QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2011- 2020 - Pdf 37

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

DỰ THẢO 7

ĐỀ ÁN
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIAI ĐOẠN 2011- 2020

Hà Nội, tháng 9 năm 2011


MỤC LỤC
Nội dung
Phần mở đầu
1. Sự cần thiết phải xây dựng Quy hoạch
2. Mục đích yêu câu cầu và phạm vi quy hoạch
3. Những căn cứ chủ yếu của việc xây dựng Quy hoach
4. Kết cấu của Quy hoạch
Phần thứ nhất: Hiện trạng phát triển nhân lực nông nghiệp và phát triển
nông thôn
I. Khái quát về dân số và nhân lực Việt Nam
II. Tình hình phát triển nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn
2.1. Biến động về nhân lực nông nghiệpvà phát triển nông thôn
2.2. Nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn chia theo một số chủ thể

Trang
2
2
3
4

I. Quan điểm, mục tiêu.
II. Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn.
III. Giải pháp
Phần thứ năm : Tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực nông
nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2020
Kết luận và kiến nghị
1

14
14
15
18
19
19
21
21
23
27
29
32
32
34
36
37
40
40
41
42
45

được đào tạo ngày càng tăng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất,
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động
phi nông nghiệp và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về lao động.
Nguồn nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn được đánh giá là một
nguồn lực dồi dào và tiềm năng đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam trong những năm qua và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế trình độ
chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn còn
nhiều bất cập, thị trường lao động nông thôn mang tính tự phát và không rõ ràng. Với
70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn, lao động ở khu vực nông thôn
chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước và phần lớn tập trung sản xuất trong lĩnh
vực nông nghiệp với năng suất lao động thấp, phương thức sản xuất lạc hậu dẫn đến
hiệu quả không cao.
2


Mặt khác trong quá trình triển khai phát triển nhân lực nông nghiệp và phát
triển nông thôn, các cấp, các ngành/lĩnh vực còn nhiều khó khăn lúng túng, nên kết
quả chưa được như mong đợi, tình trạng không ăn khớp giữa đào tạo và sử dụng nhân
lực, nơi thừa, nơi thiếu, người lao động không được làm việc đúng chuyên môn, trình
độ đào tạo …còn khá phổ biến dẫn đến lãng phí nguồn lực, sử dụng lao động không
hiệu quả, năng suất lao động thấp.
Mục tiêu chung phát triển giáo dục đến năm 2020 là phải có bước chuyển cơ
bản về chất lượng và quy mô, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội và nâng cao tiềm năng trí tuệ, tăng sức cạnh tranh, tiếp cận trình
độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, góp phần quan trọng phát triển kinh tế đất
nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Với tinh thần đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn. Vì vậy hiện nay,
việc có một Đề án Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và phát triển
nông thôn là hết sức cần thiết.

3. Những căn cứ chủ yếu của việc xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực
Nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2020
- Luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề;
- Các văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X và lần thứ XI;
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khoá VII), Hội nghị Trung ương 2 (Khoá
VIII), Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khoá IX), Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 4 (Khoá X) về phát triển nhân lực Việt Nam và về chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ quy định về lập,
phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ, sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về
lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội;
- Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ về triển
khai xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn
2011-2020;
- Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày
19/4/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020;
Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân
lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020; Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 23/11/2009 phê
duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định số
10/2008/QĐ-TTg ngày 31/01/2008 phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi Việt
Nam đến năm 2020; Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 phê duyệt Chiến
lược phát triển thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020; Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày
09/10/2009 phê duyệt định hướng Chiến lược phát triển thuỷ lợi Việt Nam; Quyết
định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 phê duyệt Chiến lược phát triển lâm
nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 ...
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các vùng thời kỳ 2011-2020;
- Văn bản số 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát

và báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2009 và ước thực hiện đến năm 2010,
dân số trong độ tuổi lao động (nam 15-60, nữ 15-55 tuổi) có khoảng 56,5 triệu người
chiếm khoảng 65% tổng dân số. Tốc độ tăng dân số có chiều hướng giảm, từ mức
1,65% năm 1995 xuống còn 1,36% năm 2000 và 1,22% năm 2008.
Dân số nước ta phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Vùng
đông dân nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) với 19,5 triệu người; vùng có
số dân ít nhất là Tây Nguyên: hơn 5 triệu người. Hai vùng ĐBSH và Đồng bằng sông
Cửu Long tập trung tới 43% dân số cả nước. Trong khi đó, Tây Nguyên và Trung du
miền núi Bắc Bộ chỉ có khoảng 19% dân số cả nước sinh sống.
Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông nghiệp với 70% (2010).
Dân cư đô thị khoảng 30% và là nước có tỷ lệ dân số đô thị thấp trên thế giới.
1.2. Lao động
a) Lực lượng lao động Việt Nam
Lực lượng lao động (dân số hoạt động kinh tế) của nước ta hiện nay là 50,4
triệu người (trên tổng số 56,5 triệu người trong độ tuổi lao động), bằng khoảng 58%
tổng dân số. Trong tổng số lực lượng lao động của cả nước, nữ giới chiếm tỷ trọng
48%, nam 52%. Số người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân là 48,9 triệu
người, bằng khoảng 97% tổng lực lượng lao động. Trong ba thập kỷ qua, mặc dù có
sự tăng lên đáng kể về tỷ trọng lực lượng lao động khu vực thành thị, nhưng đến năm
2010 có gần 3/4 số lao động ở khu vực nông thôn.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo phân loại trình độ chuyên môn kỹ thuật
được Tổng cục Thống kê dựa trên danh mục “Giáo dục, đào tạo Việt Nam năm 2005”
1

Thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” được quan niệm là quãng thời gian khi tổng tỷ suất phụ thuộc
(số người trong độ tuổi 0-14 tuổi cộng với số người từ 65 tuổi trở lên, chia cho số người trong độ
tuổi 15-65) ở mức dưới 50%.

6


2000

2005

2009

Ước
2010

Tổng số

37,6

42,8

47,8

Nông, lâm, ngư nghiệp

24,5

24,4

%

65,2

Công nghiệp & xây dựng

%


57,1

52,1

50,9

4,9

7,8

10,2

10,9

9,6%

6,9%

8,2%

13,0

18,2

21,3

22,2

8,2

có xu hướng tăng nhanh từ 1,0 triệu người năm 2000 lên 1,4 triệu người năm 2005 và
đạt 1,9 triệu người năm 2010 (tăng bình quân 6,6%/năm giai đoạn 2001-2010). Xu
hướng đó phản ánh xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
và chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn mà Đảng và Nhà nước ta đang
triển khai thực hiện.
Bảng 2: Lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Đơn vị: Nghìn người
Tốc độ tăng trưởng
bình quân năm (%)

2000

2005

2009

Ước
2010

Tổng lao động
nông nghiệp và
PTNT

24.500

24.400

24.800

24.900

92,7

92,4

Ngư nghiệp

1.000

1.500

1.800

1.900

8,4

4,8

6,6

4,1

6,1

7,3

7,6

Năm


và PTNT cũ 1301 và Bộ Thuỷ sản 281 công chức - Tổng biên chế được giao: 1628);
Viên chức trong chỉ tiêu biên chế của các đơn vị sự nghiệp là 15.081.
Trong đó có 2039 người có trình độ từ thạc sĩ trở lên (chiếm 12%), trong đó: 36
Giáo sư (1,4%); 196 Phó Giáo sư (8,6%); 474 Tiến sĩ (23,2%) và 1361 Thạc sĩ
(66,7%). Số cán bộ, công chức có trình độ đại học và cao đẳng chiếm : 69%, TCCN
là: 18% và số còn lại là công nhân kỹ thuật.
Hầu hết cán bộ công chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tốt
nghiệp các chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy lợi,
Thủy sản, Kinh tế phát triển nông thôn. Một số cán bộ làm việc liên quan đến ngành
nông nghiệp hiện đang làm việc tại các Bộ ngành khác (Bộ Tài nguyên và môi
trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ...).
Bảng 3. Hiện trạng nhân lực khối TW:
Đơn vị tính: người
Số lượng
Cơ cấu theo
Các lĩnh vực chủ yếu
Theo Ngành
nhân lực
Tỉ lệ (%)
Nông nghiệp
40,2
Trồng trọt, chăn nuôi, thú y,
8623
bảo vệ thực vật, thổ nhưỡng,
công nghệ sinh học, quản lý đất
đai, cơ điện nông nghiệp ...
Lâm nghiệp
16,3
Lâm học, chế biến lâm sản,
3513

nghiệm nghề nghiệp chưa nhiều, một số có trình độ còn hạn chế, số thạc sĩ được đào
tạo nước ngoài về thường không muốn làm việc trong các cơ quan nhà nước. Cán bộ,
công chức có trình độ cao và có kinh nghiệm đa số thuộc diện lớn tuổi và thường là
tham gia công tác quản lý. Số cán bộ công chức sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong
giao tiếp, trong tham gia các hội nghị, hội thảo và đàm phán quốc tế còn rất hạn chế;
trong khi sự phát triển của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn lại diễn ra
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế gay gắt, các rào cản thương mại được che đậy
bằng các yêu cầu tuân thủ về môi trường, an toàn thực phẩm và an sinh xã hội đã tạo
thêm áp lực lớn cho ngành, đòi hỏi các cán bộ quản lý ngành ngày càng phải năng
động, linh hoạt và có trình độ cao về chuyên môn, ngoại ngữ và các kiến thức mọi
mặt để có thể hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Ngoài ra, chính sách trả lương và cơ chế hiện tại đã không thu hút được các cán
bộ có trình độ và năng lực, nhạy bén với cơ chế thị trường vào làm việc cho các cơ
quan quản lý và sự nghiệp của ngành, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu phát triển
ngành và trình độ của cán bộ công chức trong ngành ngày càng tăng.
2. Khối địa phương
Hiện nay cả nước có 63 tỉnh thành. Mỗi một tỉnh thành đều có Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn. Mỗi một Sở có trung bình 4,7 chi cục và 4,35 phòng.
Cả nước có 659 huyện (534 huyện, 42 quận, 61 thị xã, 22 thành phố trực thuộc
tỉnh). 80% các huyện trên có phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ngoài ra có
500 trạm thú y, 543 trạm bảo vệ thực vật, 520 trạm khuyến nông, 424 hạt/trạm kiểm
lâm.
Cả nước có 10.843 xã, phường (9.111 xã, 1.137 phường, 595 thị trấn).
Trong thời gian qua, lực lượng cán bộ, công chức các Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển mạnh mẽ của Ngành. Các cán
bộ công chức các Sở tích cực, chủ động trong chỉ đạo sản xuất, góp phần đưa vào áp
dụng trong thực tế các đối tượng sản phẩm nông nghiệp và phát triển nông thôn; các
phương pháp quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thú y và vệ sinh thực phẩm, đưa các
mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả về địa phương; hỗ trợ các cơ sở sản xuất
kinh doanh, các hộ gia đình đẩy mạnh phát triển kinh tế của gia đình, của địa phương


11


Bảng 4. Hiện trạng nhân lực nông nghiệp cấp địa phương:
STT
I
A
B
1
2
3
4
5
II
A
B
1
2
3
4
5
III
A
B
1
2
3
4
5

794
619
699
329
290

6757
2680
4539
1759
822

681
573
622
548
525

2833
1446
2259
882
384

339
205
134

7765
2103

518
207
105

64
18
46

6300
3355
2945

2248
528
1720

24951
7819
17132

16
12
14
2
2

1184
480
801
321

Lâm nghiệp
Thủy lợi
Thủy sản
Kinh tế NN
&PTNT
Cấp Xã
1. Cán bộ quản lý
2. Cán bộ chuyên
môn
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thủy lợi
Thủy sản
Kinh tế NN
&PTNT

(Lĩnh vực kinh tế NN&PTNT bao gồm lĩnh vực Kinh tế nông nghiệp PTNT và
các lĩnh vực khác liên quan đến nông nghiệp)
Lực lượng cán bộ quản lý ngành Nông nghiệp ở các địa phương còn ít về số
lượng và tỷ lệ cán bộ có trình độ trên đại học thấp hơn so với khối cơ quan quản lý và
sự nghiệp của ngành ở trung ương, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng cũng
12


thấp hơn. Cán bộ tham gia công tác quản lý hoặc chuyên môn nông nghiệp và phát
triển nông thôn ở cấp huyện thường là cán bộ nông nghiệp kiêm nhiệm hoặc chỉ có
cán bộ có trình độ trung cấp, hoặc qua lớp đào tạo ngắn hạn về nông nghiệp và phát
triển nông thôn (tỷ lệ này chiếm trên 70%). Trong một thời gian dài, một số huyện ở
trung du, miền núi và đồng bằng trong cả nước chưa thực sự coi trọng phát triển nhân
lực nông nghiệp và phát triển nông thôn, nên không có cơ quan chỉ đạo riêng hoặc

74,9%

• Trình độ chuyên môn qua đào tạo:
- Tập huấn :

52,1%

- Sơ cấp:

9,0%

- Trung cấp:

5,5%

- Cao đẳng và đại học:

8,1%

- Trên đại học:

1,0%

• Trình độ nghề nghiệp: phần lớn lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh
nông nghiệp chưa được qua đào tạo chính quy, mà thường chỉ được bồi dưỡng theo
hình thức giáo dục cộng đồng hoặc tiếp thu kiến thức, kỹ năng theo truyền thống gia
đình và làng nghề.
13



tạo thuộc các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước, các cơ sở đào tạo nông nghiệp và
phát triển nông thôn đã đào tạo được một lực lượng lớn nguồn nhân lực cho Ngành,
cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu về số lượng nhân lực nông nghiệp và phát triển nông
thôn, đóng góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của
Ngành. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo nông nghiệp và phát triển nông thôn còn đào tạo,
hoặc cử cán bộ, giáo viên sang đào tạo nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp các
nước bạn Lào, Căm pu chia, góp phần củng cố tình hữu nghị giữa các nước.
- Cơ cấu các ngành, nghề đào tạo đã từng bước được cải thiện, đáp ứng được sự phát
triển của Ngành. Một số cơ sở đào tạo hàng đầu đã đào tạo được cán bộ có trình độ
tiến sĩ, thạc sĩ, đại học. Đào tạo các cấp trình độ cao đẳng, TCCN, dạy nghề, bồi
14


dưỡng ngắn hạn, đào tạo lao động nông thôn trước mắt đã đáp ứng được phần lớn nhu
cầu sử dụng lao động của toàn Ngành và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân.
- Quy mô đào tạo tăng nhanh theo nhu cầu sử dụng nhân lực của Ngành và nhu cầu
học tập của xã hội. Hệ thống đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông
thôncủa các cơ sở ngoài Bộ phát triển mạnh và được phân bố ở hầu hết các vùng lãnh
thổ, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Công tác xã hội hoá đào tạo bước
đầu được thực hiện, nhiều tổ chức, hội, hiệp hội, doanh nghiệp cũng tham gia đào tạo,
thu hút khá đông học viên.
- Hình thức đào tạo đa dạng, bao gồm đào tạo chính quy, không chính quy, liên
thông, liên kết, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo dài hạn, ngắn hạn, trong trường, ngoài
trường…
- Năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở thuộc Bộ được nâng cao đáng kể: số
lượng, trình độ của đội ngũ cán bộ, giáo viên ngày càng tăng, cơ bản đáp ứng yêu cầu
đào tạo hiện tại. Cơ sở hạ tầng được xây dựng khang trang. Trang, thiết bị phục vụ
đào tạo được cải thiện đáng kể. Chương trình, giáo trình tài liệu giảng dạy cơ bản đầy
đủ. Phương pháp giảng dạy bước đầu được đổi mới theo hướng hiện đại; công tác
quản lý, phục vụ phù hợp với cơ chế quản lý mới. Chất lượng đào tạo có chuyển biến

thường xuyên.
- Nội dung đào tạo một số chuyên ngành chưa được chuẩn hoá, thống nhất, ít đổi
mới, chưa thiết thực và sát thực tế, còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành; các trường
chưa kịp thời mở các ngành, nghề mới xã hội đang có nhu cầu; học sinh tốt nghiệp
chưa đáp ứng ngay yêu cầu của các doanh nghiệp (mà chủ yếu là các doanh nghiệp tư
nhân và lao động cá thể), nhiều doanh nghiệp phàn nàn về chất lượng đào tạo và phải
tổ chức đào tạo lại.
- Quy mô đào tạo tăng nhưng mất cân đối nghiêm trọng: quy mô đào tạo một số
ngành nghề (chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh tế, tài chính) tăng mạnh, trong khi một số
ngành nghề chuyên môn lại rất khó tuyển sinh do tính hấp dẫn thấp đối với người học
(thậm chí có ngành, nghề nhiều năm không tổ chức đào tạo được).
a. Mất cân đối về bậc đào tạo:
- Với việc chuyển đổi một số trường đại học chuyên ngành về nông nghiệp và
phát triển nông thôn thành các đại học vùng (ví dụ Trường Đại học Thuỷ sản thành
Trường đại học Nha Trang) nên số lượng tuyển sinh đào tạo bậc đại học về nông
nghiệp và phát triển nông thôn đặc biệt là ngành thuỷ sản hàng năm giảm đáng kể.
b. Mất cân đối về ngành, nghề đào tạo:
- Các cơ sở đào tạo đại học có đào tạo (không thuộc Bộ) chủ yếu đào tạo một số
ngành nghề nông nghiệp và phát triển nông thôn theo nhu cầu tức thời của người học.
Bộ Nông nghiệp và PTNT không chủ động được nguồn nhân lực các ngành, nghề
theo yêu cầu phát triển của ngành. Đặc biệt cán bộ trình độ đại học các ngành khai
thác thuỷ sản, thú y thuỷ sản, quản lý ngành rất thiếu và yếu.
- Tổ chức đào tạo cán bộ các ngành, nghề trong các trường thuộc Bộ cũng còn
bất cập. Một số ngành, nghề trong thời gian hàng chục năm trở lại đây không thu hút
được người học, như nghề khai thác thuỷ sản, dẫn đến khả năng thiếu hụt lực lượng
kỹ thuật viên, lao động cho các lĩnh vực trên. Một số trường còn tuyển sinh đào tạo
một số ngành, nghề ít liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn để đủ chỉ
tiêu được giao hàng năm và đáp ứng nhu cầu của người học (ví dụ: kế toán, tin học
… học viên học các ngành, nghề này khi tốt nghiệp thường ít làm việc cho Ngành).
Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng chưa có chính sách thu hút học sinh học

đầu tư, không có kế hoạch ổn định, nên quy mô đào tạo không ổn định, chất lượng
đào tạo không cao.
- Bộ không có trường đại học về lĩnh vực thủy sản. Trường Đại học Thuỷ sản (là
trường đại học duy nhất của ngành thuỷ sản) đã được chuyển thành thành Trường Đại
học Nha Trang đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn không chủ động được quy mô, sự cân đối về ngành nghề và chất lượng đào tạo
nhân lực thuỷ sản trình độ đại học và sau đại học.
- Khó phát triển hoạt động hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ, sản xuất dịch vụ do thiếu chuyên gia giỏi và tài chính để đầu tư; công tác
kiểm định chất lượng trường chưa thực hiện được nhiều (trừ các trường đại học).
- Việc đào tạo, bồi dưỡng gắn với công tác quy hoạch cán bộ của các đơn vị trong
ngành tiến hành còn chậm. Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý, điều hành trước khi
bổ nhiệm còn hạn chế; chưa hình thành được những lớp chuyên đề cho lĩnh vực này.
17


- Công tác Hợp tác quốc tế về đào tạo sau đại học tuy được đặt ra song chưa được
đẩy mạnh, chưa có giải pháp chung cho tất cả các cơ sở mà dựa chủ yếu vào điều
kiện và sự tích cực của các đơn vị. Muốn hội nhập một cách đích thực, đội ngũ những
người có trình độ cao về khoa học công nghệ, quản lý mà trước hết là đội ngũ thạc
sỹ, tiến sỹ do chính cơ sở đào tạo ra phải đủ trình độ tham gia có hiệu quả trong các
tổ chức khoa học, đào tạo ở khu vực và Quốc tế.
3.3. Nguyên nhân và bài học
- Chủ trương, đường lối phát triển nhân lực phải được thể hóa bằng các văn bản
quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách và các kế hoạch phát triển, đồng thời phải
tăng cường tính pháp lý của việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối đó.
Trên thực tế việc giám sát, đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối này
chưa được tiến hành đủ mức.
- Do chưa tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển nhân lực cấp quốc gia nên
việc cụ thể hóa phát triển nhân lực cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp;
phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng
thu nhập và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8%. Tạo chuyển biến rõ rệt về mở
rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công nghệ.
Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực. Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng sản xuất
kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên kết dọc theo
ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh. Phát triển doanh nghiệp
nông thôn.
Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển
kinh tế nông thôn. Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái nông thôn tập trung vào
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật
nuôi, phòng chống thiên tai.
Cộng đồng cư dân nông thôn chủ động, tích cực thực hiện xây dựng nông thôn mới.
20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, đặc biệt ở các
huyện còn trên 50% hộ nghèo.
Giai đoạn 2016-2020: phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản
xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa,
19


đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân
nông thôn, bảo vệ môi trường
Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5-4%/năm. Hình
thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc
tế.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị
trường. Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp.

3,5 - 4,0

Tỷ trọng GDP của ngành so với GDP
chung

%

16

14-15

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất toàn
ngành

%

4 – 4,5

4,5-5,0

Năng suất bình quân của lao động ngành
NLTS

Tr. đ

20

30

Tỷ lệ vốn đầu tư vào ngành NLTS/GDP

đội ngũ nhân lực chất lượng cao theo tiêu chuẩn khu vực và từng bước tiến tới chuẩn
quốc tế để thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hóa Ngành và
góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng và bảo vệ tổ quốc; đồng thời làm
căn cứ để các cấp lãnh đạo thuộc Ngành xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực của
đơn vị mình và kế hoạch phát triển nhân lực 5 năm và hàng năm.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong toàn Ngành bằng các hình thức và
trình độ đào tạo khác nhau từ 15,5 % năm 2010 lên 50 % vào năm 2020.
- Phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực của Ngành ở mọi lĩnh vực, vùng, miền,
đảm bảo đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và chuyên môn, có chất
lượng cơ bản ngang tầm các nước trung bình trong khu vực, từng bước đáp ứng các
yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế; đồng thời ưu tiên phát triển những lĩnh
vực mũi nhọn, có lợi thế cạnh tranh, hoặc các lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng lớn
đến an ninh quốc gia, các lĩnh vực có sức thu hút nhân lực thấp.

21


- Phát triển hợp lý mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực cho Ngành và đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên đủ điều kiện đào tạo nhân lực các trình độ
đáp ứng yêu cầu phát triển của Ngành.
III. DỰ BÁO BIẾN ĐỘNG NHÂN LỰC QUA CÁC GIAI ĐOẠN

Nhân lực trong toàn Ngành năm 2010 là 24,9 triệu người (chiếm khoảng 51,0%
tổng nhân lực trong nền kinh tế), năm 2015 có khoảng 24 - 25 triệu người (chiếm
khoảng 45,0 - 46,0% tổng nhân lực trong nền kinh tế) và năm 2020 khoảng 22 - 24
triệu người (tương đương với khoảng 35,0 - 38,0% tổng nhân lực trong nền kinh tế). `
Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong toàn Ngành tăng từ mức 15,5% năm 2010 lên
khoảng 28,0% năm 2015 và khoảng 50,0% năm 2020. Trong số nhân lực được đào
tạo, trình độ sơ cấp nghề chiếm khoảng 73,0% năm 2015 và khoảng 69,5% năm

24.900

25.000

25.000

24.000

% so với tổng LĐ làm việc
trong nền kinh tế

51,0

50,0

46,0

38,0

II. Lao động trong khu
vực Nông lâm ngư
nghiệp qua đào tạo

3.850

4.300

7.000

12.000

- Cao đẳng nghề

Cơ cấu bậc đào tạo (%)
2010

2015

2020

-

-

-

100,0

100,0

100,0

11.200

91,4

92,9

93,3

5.100


3,5

3,8

2.2. Hệ giáo dục - đào tạo

340

390

500

800

8,6

7,1

6,7

- Trung cấp CN

120

140

180

300

2011

2015

Cơ cấu bậc đào tạo (%)

2020

2010

2015

2020

52

60

100

200

1,2

1,3

1,7

8



- Cao đẳng

230

280

450

720

5,9

6,5

6,0

Hình 2.5: Cơ cấu lao động qua đào tạo khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp
đến năm 2020

Bảng 7: Dự báo nhu cầu nhân lực chia theo bậc đào tạo của ngành Nông nghiệp và
PTNT đến năm 2020
Nghìn người
Nhu cầu lao động qua đào tạo
2010

2011

2015



6.000

10.300

% so với tổng lao động
nông lâm nghiệp

14,4

16,2

26,3

47,9

23

Cơ cấu bậc đào tạo (%)
2010

100

2015

100

2020

100


92,5

93,0

- Sơ cấp và không bằng

2.400

2.580

4.320

7.120

72,2

72,0

69,1

- Trung cấp nghề

570

700

1.000

2.060


720

9,7

7,5

7,0

-Trung cấp chuyên nghiệp

110

129

160

270

3,3

2,7

2,6

- Cao đẳng

160

175


35

0,2

0,2

0,3

- Đại học
- Trên đại học

Cộng nhóm trung cấp và cao đẳng
- Trung cấp

680

830

1.170

2.330

20,4

19,5

22,6

- Cao đẳng


2020

48.900

50.000

55.300

62.600

1.830

1.900

2.200

2.500

II. Tổng lao động thủy
sản qua đào tạo

520

560

1.000

1.700



6

Tổng số nhân lực làm
việc trong nền kinh tế
I. Tổng LĐ thủy sản

2015

2020

100,0

100,0

100,0

1.620

95,0

95,0

95,3

780

1220

76,2


2010



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status