Nhân vật nữ trong truyện ngắn của k pauxtôpxki - Pdf 37

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Nga thế kỉ XIX - XX là một nền văn học lớn, một tài sản
tinh thần vô giá của nhân loại. Trải qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử,
bao thử thách của thời gian và sự sàng lọc khắc nghiệt của nghệ thuật, nền
văn học của xứ sở bạch dương vẫn giữ nguyên được những giá trị nhân bản
sâu sắc và chiếm một vị trí to lớn trong lòng độc giả bao thế hệ. Pauxtôpxki
được biết đến như là một trong những cây bút văn xuôi xuất sắc đã góp một
phần lớn công sức làm nên những thành tựu rực rỡ của “thế kỉ bạc”. Ông
được gọi là “nhà nghệ sĩ bậc thầy”, người gom nhặt bụi quý cho văn học Xô
Viết, một trong số những nhà văn đại diện tiêu biểu nhất cho khuynh hướng
văn xuôi lãng mạn với phong cách trữ tình độc đáo.
1.2 Kônxtantin Ghêorghiêvich Pauxtôpxki (1892- 1968) đến với cuộc
đời giữa lúc xã hội Nga đang trong bầu không khí sục sôi của đêm trước cách
mạng tháng Mười. Ông trưởng thành trong thời kì nước Nga trải qua những
bước thăng trầm của cuộc nội chiến. Trong thế chiến thứ Hai, ông làm phóng
viên chiến trường của mặt trận phía Nam. Bằng tài năng, trí tuệ tuyệt vời, tâm
hồn nhạy cảm, thiết tha, cùng với những trải nghiệm thực tế cuộc sống đã
giúp Pauxtôpxki viết nên những trang văn giàu chất hiện thực nhưng cũng
đậm chất trữ tình, lãng mạn. Hơn nửa thế kỉ hoạt động trên nhiều lĩnh vực:
làm báo, viết văn, tham gia giảng dạy tại Học viện Gorki, Pauxtôpxki đã để
lại một khối lượng tác phẩm phong phú, đa dạng về thể loại: tiểu thuyết,
truyện vừa, tiểu luận, chân dung văn học, đặc biệt là những truyện ngắn nhẹ
nhàng, êm dịu, thánh thót và ngân vang làm rung động tâm hồn người đọc. Vì
những đóng góp nghệ thuật to lớn đó, ông đã được trao tặng huân chương Lao
động Cờ đỏ và huân chương Lao động Vinh quang. Nhưng trên hết,

1


Pauxtôpxki đã giành được sự yêu quý, mến mộ của bạn đọc, sự trân trọng,

truyện ngắn của Pauxtôpxki. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề
tài: “Nhân vật nữ trong truyện ngắn của K.Pauxtôpxki” để nghiên cứu
nhằm khẳng định hơn nữa những đóng góp to lớn của Pauxtôpxki cho nền văn
học Xô Viết, khám phá những nét riêng của ông khi xây dựng loại nhân vật
này, đồng thời thấy được vẻ đẹp tâm hồn, tấm lòng nhân đạo yêu đời và yêu
người tha thiết của nhà văn. Người viết nhận thấy đây là một vấn đề lớn, có
vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Pauxtôpxki nhưng chưa được
chú trọng tìm hiểu. Mạnh dạn khai thác đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ
đóng góp một phần nhỏ để hoàn thiện hơn việc tìm hiểu và nghiên cứu về nhà
văn Pauxtôpxki.
1.4 Mặt khác, việc lựa chọn và thực hiện đề tài này là cách giúp tôi
hoàn thiện hơn trong việc nghiên cứu khoa học. Qua đó, tôi tích lũy thêm
nhiều hơn nữa kiến thức văn học nước ngoài, rút ra những kinh nghiệm quý
báu nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy.
2. Lịch sử vấn đề
Pauxtôpxki là nhà văn lớn của dân tộc Nga. Với khuynh hướng lãng
mạn và phong cách trữ tình độc đáo, sáng tác của ông đã làm say mê và xúc
động tâm hồn người đọc. Do hạn chế về ngoại ngữ nên tài liệu tham khảo
tiếng Nga cũng hạn chế. Chúng tôi chỉ khai thác những tài liệu có liên quan ít
nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài.
Trong bài giới thiệu về tập tiểu luận “Một mình với mùa thu”, Phan
Hồng Giang có dẫn ra một vài ý kiến không thống nhất, trái ngược nhau khi
đánh giá về Pauxtôpxki. “Ia.Enxbéc,B.Xôlôviôp đã từng xổ toẹt không thương
tiếc nhiều tác phẩm của Pauxtôpxki, gán cho nó cái nhãn hiệu giả tạo, xa đời
sống thực tiễn. Những người điềm đạm hơn thì khuyên ông nên chuyển sang

3


viết như Flôbe, như ông này, ông nọ, cốt sao giấu được cái tôi đi trong những

cũng hiền hậu, dũng cảm, bình dị và trữ tình” [56, 146]. “Điều này có lẽ được
lí giải không chỉ bởi sự trinh bạch rất người, sự cao thượng và dũng cảm tự
nhiên của các nhân vật của ông, mà còn bởi lẽ nhà văn biết tạo nên một hoàn
cảnh không lặp lại, “bầu không khí” bao quanh nhân vật, cái hoàn cảnh mê
hồn, thiếu nó thì nhân vật không có da thịt và mờ nhạt”[56, 145]. Hơn thế,
ông còn nhấn mạnh trong tác phẩm của Pauxtôpxki “cả nhân vật và phong
cảnh đều mang khối diện tích đa cảm ấy của lòng nhân ái…Và điều đó cũng
là phẩm chất của một nhà văn lớn” [56, 146]. Trong vai trò của người thưởng
thức văn chương, Iuri Bônđarep tỏ ra vô cùng khâm phục tài năng của
Pauxtôpxki. Tác giả nhận thấy, qua các nhân vật, Pauxtôpxki đã “truyền đạt
một cách chính xác các cảm xúc của mình” bằng “một phong cách thật rành
rẽ, cô đọng và giản dị” [56, 146]. Bởi vậy, Iuri Bônđarep không ngần ngại
khẳng định: “Pauxtôpxki- nhà văn và Pauxtôpxki - con người không tách rời
nhau” [56, 147]. Ông còn hồ hởi kể chuyện về Pauxtôpxki. Không chỉ viết
văn, Pauxtôpxki còn tham gia giảng dạy, đào tạo các nhà văn trẻ, tham gia các
buổi thảo luận chuyên đề, nói chuyện văn chương ở các trường Đại học viết
văn ... Tất cả điều đó lắng đọng, kết tinh lại thành “vị muối trẻ trung” làm nên
sự bất diệt cho mỗi tác phẩm của Pauxtôpxki, để “những cuốn sách của
Pauxtôpxki vẫn tươi tắn, đầy nắng ấm, trong đấy cái lò xo của nghị lực trẻ
trung được nén chặt, những cuốn sách ấy tóe ra những tia lửa, chúng rung
động, trong đấy không có sự mệt mỏi” [56, 151].
Ở Việt Nam, Pauxtôpxki được độc giả nồng nhiệt đón nhận với tấm
lòng cảm phục và mến mộ. Từ những tác phẩm đầu tiên, với tâm hồn đồng
điệu, tấm lòng chân thành, các nhà nghiên cứu đã thể hiện sự cảm nhận tinh
tế, sâu sắc về cuộc đời và con người cũng như các tác phẩm truyện ngắn
của Pauxtôpxki.

5




ngoài cuộc sống chung”, vì thế họ bị coi là “những người tình cờ” đến sống
giữa thế gian này” [37, 6]. Nhưng không khí sôi nổi, xây dựng đất nước cuối
những năm 20, đầu những năm 30, đã giúp cho ngòi bút Pauxtôpxki đi đúng
hướng. Nhân vật trong tác phẩm của ông là “những con người giàu lòng tin ở
sức mạnh của chính mình và của tập thể- nhất là với lớp người mới xã hội
chủ nghĩa chúng ta” [37, 8]. Theo ông, “niềm vui của nhà văn chân chính là
niềm vui của người dẫn đường vào cái đẹp, của người biết đi tới tương lai,
nơi nhân dân dốc hết sức hi vọng của mình để vươn tới” [37, 10]. Tất cả điều
đó đã làm nên vẻ đẹp và giá trị cho các sáng tác của Pauxtôpxki. Trong giáo
trình “Văn học Xô Viết” (tập II - 1988), cùng với Đỗ Xuân Hà, giáo sư đã có
những lời nhận xét rất cụ thể về nhân vật trong truyện của Pauxtôpxki: “Các
nhân vật của ông, như trong “Truyện rừng” (1948) chẳng hạn, đều ước mơ
vươn tới cái đẹp cái thiện” [10, 19]. Sau này, trong bài “K.Pauxtôpxki - người
dẫn đường đến cái đẹp” [11, 273], giáo sư Nguyễn Hải Hà giới thiệu về cuộc
đời và sự nghiệp của nhà văn Pauxtôpxki. Giáo sư còn cảm nhận được tình
yêu thương, sự trân trọng của Pauxtôpxki dành cho con người nói chung và
người phụ nữ nói riêng khi tác giả nhấn mạnh: “trung tâm chú ý của
Pauxtôpxki vẫn là con người” [11, 279]. Tác giả còn chỉ rõ: trong tác phẩm
“Kara Buga” bên cạnh vẻ “hoang vu là những hủ tục man rợ, những luật lệ
hà khắc đối với phụ nữ” [11, 280] để nhằm tố cáo và thức tỉnh con người.
Không những vậy trong bài viết, giáo sư Nguyễn Hải Hà còn nói rất nhiều về
tình yêu thiên nhiên của Pauxtôpxki. “Pauxtôpxki cho rằng phong cảnh thiên
nhiên phải tồn tại trong văn xuôi như một nhân vật chứ không chỉ như cái
nền của câu chuyện, nếu không, sự vật được miêu tả sẽ rất phẳng lặng” [11,
288] và phải để “vẻ đẹp của thiên nhiên ấy trở thành vẻ đẹp của tấm lòng con
người, vẻ đẹp của chính con người”. Cuối cùng, giáo sư khẳng định
“Pauxtôpxki là nhà văn của những chân trời xa” [11, 289].

7

8


với nghề văn theo quy luật của tình yêu” [41, 340]. Và không biết tự lúc nào,
người Việt Nam lại yêu thích văn chương Pauxtôpxki đến vậy. Họ “hướng về
ông như hướng về nơi trú ngụ bình yên của lòng người” [41, 348]. Với những
thành công to lớn đó, Pauxtôpxki đã góp phần “trả lại cho văn học Nga
những giá trị mà nó phải có, những giá trị mà nó đáng tự hào”. Nhưng có lẽ
theo Phan Hồng Giang, thành công lớn nhất của Pauxtôpxki là “ông đã dành
được cái khó nhất ấy là tình yêu vô hạn của những con người bình thường”
[41, 349].
Đặng Thị Hảo trong cuốn “Từ điển văn học” (Tập 2, Nxb Khoa học xã
hội, H.1983 – 1984) có bài viết khá dài về Pauxtôpxki. Trong bài viết, tác giả
có những nhận định khá chuẩn xác và đầy đủ về nghệ thuật truyện ngắn của
ông nói chung và về nhân vật nói riêng. Tác giả cho biết: “Trong các truyện
“Những người lãng mạn”, “những đám mây lấp lánh”… nhân vật chủ yếu
được tạo dựng do óc tưởng tượng lãng mạn của tác giả, chứ chưa phải là
những con người có thực trong cuộc sống” [30, 172]. Bởi lúc đó, Pauxtôpxki
“đặt cuốn sách lên trên cuộc đời chứ không phải đặt cuộc đời trên cuốn sách”
[30, 172]. Từ nửa sau những năm 30, truyện của Pauxtôpxki “thường được
bắt đầu từ những điều rất nhỏ trong đời sống ...”. “Người ta không thấy
những xung đột phức tạp hay những nhân vật mang cá tính độc đáo, tuân thủ
một diễn biến với đầy đủ các khâu: thắt, điểm đỉnh, mở …”. Ngược lại, “các
yếu tố như tình tiết, sự kiện, nhân vật thường được triển khai theo mạch vận
động của cảm xúc và tư tưởng” [30, 173]. Vì vậy, truyện ngắn của Pauxtôpxki
“thấm vào hồn người một cách nhẹ nhàng, tinh tế và rồi cứ sau mỗi câu
chuyện người đọc lại tìm thấy một niềm vui nho nhỏ, một chút thanh thản
trong tâm hồn” [30, 173].
Chỉ hai ngày sau khi Pauxtôpxki mất, với tấm lòng kính trọng và cảm
phục, Trần Thiện Đạo đã có một bài viết về ông. Sau này, bài viết ấy được

trong truyện ngắn của Pauxtôpxki.
- Tìm hiểu cách miêu tả vẻ đẹp nội tâm nhân vật nữ trong truyện ngắn
của Pauxtôpxki.

11


- Tìm hiểu nhân vật nữ trong không - thời gian nghệ thuật
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề nhân vật nữ trong truyện ngắn của
Pauxtôpxki.
b. Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong các tác phẩm truyện ngắn đã
được dịch ra tiếng Việt của ông ở Việt Nam. Những tác phẩm chúng tôi phân
tích và tìm hiểu được in trong các tập truyện ngắn:
- “Cô giá làm ren” (1958), Nxb Thanh niên, Hà Nội (Từ Bích Hoàng dịch)
- “Truyện ngắn” (1962), Nxb Văn hóa, Hà Nội (Vũ Thư Hiên dịch).
- “Chiếc nhẫn bằng thép” (1973), Nxb Kim Đồng, Hà Nội (Nguyễn
Thụy ứng, Vũ Quỳnh dịch).
- “Sương giá ban mai” (1982), (ảo ảnh trên đảo Vaxiliep- Tập truyện
ngắn Lêningrat), Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
(Hoàng Anh, Nguyễn Tuấn dịch)
- “Bông hồng vàng và bình minh mưa” (2007), Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội (Kim Ân, Mộng Quỳnh dịch).
c. Phương pháp nghiên cứu: Ngoài vận dụng thành tựu của lý luận
văn học, thi pháp học và tự sự học làm cơ sở để nghiên cứu đề tài, chúng tôi
còn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
5. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham

Pauxtôpxki cho rằng, văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống,
viết những điều có ý nghĩa với cuộc sống, không cầu kỳ trau chuốt mà
phải thật giản dị. Chỉ khi nào, văn chương là tiếng nói của cuộc sống, thì
khi đó, tác phẩm của nhà văn mới có giá trị. Pauxtôpxki rất thấm thía và
hiểu sâu sắc điều đó. Vì thế, trong cuộc đời chìm nổi của mình, nhà văn

13


đã đi nhiều nơi, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều người. Tất cả điều đó
đều được Pauxtôpxki phản ánh rất chân thực trong tác phẩm văn chương
đặc biệt là truyện ngắn.
“Trung tâm chú ý của Pauxtôpxki vẫn là con người” [11, 279]. Những
con người thực trong cuộc sống luôn là nguồn cảm hứng trong các sáng tác
của nhà văn. Pauxtôpxki ít viết về những người phụ nữ nổi tiếng, phi thường,
những kiệt nữ, giai nhân. Ông thường viết về những người phụ nữ bình
thường của cuộc sống đời thường hết sức quen thuộc và giản dị. “Các nhân
vật của Pauxtôpxki bao giờ cũng hiền hậu, dũng cảm, bình dị và trữ tình” [56,
146], “đều ước mơ vươn tới cái đẹp cái thiện” [10, 19]. Nhà văn còn nhìn phụ
nữ ở những tọa độ rộng hơn, mang tầm bao quát hơn. Nếu như trong các
truyện ngắn của mình, Aitmatôp thường hay miêu tả những người phụ nữ của
núi đồi thảo nguyên gắn liền với hình ảnh ngọn lửa, bếp lò và mái ấm, thì
Pauxtôpxki lại hoàn toàn ngược lại. Nhân vật nữ của ông không chỉ là người
phụ nữ của gia đình, mà còn là người phụ nữ của xã hội, của công chúng.
Khảo sát 32 truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy các nhân vật phụ nữ của
Pauxtôpxki dù ở lứa tuổi nào, nghề nghiệp nào, dù ở những vùng miền rất
khác nhau, nhưng tất cả họ đều là những người bình thường.
Trước tiên, nhân vật nữ trong truyện ngắn của Pauxtôpxki là những
người bình thường về vị trí xã hội. Họ xuất hiện trong nhiều ngành nghề,
nhiều vị trí khác nhau: nông dân, trí thức hay nghệ sĩ … Dù ở cương vị, lĩnh

xin bác Gơ-lep con nhái đem về nuôi. Cuối cùng, con nhái trả ơn cô chủ nhỏ
tốt bụng của mình bằng cách gọi mưa về giúp bà con nông trường thoát khỏi
hạn hán. Còn Ma-sa rất thích thú khi được chú công an cho con chim sẻ Pasơ-ca. Em đem Pa-sơ-ca về nhà, “lấy bàn chải chải lông cho nó, cho nó ăn
rồi thả ra” [36, 123]. Con chim sẻ đã trả ơn cô bé bằng cách chiến đấu với
con quạ để giành lại cành hoa thủy tinh cho mẹ Masa. Với lời kể khách quan
vô cùng tài năng, kết hợp với trí tưởng tượng phong phú, Pauxtôpxki như dẫn

15


người đọc vào thế giới cổ tích của những cô Tấm, nàng tiên. Và Tanhia, Masa thực sự là những cô Tấm, nàng tiên nhưng trong cuộc sống đời thường.
Trong chiến tranh cũng như trong thời bình, đất nước rất cần đến bàn
tay, khối óc của lực lượng thanh niên - những con người khỏe về thể chất, trẻ
trung về tâm hồn, có tài năng, trí tuệ, lòng tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ.
Bởi vậy, khi khắc họa chân dung các nhân vật nữ, Pauxtôpxki không quên
biểu dương những đóng góp tuy nhỏ bé nhưng có ý nghĩa cao đẹp của họ.
Nhà văn thường xây dựng chân dung nhân vật nữ vận động theo thái độ, cảm
xúc, tình cảm : từ hoài nghi, băn khoăn đến hi vọng và tin tưởng. Lúc đầu, họ
xuất hiện mờ nhạt, dần dần về sau, chân dung nhân vật hiện lên rõ nét và cụ
thể hơn. Các nhân vật nữ của ông đều có thể tự tìm hiểu chân lí, giá trị và ý
nghĩa của cuộc sống. Từ đó, họ tìm ra con đường đi đúng đắn và hạnh phúc
đích thực của cuộc đời mình.
Đó là Naxchia trong truyện ngắn “Cô gái làm ren Naxchia”. Ở đầu tác
phẩm, chân dung Naxchia được Pauxtôpxki giới thiệu bằng vài ba nét về tiểu
sử. “Nàng ở với cha, ông làm nghề coi rừng. Naxchia nổi tiếng khắp vùng là
đẹp và làm ren khéo. Nàng kín tiếng và có đôi mắt xám như mọi cô gái
phương Bắc khác” [35, 8]. Chắc chắn, Naxchia sẽ có một cuộc sống bình yên
như bao cô gái khác nếu như Balasốp không xuất hiện. Nàng thầm yêu
Balasốp và chờ đợi anh trong mỏi mòn thương nhớ, nhưng anh vẫn không trở
về. Lo lắng, tuyệt vọng và tủi nhục, “Naxchia quyết định trốn cha đi

của mađam Bôvê), Đa- sa (Một đêm tháng mười), thiếu phụ trẻ - cô gái nông
thôn bán hoa ở đại lộ bờ biển (Đám đông trên đại lộ bờ biển) … Chân dung
của họ mỗi người một vẻ, với những biểu hiện khác nhau, nhưng họ đều có
một gương mặt chung - gương mặt đời thường giản dị mà cao đẹp, được họa
lên từ lòng yêu thương con người của Pauxtôpxki.

17


Chân dung nhân vật Đa-sa (Một đêm tháng mười) được Pauxtôpxki khắc
họa một cách gián tiếp qua cái nhìn của nhân vật tôi và Du- ép. Đang lo lắng
không biết làm cách nào ra khỏi khu rừng ngập nước trong đêm khuya vắng,
chúng tôi bỗng nghe thấy “tiếng của một người mới lớn, từ dòng sông lập tức
đáp lại: -Tôi đến đây!”. “Tiếng kêu từ dưới sông vang lên lanh lảnh. Lúc đó tôi
mới nhận ra đó là giọng nói của một chị phụ nữ” [34, 64]. “Chị ta nhảy lên bờ
và kéo chiếc thuyền” [34, 65]. Qua một loạt các hành động, hình ảnh Đa-sa dần
dần hiện rõ. “Đây là người phụ việc của tôi- Du- ép quay sang nói với tôi thế chúng tôi trước đây làm việc với nhau trong khu rừng này. Tôi là người đầu
tiên đã giúp cho Đa-sa hiểu biết tất cả những bí quyết về khoa học trồng cây”
[34, 66]. Vậy là, trên đường đi làm về trong một đêm khuya khoắt, Đa-sa đã
tình cờ gặp, cứu giúp (nhân vật tôi và Du-ép) những người bạn của mình. Vì
thế, dù Đa- sa chỉ xuất hiện ở gần cuối tác phẩm, nhưng cô gái bình thường ấy
đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc.
Nhân vật mađam Bôvê trong truyện ngắn “Lời cầu nguyện của mađam
Bôvê” lại được Pauxtôpxki xây dựng ở một góc nhìn khác. Đầu tác phẩm,
Pauxtôpxki chỉ giới thiệu, phác họa vài nét tiêu biểu mang tính chất khái quát
nhằm giúp người đọc có cái nhìn bao quát ban đầu về nhân vật. “Ai cũng gọi
bà là mađam” [42, 257]. Lời kể mở đầu câu chuyện của Pauxtôpxki thật đặc
biệt. Nhà văn đã đặt vấn đề, giới thiệu nhân vật một cách trực tiếp. Từ đó,
chân dung mađam BôVê hiện lên một cách tự nhiên. Từ lâu, bà xa quê đến
“sống ở Nga trong những gia đình xa lạ, dạy trẻ con tiếng Pháp”. Tuy

lại cô là một người con ngoan, hết lòng yêu thương cha. Như vậy, cuộc
sống nghèo khổ không làm mất đi phẩm giá cao quý của con người. Mãi
đọng lại trong lòng người đọc là hình ảnh Maria - một cô gái nghèo hiếu
thảo.
Nhân vật cô bé trong truyện “Đám đông trên đại lộ bờ biển” cũng có một
cuộc sống nghèo khổ. Em hoàn toàn không giống như nhân vật tôi tưởng tượng.
“Em giản dị, nghèo và đẹp hơn hẳn”. Em xuất hiện với “bộ quần áo đen cũ kĩ
19


đã sờn hai khuỷu tay, đi đôi tất màu sáng đã mạng và đôi dép cũ, cũng đen” [42,
336]. Nhân vật tôi càng xúc động hơn khi nhìn thấy “cặp xương quai xanh gầy
guộc hiện lên dưới lần áo mỏng nặc mùi madut” [42, 366]. Hơn nữa, dấu hiệu
của sự nghèo nàn nhẫn nhục còn hiện rõ trong vẻ mừng rỡ khi em được tặng một
vật nhỏ nhặt như con matơriôska. Có thể, đối với những em bé no đủ thì đấy là
chuyện bình thường, nhưng với em bé trong đám đông ấy quả thực đây là một
niềm vui lớn. Vậy mà, em rất ngoan và giàu lòng tự trọng. Mặc dù em thích cái
đồ chơi lạ mắt đó nhưng em không hề vồ vập. Nhân vật tôi phải “nắm lấy tay em
và gần như cưỡng ép bắt em phải cầm lấy” [42, 366].
Tóm lại, chân dung phụ nữ trong truyện ngắn của Pauxtôpxki thật đa
dạng và phong phú. Khi viết về những người phụ nữ ấy, ngòi bút của nhà văn
dường như không có điểm dừng, không có giới hạn. Từ người già cho đến các
em nhỏ, từ người trí thức, nghệ sĩ đến những người nông dân, những người
lao động, tất cả hình ảnh họ đều hiện lên chân thực, đẹp đẽ qua cái nhìn tràn
đầy yêu thương của nhà văn. Nhân vật nữ của Pauxtôpxki đều là những con
người bình thường của cuộc sống đời thường, giản dị. Dù là ai, làm nghề gì,
sống ở đâu, các nhân vật nữ của ông vẫn luôn mang bản chất của con người
giản dị, sống đúng với nghĩa là một Con Người.
1.2. Chân dung in đậm dấu ấn hoàn cảnh
Hoàn cảnh là “những nhân tố khách quan bên ngoài có tác động đến sự

những chân dung phụ nữ của ông, tạo thành những đường viền, phông nền để
từ đó nhân vật nữ bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn cao quý. Đó là những tâm hồn nhạy
cảm về cuộc sống đổi thay khi chiến tranh lan đến. Trong truyện ngắn “Vườn
nhà bà”, bà nội Xêraphima thở dài khi nhìn thửa vườn mọc đầy cỏ, cây cối và
bụi rậm ương bướng. Bà còn rất buồn khi nhìn gầu nước đầy đất, vỏ cây mục
và cả những cây nấm con. Bà biết nguyên nhân của nó. “Bà giải thích là ban
đêm đất rung, từ thành giếng rác rưởi rơi xuống. Mặt đất rung như vậy là có
đánh nhau ở gần” [42, 379]. Sự ngạc nhiên, mông lung, khó hiểu lúc đầu của

21


bà Vácvara (Trái tim nhút nhát) qua nhanh khi bà “thấy đông đủ cả lân bang
hàng xóm. Họ cũng đang vội vã lấy bùn nâu màu đất chung quanh nhà - quét
lên tường”. “Lần đầu tiên những ngọn hải đăng không sáng”, “trong các nhà
không có lấy một ngọn lửa” và “thành phố như trong một nhà mồ tăm tối”. Bà
nghĩ thầm “chiến tranh thực rồi ư?” [42, 229]. Chiến tranh đã làm thay đổi
cuộc sống của bà Vácvara, mang đến cho bà cảm giác lo lắng, sợ hãi, bất an.
Ảnh hưởng của chiến tranh qua ngòi bút sâu sắc của Pauxtôpxki đã được phát
hiện tinh tế qua chân dung của những người phụ nữ đầy tâm trạng lo âu.
Chiến tranh làm đảo lộn tất cả, phá hủy tất cả nhưng chiến tranh không
thể dập tắt được ngọn lửa của tình yêu thương luôn rực sáng trong tâm hồn
nhân vật nữ. Với những người phụ nữ, sống là để yêu thương, sống là “cho”.
Bởi họ luôn ý thức “cho” tức là đang “nhận”. Và họ lấy niềm vui, hạnh phúc
của người khác là nguyên tắc sống của chính mình. Chiến tranh đến bất thình
lình khiến cho bà Vácvara không khỏi sợ và ngạc nhiên. Bà tình nguyện làm y
tá trong quân y viện để nghe ngóng và chờ đợi tin tức của Vania. Bà đã quen
dần với những chiếc máy bay màu đen, tiếng rít của bom rơi, tiếng kính vỡ
loảng xoảng, bụi lọt và đủ mọi chỗ sau khi bom nổ, với bóng tối. Khi tận mắt
nhìn thấy tên đứa cháu yêu quý trên tờ cáo thị, bà vô cùng lo lắng, sợ hãi.

sung sướng vì thấy mình không bị lừa dối và nàng lại hi vọng sẽ được gặp
anh. Tình yêu luôn rực cháy trong tâm hồn nàng, tiếp thêm cho nàng sức
mạnh để sống lạc quan và tin tưởng. Nàng bất chấp mọi khó khăn gian khổ,
dũng cảm vượt qua bom đạn, đi khắp các mặt trận để tìm kiếm và hỏi thăm tin
tức về anh. Khi được tin Balasốp đã hi sinh hai ngày trước đó, nàng nén chặt
nỗi đau đớn lại trong lòng để làm nhiệm vụ. Nàng trở thành “y tá tốt nhất
trong phân khu ngoài mặt trận” [35, 13]. Hoàn cảnh chiến tranh đã thử thách
và làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức của Naxchia, giúp cô vươn tới một tình
yêu lớn: tình yêu quê hương, đất nước.

23


Chiến tranh đã lùi xa, hòa bình lập lại, các tác phẩm của Pauxtôpxki lại
tập trung phản ánh không khí thời đại thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội sôi
nổi. Các truyện ngắn như: “Hạt cát”, “Cây tường vi”, “Tàu tốc hành
Xìmfêrôpôn” … thực sự là bài ca ca ngợi sức sáng tạo của tuổi trẻ Xô Viết
trong công cuộc chinh phục thiên nhiên và xây dựng xã hội mới. Nhân vật
trong các sáng tác là những con người mới, yêu quê hương, đất nước, làm chủ
cuộc sống, tạo dựng tương lai. Họ mang trong mình bầu nhiệt huyết của tuổi
trẻ. Vẻ đẹp của họ toát ra từ sự cứng cỏi, mạnh mẽ, khát vọng cống hiến cho
quê hương. Pauxtôpxki viết về họ với thái độ trận trọng, lòng ngưỡng mộ, tự
hào. Masa (Cây tường vi) - cô sinh viên mới tốt nghiệp đại học đã trải qua
tháng ngày tuổi trẻ ở một vùng đất mới. Cô tâm huyết với việc trồng rừng và
chăm chút, nâng niu từng cây non. Tương tự, Lêlia trong truyện ngắn “Hạt
cát” cảm thấy ngày càng gắn bó với vùng đất trồng nho miền Krưm, cả cái
khắc nghiệt ở đây cũng trở nên đáng yêu lạ lùng. Cô sung sướng chia sẻ với
một nhà văn: “Đất chẳng khác gì đá, rễ nho cũng rắn như đá, chung quanh,
đá bị mặt trời hun đốt phả hơi nóng hầm hập. Lúc đầu cháu khổ vì nóng,
thậm chí phát khóc lên. Ấy thế mà bây giờ cháu lại đâm ra yêu cái nóng ấy,

bà lại phải sống nốt những ngày cuối đời trong ốm đau và cô độc. Nhớ con bà
chỉ biết khóc. Bà trông con từng giờ, từng phút và hi vọng đứa con gái duy
nhất sẽ trở về gặp bà lần cuối. Nhưng bà chờ đợi trong vô vọng. Con gái bà
quá say mê công việc, vô tình lãng quên người mẹ yêu quý của mình. Như
vậy, cảnh ngộ đau lòng đã tạo cho bức chân dung nhân vật có ấn tượng mạnh.
Chúng ta sau mỗi lần đọc truyện đều không khỏi ngậm ngùi, thương xót cho
hoàn cảnh của bà Katêrina.
Pauxtôpxki đặc biệt khắc họa nhiều chân dung những người phụ nữ
trung tuổi, những thiếu phụ (22 trong tổng số 77 nhân vật nữ). Họ là những

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status