LỜI CẢM ƠN
Để bài đồ án đạt kết quả tốt, trước hết em xin gửi lời chúc sức khỏe tới
toàn thể thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn
sâu sắc nhất. Với sự quan tâm dạy dỗ sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo, nay
em đã có thể hoàn thành đồ án tốt nghiệp, đề tài: “ Đánh giá thực trạng công
tác Quản Lý Nhà Nước về đất đai trên địa bàn TP.Hà Giang – Tỉnh Hà
Giang”. Để có được kết quả này em xin đặc biệt cảm ơn chân thành nhất tới Ths.
Nguyễn Lê Vinh đã quan tâm giúp đỡ, tận tình hướng dẫn em hoàn thành đồ án
trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn các cô, các chú cán bộ viên chức của phòng tài
nguyên Thành Phố Hà Giang đã tạo điều kiện cho em được làm việc, học hỏi
thêm kiến thức và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Với điều kiện thời gian có hạn bản thân em đã cố gắng học hỏi, nhưng
kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên thực tập, nên đồ án sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các
thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức,
kiến thức của mình. Em mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Sinh viên
Trần Thị Mai
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Ký hiệu
bảng
1
Bảng 3.1
2
Bảng 3.2
3
Bảng 3.3
4
Bảng 3.4
5
Bảng 3.5
6
Bảng 3.6
7
15
Bảng 3.15
16
Bảng 3.16
17
Bảng 3.17
18
Bảng 3.18
Tên bảng
Hiện trạng sử dụng đất Thành phố Hà giang – Tỉnh Hà
Giang năm 2014
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp Tp. Hà giang –
Tỉnh Hà Giang năm 2014
Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp Tp. Hà giang –
Tỉnh Hà Giang năm 2014
Biến động diện tích đất đai theo mục đích sử dụng
Kết quả cấp GCN của Tp.Hà Giang – Tỉnh Hà Giang
giai đoạn 2009 – 2014 đối với hộ gia đình, cá nhân
Kết quả cấp GCN đất sản xuất nông nghiệp Tp.Hà Giang
– Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2009 – 2014
Kết quả cấp GCN đất lâm nghiệp – Tp. Hà Giang – Tỉnh
Hà Giang giai đoạn 2009 – 2014 đối với HGĐ, CN
2014.
Hình 3.3. Kết quả cấp GCN Thành phố Hà Giang – Tỉnh Hà Giang giai đoạn
2009 – 2014.
Hình 3.4. Kết quả cấp GCN đất nông nghiệp Thành phố Hà Giang – Tỉnh Hà
Giang giai đoạn 2009 - 2014
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá và nằm trong nhóm tài nguyên hạn
chế của mỗi quốc gia. Nó là điều kiện không thể thiếu trong mọi quá trình phát
triển. Vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở không gian của mọi quá
trình sản xuất, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố
khu dân cư, xây dựng các công trình văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng.
Đất đai là điều kiện cần thiết để tồn tại và tái sản xuất và các thế hệ tiếp
theo của loài người. Do đó, đất đai phải dụng một cách hợp lý, triệt để và có hiệu
quả kinh tế cao nhất. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay áp lực đối với đất đai
càng lớn. Trong những năm gần đây thì cùng với sự gia tăng dân số, quá trình đô
thị hóa và công nghiêp hóa tăng nhanh đã làm cho nhu cầu sử dụng đất ngày một
tăng cao trong khi đó tài nguyên đất đai thì có hạn chính vì thế mà đã gây sức ép
rất lớn lên quỹ đất hiện có. Liên tục trong nhiều năm qua, câu chuyện đất đai
luôn là thời sự nóng với người dân cũng như với các nhà hoạch định chính sách.
Các hiện tượng tranh chấp đất đai xảy ra nhiều, vấn đề giao đất, cho thuê đất, lấn
chiếm đất đai, sử dụng đất đai sai mục đích, trái thẩm quyền diễn ra phổ biến;
việc sử dụng đất lãng phí, thiếu tính khoa học và thiếu đồng bộ xảy ra ở hầu hết
các địa phương. Do đó cần có những biện pháp giải quyết hợp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của các đối tượng trong quan hệ đất đai nên công tác
Quản lý Nhà nước về đất đai là hết sức quan trọng.
Được sự đồng ý của khoa Quản Lý Đất Đai, dưới sự hướng dẫn của Ths.
Nguyễn Lê Vinh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực trạng công
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa như sau: Đất đai
là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi
trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: Khí hậu bề mặt, thổ
nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (sông suối hồ, đầm lầy) các lớp trầm tích sát bề
mặt cùng với các mạch nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực
vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người
trong quá khứ và hiện tại để lại.
Như vậy đất đai là một khoảng không gian giới hạn theo chiều thẳng đứng
và theo chiều nằm ngang có vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt
động sản xuất cũng như trong cuộc sống của xã hội loài người.
b) Vai trò đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện
tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật trên trái đất.
Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình
công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, các công trình phúc lợi khác, các cánh đồng để
con người trồng trọt chăn nuôi…
Đất đai đóng vai trò quan trọng và quyết định cho sự tồn tại, phát triển của
loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất
nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người.
Luật đất đai năm 1993 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
ghi: “ Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
7
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…”
1.1.2. Quan niệm cơ bản của Đảng và Nhà nước về đất đai
a) Từ khi thành lập Đảng đến năm 1945
Những năm thập niên 20, đất nước ta bị kẻ thù thực dân Pháp xâm lược và
bè lũ bọn vua quan thối nát, đất nước ta chìm trong màn đêm nô lệ, đời sống của
ở Trung ương được thành lập ( ngày 3 tháng 7 năm 1958 ) thuộc Bộ Tài chính
với chức năng chủ yếu là quản lý diện tích ruộng đất để thu thuế nông nghiệp.
Ngày 05/5/1958 có Chỉ thị 334/TTg của Thủ tướng chính phủ cho tái lập hệ
thống địa chính trong Bộ Tài chính và UBND các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc
lập bản đồ giải thửa và hồ sơ địa chính.
Vào năm 1979 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định thành lập Tổng
cục Quản lý Ruộng đất thuộc Chính phủ và các cơ quan quản lý ruộng đất ở địa
phương trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp.
Giai đoạn 1980 – 1991 được mở đầu bằng Hiến Pháp 1980, trong đó đảm
bảo thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần kinh tế: Kinh
tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể.
Hiến pháp đã quy định toàn bộ đất đai và tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu
toàn dân được Nhà nước thống nhất quản lý bằng pháp luật và quy hoạch. Thủ
tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 về việc triển khai đo
đạc giải thửa nhằm nắm lại quỹ đất trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu quản lý và
sử dụng đất đai trong giai đoạn mới.
9
Đầu năm 1981, Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao
động trong hợp tác xã nông nghiệp. Tiếp theo, Đại hội Đảng khóaVI năm 1986
đã đưa vấn đề lương thực - thực phẩm trở thành một trong ba chương trình mục
tiêu đổi mới kinh tế. Năm 1987 Luật Đất đai lần đầu tiên của nước ta được ra
đời, có hiệu lực từ năm 1988. Dấu mốc tiếp theo có ý nghĩa quan trọng đối với
phát triển kinh tế nông nghiệp là Nghị Quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày
5/4/1989, một văn kiện quyết định nhằm đổi mới chế độ sử dụng đất nông
nghiệp. Nghị Quyết đã khẳng định việc chuyển nền nông nghiệp tự cung tự cấp
theo hướng sản xuất hàng hóa. Đây là những bước đi có tính then chốt nhằm
hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, chưa có đủ các
chế định cần thiết về định giá đất, về điều tiết địa tô chênh lệch, về điều tiết lợi
nhuận qua việc chuyển nhựơng quyền sử dụng đất, về bồi thường khi thu hồi đất,
về đấu thầu, đấu giá quyền sử dụng đất v.v…
Để khắc phục những thiếu sót nêu trên, thực hiện Nghị quyết số:
12/2001/QH11 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh cúa Quốc hội khóa XI
(2002 – 2007), tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đất đai
2003 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/07/2004. Luật đã khẳng định: “Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Vai trò của QLNN về đất đai được nâng lên một bậc, việc phân cấp quyền hạn,
chức năng QLNN của từng cấp được xác định rõ ràng hơn. Đất đai được quản lý
chặt chẽ và sử dụng hợp lý hơn, mang lại hiệu quả kinh tế hơn.
Đất đai là tài nguyên đặc biệt, trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên,
11
là tặng vật tự nhiên dành cho con người, tiếp đến mới là thành quả do tác động
khai phá của con người. Cái tính chất vô cùng đặc biệt của đất đai là ở chỗ tính
chất tự nhiên và tính chất xã hội đan quyện vào nhau; nếu không có nguồn gốc tự
nhiên, thì con người dù có tài giỏi đến đâu cũng không tự mình (dù là sức cá
nhân hay tập thể) tạo ra đất đai được. Con người có thể làm ra nhà máy, lâu đài,
công thự và sản xuất, chế tạo ra muôn nghìn thứ hàng hoá, sản phẩm, nhưng
không ai có thể sáng tạo ra đất đai. Do đó, quyền sở hữu, định đoạt, sử dụng đất
đai, dù Nhà nước hay người dân cũng cần phải hiểu đặc điểm, hết sức đặc biệt
ấy.
Đất đai quý giá còn bởi con người không thể làm nó sinh sản, nở thêm,
ngoài diện tích tự nhiên vốn có của quả đất. Khi chúng ta nói đất đai là hàng hoá,
dù có thêm hai chữ đặc biệt vào đó, thì cũng không lột tả được hết tính chất đặc
biệt của đất đai cả về phương diện tự nhiên cũng như xã hội. Vì thế, sự ứng xử
với vấn đề đất đai trong hoạt động quản lý không thể được đơn giản hoá, cả
- Bảo đảm sử dụng vốn đất hợp lý của nhà nước.
- Tăng cường hiệu quả kinh tế sử dụng đất.
- Bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sống.
b) Yêu cầu
Phải đăng ký thống kê đất để nhà nước nắm chắc được toàn bộ diện tích,
chất lượng đất đai ở mỗi đơn vị hành chính.
13
c) Nguyên tắc
Đối tượng quản lý đất đai là tài nguyên đất đai cho nên quản lý nhà nước
về đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản
lý lẻ tẻ từng vùng.
- Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
- Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng
phục vụ cho múc đích sử dụng của loại đó.
- Quản lý đất đai phải thể hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất
trong toàn quốc.
- Những quy định biểu mẫu phải được thống nhất trong cả nước, trong
ngành địa chính.
- Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất
so sánh trong cả nước.
- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước.
- Những điều kiện riêng biệt phải được tổng hợp ở phần phụ lục để nhà
nước đầu tư cái chung và cái riêng của mỗi vùng.
- Quản lý đất đai phải khách quan chính xác, đúng những kết quả số liệu
nhận được từ thực tế.
- Tài liệu quản lý đất đai phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng
- Quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất.
- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực
hiện các chế độ, thể lệ ấy.
15
- Giao đất và thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai.
- Giải quyết tranh chấp đất đai.
Luật Đất đai 1987 mới chỉ giải quyết mối quan hệ hành chính về đất đai
giữa Nhà nước (tư cách là chủ sở hữu) với người sử dụng đất. Do đó, nội dung
quản lý nhà nước về đất đai không có những nội dung về đánh giá đất, kinh tế
đất, cho thuê đất... Do không thừa nhận đất có giá nên Nhà nước nghiêm cấm
chuyển dịch đất đai dưới mọi hình thức. Những quy định này làm cho quan hệ
đất đai không được vận động theo hướng tích cực.
b) Luật Đất đai 1993
Ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993. Đây là một trong
những luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
Những kết quả đạt được trong việc thực hiện Luật Đất đai 1993 là tích cực, thúc
đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Luật Đất đai 1993
bao gồm:
- Điều tra, khao sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa
chính.
- Quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất.
- Ban hành các văn bản về đất đai và tổ chức thực hiện.
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử
- Thống kê, kiểm kê đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai.
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm
trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
d) Luật Đất đai 2013
Ra đời có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2014. Luật này chi tiết hơn và đưa
ra nhiều nội dung đổi mới. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai gồm 15 nội
dung được quy định tại Điều 22:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện văn bản đó.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính.
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và
bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây
dựng giá đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất.
18
hội có hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất có hiệu quả.
- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai (văn bảo
luật và dưới luật) tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đánh của các tổ
chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân trong những quan hệ về đất đai.
- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai như
chính sách giá, chính sách thuế, chính sách đầu tư ... Nhà nước kích thích các tổ
chức, các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm đất đai
nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của đất, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của cả nước và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thông qua việc kiểm tra, giảm sát quản lý và sử dụng đất, Nhà nước nắm
chắc tình hình sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi
phạm pháp luật về đất đai.
- Nhà nước thiết lập hệ thống quản lý nhà nước về đất đai thống nhất trong
cả nước. Mô hình này tạo được ổn định xã hội, xác lập được tính công bằng
trong hướng sử dụng đất và đảm bảo được nguồn lực đất đai cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1.Tình hình quản lý và sử dụng đất của một sô nước trên thế giới
a) Thụy Điển
Ở Thuỵ Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý
và sử dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Vì vậy, toàn bộ pháp
luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng giữa lợi
20
ích riêng của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước.
Bộ Luật đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại
hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ dất đai và hoạt động
của toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau.
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất,
Ở Trung Quốc hiện có 250 triệu hộ nông dân sử dụng trên 100 triệu ha đất
canh tác, bình quân khoảng 0,4ha/hộ gia đình. Vì vậy Nhà nước có chế độ bảo
hộ đặc biệt đất canh tác.
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục
đích sử dụng đất trưng dụng. Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10
lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng.
Tiêu chuẩn hỗ trợ định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng từ 4 đến 6 lần giá
trị sản lượng bình quân của đất canh tác/đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao
nhất không vượt quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm
trước đó. Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đề bù
đất trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng
vào mục đích khác.
c) Nước Pháp
Các chính sách quản lý đất đai ở Pháp được xây dựng trên một số nguyên
tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai và
hình thành các công cụ quản lý đất đai.
Nguyên tắc đầu tiên là phân biệt rõ ràng không gian công cộng và không
gian tư nhân. Không gian công cộng gồm đất đai, tài sản trên đất thuộc sở hữu
22
Nhà nước và tập thể địa phương. Tài sản công cộng được đảm bảo lợi ích công
cộng có đặc điểm là không thể chuyển nhượng, tức là không mua, bán được.
Không gian công cộng gồm các công sở, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá,
bảo tàng...
Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và đảm
bảo lợi ích song hành. Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng,
không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình. Chỉ có
lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường chỗ và trong trường
hợp đó, lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường một cách công bằng và tiên
quy hoạch vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển.
d) Nước Australia
Australia có lịch sử hình thành từ thuộc địa của Anh, nhờ vậy Australia có
được cơ sở và hệ thống pháp luật quản lý xã hội nói chung và quản lý đất đai nói
riêng từ rất sớm. Trong suốt quá trình lịch sử từ lúc là thuộc địa đến khi trở thành
quốc gia độc lập, pháp luật và chính sách đất đai của Australia mang tính kế thừa
và phát triển một cách liên tục, không có sự thay đổi và gián đoạn do sự thay đổi
về chính trị. Đây là điều kiện thuận lợi làm cho pháp luật và chính sách đất đai
phát triển nhất quán và ngày càng hoàn thiện, được xếp vào loại hàng đầu của
thế giới, vì pháp Luật Đất đai của Australia đã tập hợp và vận dụng được hàng
chục luật khác nhau của đất nước.
Luật Đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia là đất thuộc sở hữu
Nhà nước và đất thuộc sở hữu tư nhân. Australia công nhận Nhà nước và tư nhân
có quyền sở hữu đất đai và bất động sản trên mặt đất. Phạm vi sở hữu đất đai theo
24
luật định là tính từ tâm trái đất trở lên, nhưng thông thường Nhà nước có quyền
bảo tồn đất ở từng độ sâu nhất định, nơi có những mỏ khoáng sản quý như vàng,
bạc, thiếc, than, dầu mỏ…( theo sắc luật về đất đai khoáng sản năm 1993).
Luật đất đai Australia bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở
hữu đất đai. Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế
theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai. Tuy nhiên,
luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử dụng vào mục
đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và việc trưng thu dó gắn liền
với việc Nhà nước phải thực hiện bồi thường thoả đáng.
1.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất tại Việt Nam
Bất kỳ một quốc gia nào, nhà nước nào cũng có một quỹ đất nhất định
được giới hạn bởi biên giới quốc gia mà thiên nhiên ban tặng.Bất kỳ một nhà
nước nào , chế độ chính trị nào ở thời kỳ lịch sử nào cũng cần có đất. Đất đai là