LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế do Đảng cộng sản Việt
Nam đề xướng từ đại hội VI (12/1986) đã đem lại những thành quả to
lớn về kinh tế và xã hội. Nền kinh tế nước ta sau hơn hai mươi hai năm
đổi mới và mở cửa đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao
lưu thương mại ngày càng phát triển. Song cũng trong bối cảnh đó, các
quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Các quan hệ
này không chỉ được thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh trong nước mà
còn mở rộng tới các tổ chức nước ngoài. Chính vì vậy, tranh chấp
thương mại là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải
quyết kịp thời.
Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại
Việt Nam nói riêng đã quy định nhiều hình thức giải quyết tranh chấp
như: thương lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài. Với những quy định
của pháp luật hiện hành đã góp phần giải quyết các tranh chấp trong
quan hệ thương mại một cách nhanh chóng, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế và xu thế hội nhập quốc tế, tranh chấp cũng ngày càng nhiều
với tính chất và mức độ ngày càng phức tạp. Trước tình hình đó, việc
lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp có tầm quan trọng
đặc biệt bởi nó có thể quyết định mức độ thiệt hại của doanh nghiệp
một khi thương vụ bị đổ bể.
1
Hiện nay, không có phương thức giải quyết tranh chấp nào
chiếm vị thế tuyệt đối cả. Tuy nhiên, căn cứ vào những ưu điểm vượt
trội của trọng tài thì phương thức này đang được các doanh nghiệp lựa
chọn, đặc biệt là đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Từ thực
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI
1. Trọng tài thương mại - một hình thức giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại
1.1. Khái niệm trọng tài thương mại
Trong khoa học pháp lý, trọng tài được nghiên cứu dưới nhiều
bình diện khác nhau và do đó hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau
về trọng tài.
Theo cuốn “Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z”: “Trọng tài là
một cách giải quyết bất đồng trong quan hệ công nghiệp mà không
cần đưa ra pháp luật hay đình công”.
Hay: “Trọng tài là những tranh chấp hay bất đồng được đưa ra
cho một hoặc nhiều người được xem là công tâm, không thiên lệch
quyết định và quyết định này có tính ràng buộc đối với hai bên” [39,
tr.360].
Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA): “Trọng tài là cách thức giải
quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người
khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng,
có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành” [30, tr.3].
Theo khoản 1 điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003:
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến
hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định”.
4
Thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là
phán quyết do trọng tài tuyên đối với các đương sự của vụ tranh chấp.
Phán quyết của trọng tài vừa là sự kết hợp của yếu tố thỏa thuận (các
đương sự có thể thỏa thuận về nội dung tranh chấp, cách thức giải
quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với vụ tranh chấp) vừa là sự kết
hợp của yếu tố tài phán (có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên).
Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, trọng tài có
những đặc điểm sau:
Một là, trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài
viên tự thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực
kinh doanh, thương mại. Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của
Nhà nước, không do Nhà nước thành lập nên, không hoạt động bằng
ngân sách Nhà nước. Các trọng tài viên không phải là các viên chức
Nhà nước, không do Nhà nước bổ nhiệm và cũng không hưởng lương
từ ngân sách. Khi xét xử trọng tài không nhân danh Nhà nước để ra
phán quyết.
Hai là, quyền lực của trọng tài không tự nhiên mà có mà xuất
phát từ sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp đối với trọng tài.
Trong tố tụng trọng tài, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ
tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải
quyết. Nếu không có thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi xảy ra
tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình
hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm
6
quyền giải quyết. Chính các chủ thể tranh chấp, với việc lựa chọn
trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình đã trao quyền lực xét xử cho
trọng tài. Nói cách khác, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhân
Trước tiên, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo tối đa
quyền tự do thỏa thuận của các bên. Khác với tòa án, trọng tài không
bị ràng buộc bởi nguyên tắc lãnh thổ nên các bên có quyền lựa chọn
bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình, bất
kỳ họ ở đâu, trong nước hay ngoài nước đồng thời các bên có quyền
thỏa thuận lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn, nghiệp vụ; lựa chọn
quy tắc, thủ tục tố tụng; lựa chọn ngôn ngữ, thời gian, địa điểm... giải
quyết tranh chấp.
Các nhà kinh doanh tham gia vào tranh chấp luôn e ngại rằng
tranh chấp liên quan tới bí mật thương mại, các khiếm khuyết của
hàng hóa, sự kém chất lượng của sản phẩm sẽ bị xét xử dưới sự theo
dõi của công luận vì điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến công việc kinh
doanh của họ trong tương lai. Song với nguyên tắc “xét xử kín”, giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ giúp các bên tách rời khỏi sự chú ý
của công luận, đảm bảo bí mật của tranh chấp.
Một ưu điểm nữa của phương thức trọng tài là quyết định trọng
tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị, trong khi
bản án, quyết định của tòa án có thể phải trải qua nhiều thủ tục xem
xét khác nhau (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm).
Điều này giúp tiết kiệm chi phí về thời gian cũng như tiền bạc cho các
8
bên tranh chấp. Quyết định trọng tài được thi hành ngay (trong thời
hạn ba mươi ngày kể từ ngày ra phán quyết) đáp ứng yêu cầu khôi
phục nhanh những tổn thất về hàng hóa, tiền bạc của các nhà kinh
doanh.
Ngoài ra, trọng tài còn có rất nhiều ưu điểm khác như: tính
chuyên môn cao (trọng tài thường là những chuyên gia có trình độ cao
nên trong nhiều trường hợp tính khả thi không cao.
Mặc dù có những ưu điểm vượt trội so với các phương thức
giải quyết tranh chấp khác nhưng phương thức trọng tài vẫn tồn tại
một số hạn chế nhất định, đó là:
So với tòa án, trọng tài không có thẩm quyền kê biên tài sản, áp
dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng
tranh chấp. Việc kê biên chỉ được thực hiện thông qua tòa án trên cơ
sở yêu cầu của các bên. Quá trình kê biên này có thể kéo dài, không
đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời đề phòng tẩu tán tài sản; quyết định
trọng tài có giá trị chung thẩm là một ưu điểm nổi bật của trọng tài,
song nhìn ở phương diện khác đây lại chính là một hạn chế của trọng
tài vì quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị nên các bên khó có cơ hội phát hiện và khắc phục những
sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp như ở tòa án.
Do việc giải quyết tại trọng tài đã có sự xuất hiện của bên thứ ba
nên việc giữ bí mật của vụ tranh chấp không thể bằng thương lượng.
Ngoài ra, thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cho thấy
chi phí trọng tài thường được ấn định trước, nhất là những tranh chấp
10
được giải quyết tại các trung tâm trung tâm trọng tài thường có cả các
biểu phí được quy định sẵn và biểu phí này thường cao hơn nhiều so
với các cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tòa án, hòa giải hay thương
lượng mà không phải chủ thể tranh chấp nào cũng có khả năng đáp
ứng dù họ rất muốn được giải quyết tranh chấp tại trọng tài.
Tóm lại, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài tuy có
một số hạn chế, song với những ưu điểm nổi trội của nó, có thể khẳng
định đây là phương thức giải quyết đơn giản, gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu
Có thể nói, Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng
tài hàng hải tồn tại trong khoảng ba mươi năm nhưng hoạt động không
nhiều. Từ năm 1960 đến năm 1988, hai Hội đồng trọng tài này chỉ có
rất ít các vụ việc trọng tài. Bởi vì trong thời gian này, Việt Nam hầu
như chỉ tập trung các mối quan hệ quốc tế về viện trợ phát triển mà
bản chất vịên trợ hầu như mang ít tính thương mại. Chính vì thế, các
tranh chấp ngoại thương và hàng hải rất hạn chế. Trong trường hợp có
tranh chấp bên Việt Nam và đối tác anh em thường tìm cách giải quyết
tranh chấp hoặc bất đồng bằng con đường thương lượng trực tiếp. Nếu
vụ việc được đưa ra Hội đồng trọng tài ngoại thương hoặc Hội đồng
trọng tài hàng hải giải quyết thì các tổ chức trọng tài này thường tìm
mọi cách giúp các bên đạt được thỏa thuận trên cơ sở nhân nhượng lẫn
nhau. Cho đến hết năm 1993, hai Hội đồng trọng tài này giải quyết
được 94 vụ tranh chấp, trong đó từ năm 1963 đến năm 1988 chỉ có ba
vụ, đặc biệt không có vụ nào liên quan đến quan hệ ngoại thương đối
với các nước phương tây; từ năm 1988 đến năm 1992 đã giải quyết
12
được 91 vụ, tăng gấp ba mươi lần tổng số vụ giải quyết trong 25 năm
trước [38, tr.16].
2.2. Trọng tài phi chính phủ trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
Mặc dù hoạt động với tư cách là tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
song Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải
vẫn chỉ là sản phẩm của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
cho nên cũng chỉ phù hợp với giai đoạn đó của đất nước. Từ năm
1986, nền kinh tế thị trường bắt đầu hình thành và ngày càng phát
triển, các tranh chấp không chỉ liên quan đến hợp đồng mua bán hàng
phán tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 05/2003/NQHĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTTM.
Có thể nói, PLTTTM ra đời đã đánh dấu một bước phát triển
mới trong quá trình lập pháp ở Việt Nam nói chung và pháp luật về
trọng tài thương mại nói riêng. PLTTTM đã khắc phục được những
bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn của các văn bản trước đây về trọng tài
đồng thời đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế.
3. Các hình thức tổ chức trọng tài
Trọng tài ở các nước nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng
được tổ chức dưới các dạng khác nhau, với các tên gọi khác nhau
nhưng chủ yếu tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài thường trực và
trọng tài vụ việc.
14
3.1. Trọng tài vụ việc
(Trọng tài ad-hoc, Hội đồng trọng tài do các bên thành lập)
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên thỏa thuận
thành lập để giải quyết các tranh chấp giữa các bên. Trọng tài sẽ chấm
dứt hoạt động khi giải quyết xong vụ tranh chấp.
Trọng tài vụ việc chỉ tồn tại có tính chất lâm thời, không có trụ
sở và bộ máy cố định, trọng tài viên do các bên đương sự tháa thuận
lựa chọn. Thông thường, trọng tài viên có thể được lựa chọn từ các
thương gia có tu nghiệp pháp lý hay các luật sư làm việc tại các công
ty. Các trọng tài viên không chỉ nắm vững về luật pháp mà còn rất am
hiểu về các hoạt động thương mại. Hoạt động của Hội đồng trọng tài
không bị ràng buộc bởi các quy tắc tố tụng mà chỉ cần đảm bảo
nguyên tắc xét xử vô tư, khách quan, đúng pháp luật.
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc
và có kinh nghiệm tranh tụng. Nhưng cũng do tính không ổn định và
không có quy chế hoạt động chặt chẽ nên hiệu quả giải quyết các vụ
tranh chấp không cao.
Trong lịch sử phát triển của trọng tài, hình thức trọng tài vô viÖc
®îc biÕt ®Õn sím h¬n träng tµi thêng trực. Tuy nhiên, sau khi trọng tài
thường trực ra đời, vai trò của trọng tài vụ việc không bị chấm dứt mà
vẫn được thừa nhận như một hình thức trọng tài không thể thiếu được
của các nhà kinh doanh. Mặc dù vậy, NĐ116 trước đây không quy
định trọng tài vụ việc mà chỉ quy định một loại trọng tài duy nhất là
trọng tài thường trực. Trọng tài vụ việc tuy có được đề cập tới trong
16
một số văn bản (Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn)
nhưng lại không được quy định cụ thể nên không thể được áp dụng
trên thực tế. Đây là một hạn chế rất lớn trong lĩnh vực trọng tài ở nước
ta trước đây vì nó không đảm bảo được quyền định đoạt của các bên
tranh chấp trong việc lựa chọn hình thức trọng tài, làm mất đi sự hấp
dẫn của phương thức trọng tài ở Việt Nam.
PLTTTM ra ®êi đã chính thức thừa nhận và tạo cơ sở pháp lý cho
việc thành lập và hoạt động của trọng tài vụ việc ở Việt Nam. Pháp
lệnh đã quy định khá cụ thể về trọng tài vụ việc, cho phép trọng tài vụ
việc giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại
kể cả tranh chấp quốc tế và trong nước.
2.3. Trọng tài thường trực
(Trọng tài quy chế)
Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ
chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài (Trung
tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông, Trung tâm trọng tài thương mại quốc
Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại
độc lập với cơ quan tài phán của Nhà nước ®ång thêi các trung tâm
trọng tài còn độc lập với nhau, tức là giữa các trung tâm trọng tài
không hề có quan hệ lệ thuộc về tổ chức hay tài chính, trong khi đó, ở
tòa án lại có sự ràng buộc chặt chẽ, có sự phân cấp giữa tòa án cấp
trên và tòa án cấp dưới.
Thứ ba, cơ cấu tổ chức và quản lý của các trung tâm trọng tài rất
linh hoạt và gọn nhẹ. Bộ máy quản lý của trung tâm trọng tài thường
18
chỉ bao gồm một chủ tịch, một vài phó chủ tịch và ban thư ký thường
trực còn hoạt động xét xử được đảm nhiệm bởi một ®éi ngò trọng tài
viên hoạt động kiêm nhiệm và hưởng lương theo vụ việc. Trung tâm
trọng tài hoạt động theo cơ chế hoạch toán độc lập, tự chủ về tài
chính, lấy thu bù chi. Nguồn thu chủ yếu của trọng tài là từ lệ phí
trọng tài khi được yêu cầu giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, mỗi trung tâm trọng tài đều xây dựng một bản Điều lệ
và Quy tắc tố tụng riêng trên cơ sở những quy định của pháp luật
trọng tài. Mỗi trung tâm trọng tài đều cố gắng xây dựng bản §iều lệ
và Quy tắc tố tụng đơn giản và hiệu quả, bảo đảm tối đa quyền tự định
đoạt của đương sự để tạo sự hấp dẫn cho trung tâm trọng tài trước
khách hàng là các chủ thể đang có tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản với tòa án - cơ
quan xét xử các tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến
hành bởi các trọng tài viên của trung tâm. Mỗi trung tâm đều có đội
ngũ trọng tài viên có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn
cao và có uy tín nghề nghiệp.
phng thc gii quyt tranh chp ny so vi tũa ỏn (nht l tớnh
nhanh chúng, bo mt, kinh nghim v hiu quả) ó chng t c vai
trũ to ln ca trng ti thng mi. Vỡ vy, cú th khng nh trng ti
l mt phng thc gii quyt tranh chp khụng th thiu c trong
nn kinh t th trng. Mt nc muốn cú nn kinh t th trng v
20
hội nhập hệ thống thương mại quốc tế như Việt Nam thì trong mọi
trường hợp không thể phủ nhận và e ngại phương thức này.
21
CHƯƠNG III
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
1. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng
tài
1.1. Tranh chấp được giải quyết bằng tài, nếu trước hoặc sau khi
xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài
( khoản 1 ®iều 3 PLTTTM)
Khác với giải quyết tranh chấp tại tòa án - cơ quan tài phán Nhà
nước, khi có tranh chấp phát sinh, bên có quyền lợi hợp pháp bị vi
phạm có quyền đệ đơn yêu cầu tòa án giải quyết mà không cần có sự
thỏa thuận trước. Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi
phải có sự thỏa thuận của các bên với nguyên tắc chung là: “Không có
thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, không có tố tụng
trọng tài” [31, tr. 47].
trong tố tụng trọng tài...
Nh vy, nguyờn tc tha thun trng ti ó c phn ỏnh khỏ
m nột trong phỏp lut trng ti ca cỏc nc núi chung v ca Vit
Nam núi riờng, tr thnh nguyờn tc nn tng ca t tng trng ti.
Trng ti s mt i bn cht vn cú ca nú nu thiu vng nguyờn tc
ny - mt nguyờn tc th hin s tụn trng ý chớ, nguyn vng chung
ca cỏc bờn.
23
1.2. Khi gii quyt tranh chp trng ti viờn phi c lp, khỏch
quan, vụ t, phi cn c vo phỏp lut v tụn trng s tha thun
ca cỏc bờn
(khon 2 iu 3 PLTTTM)
õy l nguyờn tc trung tõm ca trng ti thng mi ng thi
cng l yờu cu t ra i vi cỏc ch th gii quyt tranh chp, ú l
cỏc trng ti viờn - ngi c cỏc bờn tranh chp trc tip hoc giỏn
tip la chn. iu ú cú th nh hng n tớnh ỳng n, chớnh xỏc,
khỏch quan v kh nng thi hnh phỏn quyt ca trng ti. Vỡ vy, cỏc
trng ti viờn cn phi c bit lu ý v tớnh c lp, khỏch quan ca
mỡnh i vi cỏc bờn tranh chp. Mt s trung tõm trng ti cũn yờu
cu trng ti viờn phi xỏc nhn bng vn bn rng h ang v s c
lp vi cỏc bờn v yờu cu trng ti viờn trỡnh by bt k s kin hoc
chi tit no cú th khin cỏc bờn nghi ng v tớnh c lp, vụ t khỏch
quan ca h. Khi gii quyt tranh chp thng mi theo th tc trng
ti, trng ti viờn phi cn c vo phỏp lut vỡ nu trng ti viờn
khụng cn c vo phỏp lut, nhn hi l hoc cú hnh vi vi phm o
c trng ti viờn thỡ cỏc bờn cú quyn yờu cu thay i trng ti viờn.
Ch cú cn c vo phỏp lut, trng ti viờn mi gii quyt c cỏc
thể trở thành trọng tài viên nếu chiếm được lòng tin của các bên” (®iều
33). §iều 20 Quy tắc trọng tài thương mại của Hiệp hội trọng tài
thương mại Nhật Bản cũng chỉ đưa ra một quy định có tính chất
nguyên tắc: “Người không có quyền lợi trong vụ việc xét xử trọng tài
đều được làm trọng tài viên”.
25