LỜI MỞ ĐẦU
Quan hệ kinh tế quốc tế cùng với mối quan hệ về chính trị, ngoại giao,
văn hoá... là những nhân tố quan trọng cấu thành nên bức tranh tổng thể về quan
hệ quốc tế ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định. Nó ra đời và phát triển trên cơ sở
phân công lao động quốc tế, bao gồm một hệ thống đa dạng và phong phú các
hoạt động như: thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ...
Cùng với xu thế toàn cầu hoá trong quan hệ quốc tế nói chung, hoạt động kinh tế
quốc tế đang đạt được bước phát triển mạnh chưa từng thấy mang tính thời đại
sâu sắc và sẽ còn tiếp tục được bổ sung, phát triển hơn nữa bởi những nhân tố
mới trong tương lai. Trong bối cảnh đó, các tranh chấp phát sinh trong hoạt
động kinh tế quốc tế nói chung và các hoạt động thương mại nói riêng có xu
hướng gia tăng và diễn biến phức tạp đòi hỏi phải có những phương thức giải
quyết nhanh chóng, hiệu quả nhằm bảo đảm cho các hoạt động đó được diễn ra
một cách liên tục và thuận tiện.
Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp thương mại là vấn đề vô cùng phức tạp
do tham gia vào các quan hệ này có nhiều chủ thể với những địa vị pháp lý
không giống nhau, thuộc những hệ thống pháp luật khác nhau... Do đó, việc lựa
chọn được một phương thức giải quyết tranh chấp hợp lý là một vấn đề có ý
nghĩa quyết định trong việc đảm bảo và thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc
tế phát triển thuận lợi. Trên thực tế, toà án là cơ quan có đủ chức năng để thực
hiện những cơ sở pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp nói chung. Song các
đặc tính gay gắt, phức tạp và sòng phẳng của các hoạt động thương mại thì bên
cạnh toà án còn có những biện pháp giải quyết tranh chấp khác có hiệu quả hơn
nhiều. Một trong những biện pháp đó là "Trọng tài".
Là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam không thể đứng
ngoài xu thế phát triển chung của thế giới. Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở
rộng quan hệ hợp tác và phát triển về kinh tế với các quốc gia khác và hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Năm 1986, Nghị quyết Đại hội VI
của Đảng đề ra đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế quản lý
1
tập trung, bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, vận
1. KHÁI NIỆM TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm trọng tài trong khoa học pháp lý Quốc tế.
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có
yếu tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả trọng
tài. Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử
dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ
kinh tế quốc tế.
Cuối thế kỷ 19, người ta đã cố gắng hợp thức hoá tính cách pháp lý cho
hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế. Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức
tại La - Hay Hà Lan vào năm 1899 và 1907. Hai hội nghị này đã đi đến việc
soạn thảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để
các hiệp ước trọng tài.
Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm "Trọng tài"
được đề cập nhiều trong luật quốc tế. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu
trong Công ước La - Hay năm 1988, theo đó: "Trọng tài là nhằm để giải quyết
những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa
chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp".
Hiệp định La - Hay 1907 qui định: "Trọng tài quốc tế có đối tượng giải
quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng
tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng
luật pháp".
Theo giáo sư Ph.Farrchar thuộc trường đại học Pans II thì: "Trọng tài là
một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên giao cho một cá nhân
(trọng tài viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau".
Luật sư toà thượng thẩm Paris Didier Skonicki định nghĩa ngắn gọn:
"Trọng tài là toà án tư, do ý chí của đôi bên tranh chấp. Nó cũng xét xử như toà
án nhà nước".
3
Tựu trung lại, có thể hiểu trọng tài là phương thức giải quyết một số hoặc
toàn bộ các tranh chấp đã và sẽ phát sinh giữa các bên mà pháp luật cho phép
tài thường trực, không lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc xét xử nào. Trong các vụ
tranh chấp sử dụng trọng tài ad - hoc, thì các bên thường thống nhất có một
trọng tài viên.
Trọng tài ad - hoc có một số đặc điểm sau:
- Quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên đương sự hoặc của người thứ
ba không bị giới hạn vào một danh sách có sẵn như ở hình thức trọng tài thường
trực.
- Các bên đương sự có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng: về
tổ chức hội đồng trọng tài, quá trình tố tụng...Nghĩa là các bên tranh chấp có thể
tự định đoạt các cách thiết lập hội đồng trọng tài và thủ tục giải quyết thích ứng
với tính chất từng vụ tranh chấp. Đương sự không bị ràng buộc bởi các quy định
pháp lý về tố tụng chừng nào đảm bảo được nguyên tắc xét xử khách quan trong
trường hợp của họ. Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt trọng tài ad - hoc với
trọng tài thường trực.
Như vậy, tính chất tố tụng của trọng tài ad - hoc khá đơn giản, thời gian
tiến hành tố tụng có thể nhanh chóng và ít tốn kém. Tuy nhiên, trên thực tế,
trọng tài ad - hoc chỉ thích hợp với những tranh chấp nhỏ giữa các bên đương sự
có am hiểu về luật pháp và có kinh nghiệm tranh tụng. Trọng tài ad - hoc phụ
thuộc rất nhiều vào thiện chí và sự hợp tác của các bên. Nếu các bên không thực
tình muốn giải quyết vụ tranh chấp để đi tới một giải pháp tối ưu thì trọng tài ad
- hoc sẽ rất khó làm việc. Bởi lẽ, trọng tài ad - hoc không có quy tắc tố tụng
riêng.
b. Trọng tài thường trực:
Trọng tài thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động
một cách thường xuyên, có trụ sở, điều lệ và có quy tắc xét xử riêng. Trọng tài
thường trực giống trọng tài ad - hoc ở khả năng lựa chọn trọng tài viên nhưng lại
có hạn chế hơn là chỉ được lựa chọn trong số các trọng tài viên của trung tâm
trọng tài - mà số lượng các trọng tài viên trong danh sách này thường rất hạn
chế.
5
tài kinh tế Trung Quốc (CIETAC) thành lập năm 1954, Trung tâm trọng tài quốc
tế Hồng Kông (HKIAC) thành lập năm 1985...
Toà án trọng tài quốc tế ICA của phòng thương mại quốc tế ICC lfa trọng
tài được biết đến nhiều nhất. ICA được thành lập năm 1923 tại Paris với mục
đích ban đầu là trợ giúp các nước Châu Âu là giảm tối đa có thể các tranh chấp
kinh tế thương mại để mau chóng ổn định kinh tế phục vụ công cuộc hàn gắn
sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hiện nay, ICA là trọng tài chuyên trách
chuyên giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh trong hợp đồng giữa các
pháp nhân, thể nhân có quốc tịch khác nhau. ICA luôn đứng đầu thế giới về giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế bởi vì ICA có thể giải quyết các tranh
chấp trực tiếp bằng hầu hết các thứ tiếng trên thế giới nên tranh chấp được giải
quyết nhanh chóng kịp thời và giảm chi phí cho các bên tranh tụng.
Trung tâm quốc tế giải quyết tranh chấp về đầu tư ICSID là tổ chức do
ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế thành lập 1966 tại Washington trên cơ
sở công ước về giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và pháp nhân, thể nhân
nước khác. Cũng như ICC, ICSID được xem là một trong những cơ quan trọng
tài quốc tế ưa dùng nhất hiện nay trên thế giới. Mặc dù ICSID chủ yếu giải
quyết tranh chấp thuộc lĩnh vực đầu tư quốc tế song trên thực tế, ICSID thực
hiện hai nhiệm vụ. Một là giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại phát sinh
trong hợp đồng đầu tư quốc tế. Hai là đẩy mạnh đầu tư quốc tế giữa các nước,
các vùng, khu vực và thế giới.
1.2.2. Khái niệm trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam.
Theo Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng
tài kinh tế thì "Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với
các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan
đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp có liên quan đến
việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu".
Tuy nhiên, trọng tài thương mại còn cụ thể và chi tiết hơn trọng tài kinh tế
vì hoạt động thương mại chỉ là một phần của hoạt động kinh tế. Hiểu một cách
8
Qua đó có thể thấy, cách hiểu về quan hệ thương mại trong luật pháp quốc
tế là rất rộng. Nó không bị giới hạn bởi các giao dịch nêu trên mà chỉ bao gồm
các giao dịch này.
2.1.2. Khái niệm hoạt động thương mại theo pháp luật Việt Nam
Theo pháp luật hợp đồng kinh tế năm 1989
(1)
, Luật thương mại năm
1997
(2)
và Luật doanh nghiệp năm 1999
(3)
thì có thể hiểu: Hoạt động thương mại
là những hoạt động xung quanh việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, từ việc đầu tư đến việc hình
thành dự án, thành lập doanh nghiệp, vận hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc
thực hiện các dịch vụ khác trên thị trường như dịch vụ thương mại, vận tải, hàng
hải, hàng không, bưu chính viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm...
nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc thực hiện những chính sách kinh tế xã
hội, do các pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh tiến hành thông qua
hoạt động kinh tế thương mại. Như vậy, điều kiện cần của hoạt động thương mại
trước hết phải là những hoạt động phục vụ cho quá trình sản xuất, lưu thông
hàng hoá hay thực hiện các dịch vụ trên thị trường. Nhưng như vậy chưa đủ,
điều kiện đủ của hoạt động thương mại là tìm kiếm lợi nhuận hoặc thực hiện các
chính sách kinh tế - xã hội và do các pháp nhân hay cá nhân có đăng ký kinh
doanh tiến hành thông qua các hợp đồng thương mại. Thiếu một trong ba yếu tố
trên không được xem là hoạt động thương mại thuộc ngành luật kinh tế điều
chỉnh và thuộc phạm vi xem xét giải quyết của Toà án kinh tế hay trọng tài
thương mại khi có tranh chấp xảy ra mà chỉ được xem là hoạt động kinh tế dân
sự thuộc ngành luật dân sự điều chỉnh và thuộc phạm vi xem xét giải quyết của
năm 1997 hay tranh chấp giữa Việt Nam và Hồng Kông trong hợp đồng mua
bán gạo...
Như vậy, phạm vi của những hoạt động thương mại và tranh chấp thương
mại là rất rộng. Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đa dạng và phức tạp
hiện nay, nhu cầu cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, một hành lang
pháp lý an toàn về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại ngày một lớn.
2.2.1. Khái niệm tranh chấp thương mại theo pháp lệnh trọng tài
thương mại 2003.
Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước
ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp
phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài.
10
3. VAI TRÒ CỦA TRỌNG TÀI VÀ CÁC NGUYÊN TẮC TRONG
GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
3.1. Vai trò của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp thương
mại.
Khi các tranh chấp phát sinh trong các hoạt động thương mại, các bên có
thể thương lượng, hoà giải với nhau để giải quyết vụ việc. Trong trường hợp hai
bên không thể tự hoà giải được thì có thể đưa vụ việc ra giải quyết bằng toà án
hoặc trọng tài. Trong các tranh chấp có yếu tố nước ngoài thường thì các bên có
xu hướn ngại đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng toà án. Nếu giải quyết toà án
ở quốc gia của một trong hai bên đương sự thì tất nhiên phía bên kia sẽ không
tin tưởng vì e ngại rằng thẩm phán sẽ ưu ái cho đương sự phía nước họ hơn. Còn
nếu tiến hành tố tụng ở một nước thứ ba thì cả hai bên đều bỡ ngỡ trước quy tắc,
thủ tục và trình tự tố tụng của quốc gia thứ ba đó. Ngoài ra, tố tụng toà án đòi
hỏi nhiều thủ tục rất phức tạp, mất nhiều thời gian và tiền của. Do đó trong thực
tiễn. Trọng tài đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp
thương mại, đặc biệt là các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài.
Thứ nhất, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất tôn trọng ý chí
Thứ năm, trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xử kín tức là không cần
phải đưa các vấn đề tranh chấp, cơ sở của các quyết định trọng tài về vụ tranh
chấp vào quyết định trọng tài (Điều 44 pháp lệnh trọng tài thương mại
2003).Trọng tài không cần phải xét xử công khai như toà án nếu các bên yêu
cầu. Nhờ vậy mà có thể giữ được bí mật những chi tiết, số liệu, thông tin cụ thể
mà các bên tranh chấp không muốn công khai (liên quan đến bí mật công
nghệ...) giúp tránh được những hậu quả khôn lường và thiệt hại sau này cho các
bên tranh chấp. Chính vì vậy mà các bên tranh chấp thường chọn biện pháp
trọng tài để giải quyết những tranh chấp về thương mại.
Với những đặc điểm và vai trò như vậy của mình, biện pháp trọng tài đã
đáp ứng được yêu cầu đề ra đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong
quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói chung và
trong quan hệ quốc tế nói riêng. Có thể nói, trọng tài là phương thức giải quyết
12
tranh chấp mang tính khả thi nhất và là phương thức phổ biến nhất để giải quyết
các tranh chấp thương mại nhằm ổn định và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
3.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.
Quy tắc tố tụng là khung pháp lý mà Hội đồng trọng tài xét xử vụ kiện và
các bên đương sự phải tuân theo. Làm trái các quy tắc tố tụng sẽ dẫn đến những
hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng. Chẳng hạn như nếu Hội đồng trọng tài vi
phạm quy tắc tố tụng trong quá trình xét xử thì các bên đương sự có quyền
không công nhận và không thi hành phán quyết trọng tài. Do đó, việc xây dựng
quy tắc tố tụng trọng tài là rất cần thiết và nội dung của nó phải đảm bảo các
nguyên tắc sau:
3.2.1. Nguyên tắc tự nguyện
Đây là nguyên tắc cốt lõi trong vấn đề trọng tài vì sự hình thành của trọng
tài thực chất là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự. Trong quá trình giải
quyết tranh chấp. Trọng tài cũng nhân danh ý chí tối cao của các bên. Các bên
đương sự hoàn toàn có thể chọn các hình thức trọng tài mà họ cho là phù hợp:
trọng tài thường trực hay trọng tài ad - hoc.
bên đồng ý?
3.2.5. Quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc với các bên và không
thể bị kháng cáo.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhân danh ý
chí tối cao và quyền tự định đoạt của các bên đương sự. Các bên đương sự đã tự
do lựa chọn và tín nhiệm người phán xử cho mình thì đương nhiên phải phục
tùng quyết định của người đó. Hơn nữa, bản thân tố tụng trọng tài là tố tụng một
cấp và quyết định trọng tài khi ban hành có gía trị chung thẩm.
14
CHƯƠNG II
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG
TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM
1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
CHẾ ĐỊNH TRỌNG TÀI.
1.1. Trọng tài kinh tế nhà nước
1.1.1. Giai đoạn từ 1960 đến 1994.
Cơ quan trọng tài đầu tiên ở Việt Nam là hệ thống trọng tài nhà nước
được thành lập theo nghị định số 04/TTg ngày 1/4/1960 của Thủ tướng nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Một nghị định khác ban hành ngày 14/1/1960 quy
định về nguyên tắc hoạt động của trọng tài nhà nước là thực hiện chức năng giải
quyết tranh chấp kinh tế vừa thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với công
tác hợp đồng kinh tế. Từ hai chức năng đó ta có thể thấy, trọng tài kinh tế nhà
nước vừa là cơ quan xét xử, vừa là cơ quan quản lý nhà nước. Là cơ quan quản
lý nhà nước đương nhiên trọng tài kinh tế nhà nước phải thi hành mệnh lệnh của
nhà nước và bản thân trọng tài kinh tế nhà nước cũng có quyền ra mệnh lệnh
hành chính đối với các đối tượng có liên quan nằm trong phạm vi điều chỉnh của
pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Chính xuất phát từ địa vị pháp lý đặc biệt như vậy
mà trong thủ tục xét xử tranh chấp hợp đồng kinh tế và thủ tục xử lý vi phạm
pháp luật hợp đồng kinh tế của trọng tài kinh tế là sự đan xen giữa tố tụng tư
pháp với thủ tục hành chính.
hạn của trọng tài kinh tế nhà nước như sau:
a.Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
b. Kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp luật.
c. Tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và trọng
tài kinh tế.
d. Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế.
Cùng một lúc, trọng tài kinh tế nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý
các doanh nghiệp nhà nước, vừa giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với
nhau. Do đó, dù với tư cách là một tổ chức trọng tài hay với tư cách là một cơ
16