; 51
loài động vật phù du sinh khối vào khoảng 50 mg/m 3 (mùa khô) - 70mg/m3 (mùa
mưa).
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
12
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
Biển phía Đông Nam Cát Bà có 350ha san hô (cụm đảo Đầu Bê, Long
Châu) với 160 loài có điều kiện dạng phân bố với một độ cao ở độ sâu 4-6m (có
mật độ phủ 40- 70% với 50 tập đoàn /m 2), ở độ sâu 18m mật độ phủ thưa hơn
(có mật độ phủ 7% với 18-25 tập đoàn /m2).
Cùng với các tập đoàn san hô còn có 27 loài cá có giá trị tạo cảnh cộng
sinh tạo ra một sinh cảnh ngầm dưới biển đa dạng, hấp dẫn.
Kết quả điều tra nguồn lợi ngư trường có 300 loài cá, 500 loài thân mềm
và giáp xác
Hệ sinh thái núi đá vôi, bìa rừng quốc gia Cát Bà: Mang tính chất nhiệt
đới điển hình nhiều tầng mặc dù độ phủ thấp và cấu trúc thảm thực vật đơn điệu.
Cấu trúc khu hệ bao gồm: Động vật hoang dã (chim, thú, bò sát, côn trùng….);
các quần thể thực vật tạo thực bì: quần thể cây bụi chịu hạn thường xanh, trảng
cỏ, không điển hình, quần hợp cây trồng phủ xanh (bạch đàn, thông, phi lao…),
quần hợp cây ăn quả, quần hợp cây công nghiệp (mía, đậu, lạc) ngũ cốc và hoa
màu.
Cát Bà là nơi có những cánh rừng nguyên sinh với những thảm thực vật
cỏc doanh nghip trong c nc, nhn thc v mụi trng v phỏt trin bn vng
c nõng cao trong mi tng lp nhõn dõn, gúp phn a ý thc bo v mụi
trng vo trong cuc sng.Vic tin hnh cú kt qu cụng tỏc TM ó khng
nh vai trũ qun lý nh nc v bo v mụi trng ca trung ng v a
phng, l mt trong nhng hot ng trng tõm a lut bo v mụi trng ho
nhp vo s phỏt trin kinh t xó hi ca t nc.
1.2.1. S ra i v phỏt trin ca TM
1.2.1.1. TM cỏc nc trờn th gii.
TM ó cú t rt lõu, song vic tha nhn thỡ cũn rt mi m. Nm 1666,
nm thụng qua o lut chớnh sỏch mụi trng ca M l thi im ra i ca
TM. Trong đạo luật này có những điều quy định, yêu cầu phải tiến hành TM
các hoạt động lớn, quan trọng, có thể gây ra tác động đáng kể tới môi trờng.
Môi trờng đã đợc con ngời nhận thức từ lâu, nhng thuật ngữ môi trờng,
vấn đề môi trờng cũng mới chỉ đợc nhắc đến và đặt ra kể từ cuối nhng nm 60
u nhng nm 70 ca th k 20. Mt s thut ng c a ra liờn quan ti
quỏ trỡnh tuõn th o lut chớnh sỏch mụi trng ca M:
- Kim kờ hin trng mụi trng
- ỏnh giỏ tỏc ng mụi trng (TM)
- Tng trỡnh bỏo cỏo tỏc ng mụi trng
Trong o lut chớnh sỏch mụi trng ca M quy nh vn chớnh l ra
tuyờn b v chớnh sỏch mụi trng quc gia v thnh lp hi ng cht lng
Sinh viờn: Nguyn Hoi Thu
14
Khoỏ lun tt nghip
Trng HDL Hi Phũng
Sinh viờn: Nguyn Hoi Thu
15
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
song với bảo vệ môi trường. Công tác ĐTM đóng góp đáng kể cho việc xét
duyệt các dự án đầu tư, nhất là đầu tư xử lý của các cơ sở sản xuất đang hoạt
động.
Các công tác xây dựng văn bản pháp quy và hướng dẫn kỹ thuật về ĐTM
tuy còn thiếu nhưng bước đầu đáp ứng được yêu cầu của công tác lập và thẩm
định các báo cáo ĐTM. Bộ khoa học công nghệ và môi trường đã ban hành
nhiều thông tư và luôn có cải tiến để điều chỉnh thích nghi với tình hình và chủ
chương của nhà nước trong từng giai đoạn, đưa công tác ĐTM ở Việt Nam vào
nề nếp.
1.2.1.3 ĐTM tại trường ĐHDL Hải Phòng
Quá trình phát triển ĐTM và thực hiện Luật Bảo vệ Môi Trường cũng
được thất rất rõ tại Trường ĐHDL Hải Phòng. Nếu năm 1667, khi trường mới
được thành lập, công tác xây dựng bốn toà nhà cao tầng có sức phục vụ cho
6000÷7000 sinh viên cho học tập, không phải làm công tác ĐTM, thì sang năm
2008 khi chuẩn bị trình dự án đầu tư xây dựng khu 2 tại Minh Tân - Kiến Thuỵ Hải Phòng, nhà trường đã tổ chức ĐTM cho toàn bộ công trình. Toàn bộ giáo
viên của bộ môn Môi Trường đã được huy động vào công tác này trong một thời
gian và đến nay dã xong. Cùng với thiết kế quy hoạch tổng thể khu vực, báo cáo
ĐTM là một văn bản kèm theo, chứng minh và cam kết với các cấp chính quyền
về việc xây dựng một môi trường xanh, an sinh môi trường tốt, một môi trường
trong đó sự phát triển Khoa học Kỹ thuật song hành với sự giữ gìn một sự phát
triển bền vững.
VIỆT NAM.
Sự tham gia của cộng đồng trong các vấn đề môi trường nói chung và
trong quá trình ĐTM nói riêng đã được thế giới công nhận về vai trò và tầm
quan trọng. Trong bản tuyên ngôn RiodeJanairo(1662).Nguyên tắc thứ 7 đã
nhấn mạnh:
“ Các vấn đề môi trường sẽ được giải quyết một cách tốt nhất với sự tham
gia của tất cả những người dân liên quan ở cấp độ thích hợp. Tại cấp quốc gia,
mỗi cá nhân cần phải được tiếp cận những thông tin về các chất nguy hại, những
hoạt động diễn ra trong cộng đồng và cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết
định. Chính phủ trung ương phải xúc tiến và khuyến khích nhận thức và tham
gia của cộng đồng bằng cách công bố những thông tin cần thiết cho công chúng
tham gia hiệu quả vào các tiến trình luật pháp, hành chính, bao gồm việc đền bù
và điều chỉnh”
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
17
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
Thấm nhuần được vai trò của cộng đồng trong công tác ĐTM và cộng
cuộc BVMT, nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp pháp hoá quyền tham gia của
cộng đồng trong các văn bản pháp lý về BVMT, đồng thời áp dụng các quy
định, pháp lý đó vào thực tế. Kinh nghiệm toàn cầu cho thấy những thành công
đáng kể của cộng đồng khi tham gia BVMT.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
hàng năm, phải có phân tích sau dự án và dự án độc lập.
7. Trong TM phi xột n c kh nng thay th chng hn nh cụng
ngh, a im t d ỏn phi xem xột ht sc cn thn.
8. TM c coi l cụng c phc v phỏt trin, khuyn khớch phỏt trin
tt hn, tr giỳp cho tng trng kinh t.
Sinh viờn: Nguyn Hoi Thu
19
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
6.Trong nhiều trường hợp ĐTM chấp nhận sự phát thải kể cả phát thải khí
nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy,
nghĩa là chấp nhận phát triển kinh tế.
2.1.2 Ý nghĩa của ĐTM
- ĐTM khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn.Việc xem xét kỹ lưỡng
dự án và những dự án có khả năng thay thế từ công tác ĐTM sẽ giúp cho dự án
hoạt động có hiệu quả hơn.
- ĐTM tích kiệm được thời gian và tiền của trong thời hạn phát triển nâu
dài. Qua các nhân tố môi trường tổng hợp, được xem xét đến trong quá trình ra
quyết định trong giai đoạn quy hoạch mà các cơ sở và chính phủ tránh được
những chi phí không cần thiết, đôi khỉ tránh được những hoạt động sai lầm, phải
khắc phục trong tương lai.
- ĐTM giúp cho nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt
chẽ hơn. Đóng góp của cộng đồng trước khi dự án được đầu tư, hoạt động để
nâng cao mối liên hệ chặt chẽ cộng đồng và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Thực
hành phân tích để xác định tác động. Các tác động có thể
được phân loại dựa theo tính chất, phạm vi, mức độ cũng như đối tượng chụi tác
động. Nhưng muốn đánh giá được tác động ta phải đề cập tới vấn đề như sau:
- Tác động đó là tác động gì ? thuộc loại nào?
- Phạm vi tác đông .
- Mức độ tác động
- Khả năng tích luỹ tác động
Vậy nội dung của ĐTM là phải tìm ra các tác động và dự báo các tác động đó
lên môi trường và tìm biện pháp, giải pháp giảm nhẹ, khắc phục những tác động
có hại .
Ngày nay chúng ta duy trì sự phát triển mà vẫn bảo vệ môi trường. Nhiều
giải pháp công nghệ, kinh tế đang được áp dụng để giảm bớt lượng chất thải, xử
lý chất thải, giảm bớt và khắc phục hậu quả do dự án mang lại nhằm phát triển
bền vững.
2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐTM VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CÁC
CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG.
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, nhà nước phải sử dụng đồng
bộ nhiều công cụ cũng như phạm vi áp dụng khác nhau, nhưng có chung mục
đích là phát triển bền vững, chất lượng môi trường được duy trì và nâng
cao.Việc sử dụng công cụ ở các nước là không giống nhau, có thể công cụ áp
dụng ở nước này là hiệu quả nhưng ở nước khác lại kém hơn ở các nước khác
nhau thì khác nhau. Tuy nhiên có các công cụ quản lý môi trường sau :
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
21
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
22
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
- Quản lý tai biến môi trường : Hai đặc trưng cơ bản của tai biến cần chú
ý là:
Xảy ra bất thường tần suất thấp .
Hậu quả nặng nề.
- Giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức của nhân dân. Nâng cao ý thức
cho đông đảo nhân dân sẽ giúp họ có đóng góp có hiệu quả hơn vào công tác
ĐTM. Những ý kiến của nhân nhân xác đáng hơn, cơ sở khoa học hơn, giúp
người thực hiện ĐTM có thể điều chỉnh được những sai sót mắc phải trong quá
trình thực thi. Có thể giáo dục qua nhiều phương tiện thông tin đại chúng: truyền
hình, loa đài, sách báo,…
- Nghiên cứu và triển khai khoa học, công nghệ: thu được những kết quả
hết sức to lớn và được coi là cứu cánh với phát triển của loài người. Kiến thức
về phát triển khoa học, công nghệ rất cần thiết cho công tác ĐTM nắm vững
công tác này có khả năng phân tích được tác động của sản xuất tới môi trường.
Điều này giúp con người thay đổi được công nghệ lạc hậu bằng công nghệ tiên
tiến hơn.
- Công cụ kinh tế : đây là công cụ tổng hợp đảm bảo hoạt động sản xuất ở
mức tối ưu.
Kinh tế môi trường chỉ ra nguyên lý cơ bản của việc sử dụng tài nguyên
thiên nhiên, tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được, hướng tới
phát triển bền vững mà vẫn thu được lợi nhuận cao.
trực tiếp liên quan tới quá trình ĐTM.
Theo phương pháp này: Người ĐTM chọn ra một thông số liên quan tới
môi trường , liệt kê ra và cho các số liệu liên quan đến các thông số đó, chuyển
tới người ra quyết định xem xét. Bản thân người ĐTM không đi sâu, phân tích gì
thêm, dành cho người ra quyết định lựa chọn phương án theo cảm tính.
2.5.2 Phương pháp danh mục.
Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong ĐTM đặc biệt trong nghiên
cứu tác động, gồm các dạng sau:
2.5.2.1 Danh mục đơn giản
Trình bày bảng liệt kê các nhân tố môi trường phải đề cập. Bản chất danh
mục này được coi là ghi nhận, nó chưa nêu được những tác động nào sẽ xuất
hiện với các nhân tố này.
2.5.2.2 Danh mục mô tả.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Thu
24
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHDL Hải Phòng
Danh mục này ngoài liệt kê các nhân tố môi trường còn có thể cung cấp
thêm thông tin và hướng dẫn đánh giá tác động môi trường, nhưng chưa đưa
được tầm quan trọng của các tác động.
2.5.2.3 Danh mục câu hỏi.
Danh mục này bao gồm nhiều câu hỏi liên quan tới những khía cạnh môi
trường cần được đánh giá.
2.5.2.4 Danh mục có ghi mức độ tác động đến từng nhân tố môi trường.