Luận văn tốt nghiệp giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh gia lai - Pdf 37

1

1.

ý do chọn đề tài
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt

động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chúng ta cần khẳng định rằng không
thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng
như các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng nếu như không có
vốn. Đối với các NHTM với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung
gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan
trọng. NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn. Nhưng để cung cấp đủ vốn đáp
ứng nhu cầu thị trường, ngân hàng sẽ phải huy động vốn từ các nguồn khác
nhau trong xã hội. Bằng lượng vốn huy động được trong xã hội thông qua
hoạt động huy động vốn, NHTMCP Đầu tư và Phát triển đã cung cấp một
lượng vốn lớn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách
nhanh chóng, kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Do vậy trong thời gian tới,
để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đồng thời đáp ứng cho sự phát triển
chung của nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống ngân hàng thì
việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt lên
hàng đầu đối với hệ thống NHTMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV).
BIDV Gia Lai là đơn vị thành viên trực thuộc BIDV đã và đang chú
trọng đến chỉ tiêu huy động. Trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã có hơn 25 chi nhánh
NHTM và hơn 107 phòng giao dịch đã khiến thị trường ngày càng bị thu hẹp
điều kiện cạnh tranh đã trở nên gây gắt, thị phần có dấu hiệu giảm sút.
Xuất phát từ những thực tế trên, kết hợp với quá trình thực tập tại
NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Gia Lai nên em đã chọn
đề tài “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng T CP ầu tư
và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Gia
mình.

Khóa luận tốt nghiệp ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của NHTM.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Gia Lai.
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Gia Lai.


3
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo– Th.S Đặng Thị Thơi, cùng các
bác, cô chú, anh chị công tác tại Ngân hàng NHTM Đầu tư và Phát triển
Việt Nam- Chi nhánh Gia Lai đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình
thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này!
Do chưa có kinh nghiệm thực tế nên bài viết của em còn nhiều thiếu
sót rất mong được sự góp ý của các thầy cô, các bác, cô chú, anh chị tại
Ngân hàng để bài viết của em được hoàn chỉnh.
Em xin chân thành cảm ơn!

Bình Định, ngày 1 tháng 5 năm 2014.
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hai


4

CHƯƠNG 1
N CƠ


+ Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

b.

Tiền gửi có kì hạn: (Trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kì). Các

loại kì hạn thường như sau:


5
+ Tiền gửi kì hạn 1 tháng
+ Tiền gửi kì hạn 3 tháng
+ Tiền gửi kì hạn 6 tháng
+ Tiền gửi kì hạn 9 tháng
+ Tiền gửi kì hạn 12 tháng
+ Tiền gửi kì hạn 24 tháng
+ Tiền gửi kì hạn 36 tháng
+ Kỳ phiếu 3, 6 ,9 tháng
+ Chứng chỉ tiền gửi
+ Trái phiếu 5, 10 năm
Mục đích của việc phân loại tiền gửi theo kì hạn là phản ánh độ thanh
khoản của từng loại tiền nhằm giúp ngân hàng quản lí tốt hơn và đáp ứng nhu
cầu để cho vay hiệu quả hơn. Phân loại tiền gửi trên sẽ giúp ngân hàng tiếp
cận tốt hơn đối với nhu cầu gửi tiền của khách hàng, thu hút nhiều người có
tiền nhàn rỗi hơn đến ngân hàng gửi tiền.
1.1.2.2. Phân loại vốn huy động theo đối tượng huy động
Việc phân loại tiền gửi theo đối tượng khách hàng nhằm giúp cho ngân
hàng phục vụ khách hàng tốt hơn, phân đoạn thị trường, đánh giá được tỉ
trọng các loại hình khách hàng trong cơ cấu tiền gửi của ngân hàng, qua đó sẽ
đề ra được các chính sách đối với từng loại hình khách hàng. Tùy theo từng

ngân hàng cũng đã hạn chế được các vấn đề của thị trường như thông tin
không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn của NHTM cũng góp
phần hình thành nên tỷ suất lợi nhuận tối thiểu của các doanh nghiệp. Nó
buộc các doanh nghiệp phải hoạt động với tỷ suất lợi nhuận lớn hơn so với lãi
suất huy động của các ngân hàng; là cơ sở tham chiếu để cá nhân, tổ chức lựa
chọn nên tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hay gửi tiền vào ngân
hàng.
Sự phát triển của ngân hàng về quy mô, uy tín, công nghệ, mạng lưới


7
chi nhánh… được coi là tấm gương phản ánh sự phát triển kinh tế của một
nước. Một nền kinh tế phát triển là ở đó ngành dịch vụ phát triển và một trong
những lĩnh vực dịch vụ đi đầu đó là dịch vụ ngân hàng. Huy động vốn là một
trong các hoạt động thu hút khách hàng đến với ngân hàng, tạo điều kiện cho
khách hàng tiếp xúc, sử dụng các dịch vụ tiện ích của ngân hàng. Điều này
không những làm tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng mà còn góp phần
hình thành nên thói quen, phong cách giao dịch, sử dụng các phương tiện giao
dịch, thanh toán hiện đại, nhanh chóng, tiện lợi thông qua các dịch vụ, nghiệp
vụ ngân hàng hiện đại.
1.1.3.2. ối với NHT
Hoạt động huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thực hiện các hoạt động
kinh doanh của mình. Nguồn vốn của NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn
huy động. Ngân hàng là một trung gian tài chính đi vay để thực hiện kinh
doanh thu lợi nhuận. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan
trọng giúp ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Quy mô,
cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp quyết định đến quy mô và cơ cấu tín dụng
của NHTM. Các ngân hàng không thể cho vay dài hạn với quy mô lớn trong
khi vốn huy động nhỏ và thời hạn ngắn.

Tóm lại, hoạt động huy động vốn là cơ sở, tiền đề nó tạo ra nguồn vốn
cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó tác động không chỉ cho vay, đầu tư
và các nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến
nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn huy động của NHTM gia tăng thể hiện sự
tích lũy tập trung vốn đạt hiệu quả cao tạo điều kiện để phát triển kinh tế đất
nước. Nhưng điều này sẽ hạn chế việc phát triển các cơ sở sản xuất, kinh
doanh của tư nhân. Lãi suất gia tăng sẽ thúc đẩy nguồn vốn huy động gia tăng
nhưng sẽ hạn chế đầu tư dân cư. Như vậy có thể nói huy động vốn phù hợp
với mục tiêu kinh doanh của ngân hàng và đáp ứng được nhu cầu phát triển
của nền kinh tế thực sự là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với các nhà
ngân hàng mà còn đối với các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế


9

của quốc gia.
1.2. Các nghiệp vụ huy động vốn của NHT
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm thu hút vốn từ bên
ngoài phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Thông qua nghiệp vụ này sẽ hình
thành nên nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng.
Ngoài lợi nhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu Ngân hàng thường huy
động những nguồn vốn sau:
1.2.1. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi
Là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và có vai trò
chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm:
 Tiền gửi thanh toán
Đây là khoản tiền của khách hàng gửi vào ngân hàng để nhờ ngân
hàng giữ và thanh toán hộ. Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho
khách hàng. Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh
toán trong phạm vi số dư. Các nhu cầu chi trả hợp pháp của khách hàng đều

Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ
được chi trả sau một thời gian nhất định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện
cho hoạt động thanh toán song lãi suất rất thấp. Để đáp ứng nhu cầu của
người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kì hạn. Người gửi
không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để
áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân
hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi
thanh toán, song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy theo độ
dài của kì hạn. Để mở rộng khoản vốn này, ngoài biện pháp lãi suất ngân
hàng có thể thực hiện một số biện pháp nhằm tạo nên tính lỏng cho loại tiền
gửi có kỳ hạn như cho phép khách hàng rút trước hạn hoặc xổ số trúng
thưởng,...
Song đối với các khoản tiền gửi khách hàng rút ra trước hạn, ngân hàng
thường áp dụng lãi suất của kỳ hạn ngắn hơn hoặc lãi suất của tiền gửi không


11
kỳ hạn. Khách hàng gửi tiền có kỳ hạn nhìn chung không được phát hành séc
hoặc sử dụng dịch vụ ngân hàng từ tài khoản này. Ngân hàng được toàn
quyền sử dụng lượng vốn này trong thời hạn khách hàng gửi tiền nên hiệu quả
sử dụng nguồn vốn này là rất cao. Tuy nhiên chi phí huy động của loại vốn
này lại khá đắt vì lãi suất huy động cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
[1,Tr 39-40]
 Tiền gửi tiết kiệm
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng
cho tiêu dùng cá nhân (các khoản tiền tiết kiệm). Các cá nhân đều tìm các cơ
hội để bảo toàn và gia tăng sinh lời trên tiền tiết kiệm của mình. Các hình
thức đầu tư như gửi tiết kiệm, mua chứng khoán chính phủ hoặc công ty, mua
vàng, bất động sản hoặc ngoại tệ mạnh. Một số người sử dụng cho vay trong
các hội, cho vay người thân… với lãi suất cao hơn gửi vào ngân hàng.

dài hạn, người tham gia ngoài việc được ngân hàng trả lãi còn được ngân
hàng cấp tín dụng nhằm mục đích bổ sung thêm vốn để mua sắm các phương
tiện phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
 Tiền gửi của các ngân hàng khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, NHTM
này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, quy mô nguồn tiền này
không lớn. [1,Tr 42]
Đặc điểm chung của nguồn tiền gửi là phải được thanh toán khi khách
hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn nhưng chưa đến hạn. Quy mô
của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường nguồn này chiếm 65 70% tổng nguồn vốn và được huy động thường xuyên. Là đối tượng phải dự trữ
bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi. Ở nhiều
nước, ngân hàng phải mua bảo hiểm cho tiền gửi. Tiền gửi đặc biệt là tiền gửi
ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ
chi tiêu,…Việc huy động tiền gửi chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố như địa
điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy tiết kiệm, phương thức huy động,


13
các dịch vụ tiện ích của ngân hàng,…
1.2.2. Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá
Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá Ngân hàng chủ động phát
hành các loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động
vốn nhằm thực hiện các dự án đầu tư đã định. Thông thường đây là những
khoản vay không có tài sản đảm bảo. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi
cao sẽ vay mượn nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực
tiếp bằng cách này. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển
của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn
của ngân hàng. Ngân hàng cần nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định quy
mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Việc huy động vốn
dưới hình thức phát hành chứng từ có giá được thực hiện theo ba phương

 Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay các tổ chức tín
dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt
yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm
cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất
cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay
mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Như vậy, nguồn vay mượn từ các
ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong
nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân hàng
Nhà nước. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ
trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lí để thỏa thuận
về quy mô, lãi suất, thời hạn vay. Khoản vay nay thường không cần đảm bảo,
hoặc được đảm bảo bằng chứng khoán có chất lượng cao. Kết quả là dự trữ
của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.
Vay trên thị trường liên ngân hàng có thể qua đêm vài ngày cho đến vài
tháng. Lãi suất vay phụ thuộc nhiều vào cửa sổ chiết khấu của Ngân hàng Nhà
nước và uy tín của ngân hàng đi vay. [1,Tr 42]
1.3. Tăng cường hoạt động huy động vốn của NHT


15
1.3.1. Nội dung tăng cường hoạt động huy động vốn
a. Khái niệm tăng cường hoạt động huy động vốn
Tăng cường hoạt động huy động vốn là việc gia tăng quy mô huy động
vốn trên cơ sở bảo đảm tính hợp lý về cơ cấu và kiểm soát chi phí vốn huy
động phù hợp với mục tiêu, chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
b.

ục tiêu của tăng cường huy động vốn
+ Tạo lập và giữ vững sự ổn định của nguồn vốn huy động, đảm bảo đủ

- Tốc độ tăng số dư huy động vốn qua thời gian


16

Tốc độ tăng trưởng vốn

Đ ă

=

à



huy động



Đ ă

Đ ă

ướ

ướ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh sự gia tăng trưởng nguồn vốn huy
động của ngân hàng. Nếu tỉ lệ này lớn hơn 100% chứng tỏ quy mô, khối
lượng vốn của ngân hàng năm này mở rộng hơn so với năm trước. Việc mở

à



độ

ê đị

à

c. Cơ cấu tiền gửi huy động
Tỉ trọng từng vốn
huy động tiền gửi

=
=













Ý nghĩa: Cơ cấu vốn tiền gửi là tỉ trọng mỗi loại tiền gửi trên tổng

tiền gửi tại ngân hàng. Vào cuối năm mọi người thường rút tiền để tiêu dùng hơn
các thời điểm khác trong năm; thu nhập của người dân cao sẽ tạo điều kiện để
các ngân hàng gia tăng lượng tiền gửi hơn là những khu vực dân cư có thu nhập
thấp.
Đối với các tổ chức kinh tế, thời vụ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng
đến quy mô tiền gửi tại các ngân hàng, do nhu cầu gửi tiền rút tiền biến động.
Thông thường thời điểm cuối năm là thời gian các doanh nghiệp cần rút tiền
nhiều để thanh toán, chi trả hàng hóa, dịch vụ, giải ngân cho các dự án đầu tư.
Trong chiến lược khách hàng, các NHTM cần phát huy tối đa khả năng


18
tiếp cận khách hàng trên cơ sở thu thập những thông tin phản hồi để có những
điều chỉnh kịp thời đối với sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất
lượng dịch vụ.
b.

Các nhân tố từ phía nền kinh tế



Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô

Chính sách phát triển kinh tế xã hội cùng với các chính sách quản lý
kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Công cuộc
CNH – HĐH của đất nước cần rất nhiều nguồn vốn đầu tư đã và đang tạo
ra áp lực lên hoạt động huy động vốn của NHTM. Chính sách mở cửa của
nhà nước với Luật đầu tư nước ngoài, các hiệp định thương mại giữa VN
và các quốc gia trên thế giới thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện
cho huy động vốn bằng ngoại tệ ở trong nước. Xu hướng toàn cầu hóa nền

Luật Ngân hàng Nhà nước, Bộ Luật dân sự… bao gồm các quy định về tỷ
lệ huy động vốn so với vốn tự có, quy định việc phát hành kỳ phiếu, trái
phiếu, các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn
mức… tác động đến quy mô, cơ cấu nguồn vốn.
Môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn thiện sẽ đảm bảo cho hệ thống
ngân hàng hoạt động năng động, tự chủ, lành mạnh, an toàn, hiệu quả, tạo
điều kiện thuận lợi cho hệ thống NHTM huy động được tối đa các nguồn
vốn trong và ngoài nước.


Môi trường kinh tế

Huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng chịu tác động trực tiếp
của một số chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc
dân, mức thu nhập của người dân, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm
phát…Trong điều kiện nền kinh tế phát triển hưng thịnh, thu nhập dân cư
cao và ổn định thì nguồn tiền vào các ngân hàng cũng ổn định, số vốn huy
động được dồi dào, cơ hội đầu tư cũng nhiều hơn. Nếu nền kinh tế đang
suy thoái thì khả năng khai thác vốn bị hạn chế, đồng thời ngân hàng cũng
khó khăn trong việc cấp tín dụng và đầu tư.
Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau và với các tổ chức
tài chính phi ngân hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến không chỉ hoạt động
huy động vốn mà bao gồm tất cả hoạt động của NHTM. Nhìn chung cạnh


20
tranh càng gay gắt thì càng bất lợi cho các ngân hàng, ít nhất là ở việc gia
tăng chi phí và sự thu hẹp giá cả đầu ra. Cạnh tranh tạo ra cơ hội và thách
thức cho mỗi ngân hàng, có thể sẽ mở rộng được thị phần cả đầu ra và đầu
vào của mình, ngược lại sẽ bị thu hẹp quy mô hoạt động và có thể dẫn tới

tác kinh doanh của ngân hàng bị kiện, thua lỗ, phá sản hay có dư luận
không tốt về bất kỳ thành viên nào của hội đồng quản trị. Sự phá sản của
các ngân hàng là điều không thể tránh khỏi nếu mọi người dân đều mất
niềm tin vào ngân hàng và thực tế trên thế giới đã có những hiện tượng
trên xảy ra. Với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng,
những vấn đề quan tâm của người dân nhanh chóng được cập nhật đây
được coi là những giám sát viên của nền kinh tế nói chung và ngân hàng
nói riêng. Vì vậy tất cả những hoạt động của Đảng, Chính phủ, các cơ
quan, ban, ngành và của từng ngân hàng… đều được phản ánh trung thực,
đầy đủ trên mạng, báo chí, đài, ti vi… nhằm chuyển những thông tin mới
nhất, nhanh chóng, kịp thời đến đông đảo quần chúng. Một ngân hàng có
uy tín, dư luận xã hội tốt, năng lực tài chính vững mạnh sẽ dễ dàng triển
khai các nghiệp vụ huy động vốn hơn các ngân hàng có uy tín và năng lực
tài chính kém hơn.
Mặt khác những thói quen trong tiêu dùng thanh toán bằng thẻ hay
bằng tiền mặt; cất trữ tiền tại nhà, gửi vào ngân hàng hay đầu tư chứng
khoán đều ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM. Một đất
nước có thanh toán và cất trữ bằng tiền mặt không chỉ ở các bộ phận dân
cư mà thậm chí cả một số các tổ chức kinh tế - xã hội (vì nhiều lý do khác
nhau như: tính bí mật, hoạt động kinh tế ngầm, trốn thuế, sự nghèo nàn
của các dịch vụ ngân hàng) đã làm hạn chế khả năng huy động vốn của
các NHTM. Dân cư nắm trong tay một lượng vốn lớn và nếu tạo lập được
cho họ thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng, cũng như thỏa mãn được
yếu tố tâm lý, tập quán của họ các NHTM sẽ huy động được nguồn vốn
đầy tiềm năng này.
1.4.2. Các nhân tố chủ quan
a.

Uy tín, quy mô ngân hàng


càng đa dạng sẽ càng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, do vậy sẽ thu
hút được vốn từ dân cư, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội. Ngân hàng cần có
những chính sách phù hợp để đa dạng hóa các dịch vụ đi đôi với nâng cao
chất lượng của các hoạt động này nhằm mục đích thu hút ngày càng nhiều các
nguồn vốn vào trong ngân hàng. Ngày nay nhờ sự tiến bộ của công nghệ


23
thông tin đã xuất hiện nhiều sản phẩm dịch vụ mới liên quan đến hoạt động
huy động vốn của ngân hàng như dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking),
dịch vụ BSMS, máy rút tiền tự động ATM, POS, thẻ tín dụng…Với những
sản phẩm dịch vụ mới tỷ lệ gửi tiền và thanh toán qua ngân hàng ngày càng
tăng.
c.

Đội ngũ cán bộ ngân hàng

Trình độ, năng lực cán bộ luôn ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn
của NHTM. Họ chính là những người hoạch định chính sách phát triển kinh
doanh của ngân hàng: huy động và sử dụng vốn một cách hợp lý với mục tiêu
an toàn và sinh lời. Đồng thời họ cũng là những người trực tiếp gặp gỡ, giao
dịch với khách hàng. Các cán bộ, nhân viên ngân hàng cần nâng cao trình độ
nghiệp vụ, phong cách, thái độ phục vụ văn minh lịch sự tạo nên văn hóa
riêng của ngân hàng.
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh trong lĩnh
vực ngân hàng ngày càng gia tăng. Cán bộ ngân hàng không những thực thi
nghiệp vụ nhanh chóng, chính xác, linh hoạt mà còn phải còn phải có kiến
thức sâu rộng có thể tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực kinh doanh:
mua bán ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán,…Các ngân hàng không những
cần phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên của

trường. Các ngân hàng phải vận dụng đồng bộ chính sách Marketing hỗn hợp:
chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến hỗn hợp. Phải nghiên cứu
thị trường để đưa ra chính sách Marketing phù hợp trong từng giai đoạn phát
triển của ngân hàng. Chính sách sản phẩm cần phải tạo được tính độc đáo,
khác biệt của sản phẩm dịch vụ đồng thời khách hàng dễ nhận biết được lợi
ích của sự khác biệt đó. Với chính sách giá cả thì chính sách lãi suất chính là
giá cả của sản phẩm, cần phải xây dựng một chính sách lãi suất hợp lý, linh
hoạt hấp dẫn phù hợp với từng nhóm khách hàng. Kết hợp với mạng lưới
phân phối rộng khắp gồm các chi nhánh, điểm giao dịch khang trang, công
nghệ hiện đại, phong cách phục vụ văn minh lịch sự sẽ thu hút khách hàng lựa
chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Các biện pháp xúc tiến hỗn
hợp: quảng cáo, tiếp thị, phát tờ rơi, băng rôn, áp phích… sẽ làm cho khách
hàng biết đến, hiểu hơn về dịch vụ của ngân hàng, thuyết phục họ sử dụng sản
phẩm dịch vụ và duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng.
f.

Chính sách lãi suất

Lãi suất chi trả càng cao càng có thể huy động được nguồn vốn lớn


25
song lại làm gia tăng chi phí cho ngân hàng. Một chính sách lãi suất thấp sẽ
hạn chế khách hàng gửi tiền vào ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động tín
dụng và đầu tư của ngân hàng. Vì vậy hoạch định được một chính sách lãi
suất linh hoạt, hợp lý là vấn đề luôn được đặt ra đối với các NHTM. Lãi suất
huy động phù thuộc vào lãi suất cho vay, mặt bằng lãi suất trên thị trường,
mức lãi suất cơ bản do NHNN quy định, thời hạn khác nhau lãi suất phải khác
nhau; mức độ rủi ro khác nhau lãi suất phải khác nhau; các đối tượng khác
nhau lãi suất phải khác nhau…Do đó để gia tăng nguồn vốn các ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status