Tiểu luận vai trò cuả qui luật giá trị trong phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay - Pdf 37

Lời mở đầu
Một xã hội có những chính sách về phát triển kinh tế ngày
một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đời sống tinh thần vật
chất tinh thần của con người trong xã hội đó ngày một ổn định,
phong phú, nhưng để có được một xã hội như vậy kh«ng tự
nhiên mà có. Thực tế, việc phát triển kinh tế là một việc vô cùng
khó khăn, đó là cuộc chạy đua sôi động giữa các nước trên thế
giới nhằm đạt được một vị trí cao hơn trên trường quốc tế. Muốn
thực hiên điều đó thì nhát quyết trong chính sách phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải được dựa trên một nền tảng cơ
sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy
luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và
trao đổi hàng hóa.Do đó mà ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng
hóa thì ở đó có sự xuát hiện của quy luật giá trị. Mọi hoạt động
của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều
chịu sự tác động của quy luật này. Quy luật giá trị là nguyên
nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì, phân hóa giàu
nghèo, những cuộc cạnh tranh không lành mạnh…Chính vì thế
chúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị, tìm hiểu vai trò và
tác động của nó tới nền kinh tế, đặc biệt là thời kì phát triển kinh
tế thị trường của nước ta hiện nay.
Nội dung chính của bài tiểu luận :
I/Vai trò của quy luật giá trị trong phát triển của kinh tế thị
trường Việt Nam.

1


II/Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện
tự do cạnh tranh và điểu kiện độc quyền.

trường.
Khi cung nhỏ hơn cầu, sản phẩm không đủ nhu cầu thỏa
mãn xã hội giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy với giá trị
cao, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất. Những người
trước đây sản xuất hàng hóa khác nay chuyển sang sản xuất
hàng hóa này. Như vậy tư liệu sản xuất và sức lao động được
chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác.
Khi cung lớn hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với
nhu cần xã hội, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa bán không chạy
có thể lỗ.Tình hình đó buộc người sản xuất ở ngành này thu hẹp
quy mô sản xuất hay chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu
sản xuất và sức lao động giảm bớt đi ở ngành này và phát triển ở
ngành khác mà họ thấy có lợi hơn.
Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá
cả trên thị trường. Sự biến động của giá cả trên thị trường cũng
có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả
cao, do đó làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt.
Như vậy, sự biến động của giá cả trên thị trường không
những chỉ rõ sự biết động về kinh tế,mà còn có tác động điều tiết
nền kinh tế hàng hóa.
Thứ hai : Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất,
tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát
triển.

3


Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa
là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Do điều kiện sản xuất khác nên hao phí

lao động cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không thống nhất
với lao động xã hội cần thiết.Những người có điều kiện sản xuất
thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt nên có
hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết, nhờ đó phát tài làm giàu, mua sắm thêm tư liệu sản xuất,
mở rộng thêm quy mô sản xuất, mở rộng doanh nghiệp của
mình. Bên cạnh đó những người không có điều kiện thuận lợi,
làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh có hao phí lao
động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết nên họ bị
lỗ vốn, thu hẹp sản xuất, thậm chí trở thành người nghèo, kéo
theo sự thất nghiệp tăng, tiền thuê nhân công giảm sút. Dẫn tới
việc phân hóa giàu nghèo càng sâu sắc giữa chủ và công nhân.
Như vậy quy luật giá trị có ý nghĩa bình tuyến, đánh giá người
sản xuất. Nó mang lại phần thưởng cho những người làm tốt,
làm giỏi và hình phạt cho những người kém cỏi. Về phương diện
này thì quy luật giá trị đảm bảo sự bình đẳng đối với người sản
xuất.
Tuy nhiên, ngay trong quá trình thực hiện bình tuyến tự
nhiên đối với người sản xuất, quy luật giá trị đã phân hóa người
sản xuất thành kẻ giàu người nghèo. Người giàu trở thành ông
chủ, người nghèo dần trở thành người làm thuê. Lịch sự phát
triển sản xuất hàng hóa giản đơn trong xã hội phong kiến dần
dần sinh ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan hệ giữa kẻ
giàu, người nghèo, quan hệ giữa chủ- thợ quan hệ giữa tư sảnvô sản là quan hệ đối kháng về lợi ích kinh tế, nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, nhà nước XHCN cần phải có sự điều
tiết để hạn chế sự phân hóa giàu nghèo.

5





phân hóa những người sản xuất nhỏ, phân hóa giàu nghèo, dẫn
đến bất công bằng trong xã hội. Từ đó thành nên mâu thuẫn giữa
hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
II/ Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều
kiện tự do cạnh tranh và điều kiện độc quyền
1.Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều
kiện tự do cạnh tranh.
Tự do cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản từ ngành này
sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (C và v )vào
các ngành sản xuất khác nhau nên hình thành tỉ suất lợi nhuận
khác nhau. Trong cạnh tranh có sự ganh đua đấu tranh về kinh tế
giữa những người sản xuất với nhau, giữa những người sản xuất
với những người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ nhằm giành được
những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có
sự khác nhau về điều kiện sản xuất nên chi phí lao động cá biệt
của sản xuất hàng hóa có sự khác nhau để giành được các điều
kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải cạnh
tranh nhau nhưng các điều kiện thuận lợi tỏng sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm luôn biến động nên cạnh tranh diễn ra liên tục. Do
đó trong tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biểu hiện thành
quy luật giá cả sản xuất.
Cạnh tranh là động lực, là sự ganh đua, sự đấu tranh về
kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất- kinh doanh với nhau
nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất- kinh
doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích
nhất cho mình. Cơ sở của cạnh tranh là chế độ sở hữu khác nhau
về tư liệu sản xuất và thời gian lao động xã hội cần thiết. Do sự

hình thành qua cạnh tranh. Và sự cạnh tranh sinh ra một thứ xã
hội giả tạo. Hiện tượng này phát sinh là do quy luật giá trị thị
trường. Ban đầu, giá cả thị trường hàng hóa này cao, cho lợi
8


nhuận cao đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp khác
tham gia dẫn đến sự cung ứng hàng hóa đó tăng lên trong khi
nhu cầu tăng chậm dẫn đến việc muốn bán được hàng hóa phải
giảm giá. Giá cả thị trường lại được điều chỉnh lại do sự cạnh
tranh của các doanh nghiệp.
“Với nền sản xuất hàng hóa, tức là sản xuất ra không
phải để tự mình tiêu thụ nữa mà là để trao đổi, mua bán trên thị
trường, thì những ngành sản xuất nhất định phải chuyển từ tay
người này sang tay ngươi khác. Trong lúc trao đổi người sản
xuất giao cho kẻ khác sản phẩm của mình, và không còn biết sản
phẩm đấy sẽ ra sao. Từ khi có tiền và cùng với tiền thì có
thương nhân đứng ra làm kẻ trung gian giữa những người sản
xuất. Quá trình trao đổi lại càng trở nên rối ren hơn, hàng hóa
không những chuyển từ tay người này sang tay người khác mà
còn chuyển từ thị trường này sang thị trường khác, sang nơi có
giá bán cao hơn nhằm thu lợi nhuận”
Ăng-ghen trong cuốn “ Nguồn gốc của chế độ tư hữu và Nhà
nước”.
Trong xã hội gồm những người sản xuất hàng hóa trao đổi
lẫn cho nhau, mà lại muốn quy định giá theo thời gian lao động
và ngăn cấm sự cạnh tranh, không được thực hiện việc quy định
giá theo thời gian lao động và ngăn cấm sự cạnh tranh, không
được thực hiện việc quy định giá trị như thể theo hình thức duy
nhất mà có sự quy định ấp có thể tiến hành, tức là bằng cách ảnh

do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản
xuất, thì trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá
trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền.
Độc quyền là một hình thái thị trường của nền kinh tế.
Độc quyền là quyền thu lợi nhuận siêu ngạch nhờ có quyền lực
kinh tế nào đó. Do có được quyền lực về kinh tế đó mà các nhà
độc quyền giữ vị trí thống trị trong sản xuất và lưu thông hàng
10


hoá, nên có thể không chỉ sủ dụng các phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư, cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả
sản xuất vẫn là những phạm trù kinh tế trong tự do cạnh tranh,
mà nó sử dụng phương pháp cưỡng bức siêu kinh tế để thu lợi
nhuận cao, lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận là một hình thức
biểu hiện của giá trị thặng dư hình thành trong giai đoạn độc
quyền, không phải chủ yếu do cải tiến kĩ thuật, mà chủ yếu do
địa vị thống trị của độc quyền thu được. Nguồn gốc và cơ cấu
lợi nhuận độc quyền là giá trị thặng dư của công nhân làm việc
trong các tổ chức độc quyền, một phần giá trị thặng dư của công
nhân làm việc ở các xí nghiệp ngoài độc quyền, một phần giá trị
mới do những người sản xuất nhỏ trong nước tạo ra. Với việc
hình thành lợi nhuận độc quyền, các tổ chức độc quyền không
hạn chế theo giá cả sản xuất mà bán theo giá cả độc quyền. Giá
cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc
quyền. Thông thường các tổ chức độc quyền bán hàng hoá với
giá cao hơn giá trị hàng hoá. Do nắm được vai trò độc quyền
trong một ngành sản xuất nhất định nên tập đoàn có thể tự ý
quyết định giá bán trên thị trường, nhờ đó mà thu được lợi
nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền bằng lợi nhuận bình

ngạch này là do giá cả độc quyền mà có sẽ chuyển thành địa tô
và dưới hình thái địa tô. Trong ngành sản xuất khác nhau, sự
bình quân hoá của giá trị thặng dư để hình thành lựo nhuận bình
quân vấp phải độc quyền nhân tạo và độc quyền tự nhiên, đặc
biệt là vấp phải độc quyền sở hữư ruộng đất khiến cho khả năng
tạo nên một giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất và cao hơn
giá trị cả hàng hoá do độc quyền chi phối thì những giới hạn do
giá trị hàng hoá quy định không vì thế mà bị thủ tiêu. Giá cả độc
quyền của những loại hàng hoá nào đó chỉ đem lại một phần lợi
nhuận cho các nhà sản xuất hàng hoá khác chuyển sang các hàng
hóa có giá độc quyền. Sự phân phối giá trị thặng dư giữa các
12


ngành sản xuất khác nhau sẽ gián tiếp bị rồi loạn một cách có
tính chất cục bộ nhưng giới hạn của bản thân giá trị thặng dư
không vì thế mà biến đổi. Nếu thứ hàng hoá có giá độc quyền đó
lại là hàng hoá tiêu dùng thiết yếu của công nhân thì nó sẽ dẫn
đến kết quả là nâng cao tiền công và giảm bớt giá trị thặng dư
với điều kiện là công nhân tiếp tục được trả công theo sức lao
động của mình. Nó có thể hạ thấp tiền lương xuống dưới giá trị
sức lao động nhưng chỉ có thể hạ thấp chừng nào tiền công vượt
quá giới hạn của mức sống tồi thiểu.
Cơ chế thị trường tự do cạnh tranh là cơ chế độc quyền tư
nhân đều có những mặt tích cực và tiêu cực. Khi trình độ xã hội
hoá của lực lượng sản xuất đã vượt khỏi giơi hạn điều tiết của cơ
chế thị trường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải được
bổ sung bằng sự điều tiết của Nhà nước.Cơ chế điều tiết kinh tế
của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sử dụng hợp cả ba
cơ chế: thị trường, độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status