MỤC LỤC
Mục lục
Lời mở đầu
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại 6
1.1.1. Khái niệm huy động vốn 6
1.1.2. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 6
1.1.2.1. Căn cứ vào đối tượng huy động 6
1.1.2.2. Căn cứ vào thời gian huy động 7
1.1.2.3. Căn cứ vào loại tiền gửi 8
1.1.2.4. Căn cứ vào công cụ huy động vốn 8
1.2. Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại 10
1.2.1. Mục tiêu của hoạt động huy động vốn 10
1.2.2. Các biện pháp phát triển huy động vốn 11
1.3. Các yếu tố tác động đến huy động vốn của Ngân hàng thương mại 13
1.3.1. Nhân tố khách quan 13
1.3.1.1. Tình hình kinh tế xã hội 13
1.3.1.2. Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô 14
1.3.2. Nhân tố chủ quan 14
1.3.2.1. Lãi suất 14
1.3.2.2. Công nghệ ngân hàng 15
1.3.2.3. Chính sách khách hàng 15
1.3.2.4. Chính sách Marketing ngân hàng 15
1.3.2.5. Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng 16
1.3.2.6. Trình độ nhân sự 16
1.3.2.7. Uy tín của ngân hàng 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI 18
2.1. Giới thiệu tóm tắt về BIDV nói chung và BIDV Tây Hà Nội nói riêng 18
2.1.1. Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 18
3.2.1. Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức huy động vốn: 46
3.2.1.1. Đối với tiền gửi dân cư 46
3.2.1.2. Đối với tiền gửi của các tổ chức kinh tế 47
3.2.2. Phát triển các hoạt động liên quan đến hoạt động huy động vốn 48
3.2.3. Hiện đại hoá kế toán ngân hàng 50
3.2.4. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ đội ngũ cán bộ 50
3.2.5. Tăng cường mở tài khoản cá nhân, séc cá nhân, thẻ thanh toán 51
3.2.5.1. Đối với séc cá nhân 51
3.2.5.2. Đối với thẻ thanh toán 52
3.2.6. Tiếp thị sản phẩm huy động vốn tới khách hàng: 53
3.2.6.1. Nghiên cứu và nắm rõ về các sản phẩm của chi nhánh 53
3.2.6.2. Tiếp cận khách hàng, giới thiệu sản phẩm 53
3.2.6.3. Cách thức giao tiếp, phục vụ khách hàng 53
2.3.6.4. Tổ chức hoạt động 53
3.3. Một số đề xuất và kiến nghị để thực hiện giải pháp: 54
3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước 54
3.3.2. Kiến nghị đối với Chính phủ 54
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật,
phương thức sản xuất đảm bảo phát triển nhanh theo cơ chế thị trường. Quá trình
phát triển này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn đầu tư vào nền kinh tế. Các ngân
hàng thương mại với chức năng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ đóng vai trò trung
2
gian kết nối giữa người cần vốn và người có vốn trong xã hội thông qua các nghiệp
vụ huy động vốn của mình, góp phần quan trọng trong việc khơi thông nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và ổn định của
nền kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn trong giai đoạn hiện nay ngày càng
trở nên khó khăn đòi hỏi các Ngân hàng cần có sự đầu tư, nỗ lực hơn nữa để tìm
kiếm, thu hút các nguồn vốn ổn định với chi phí hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử
dụng vốn để phát triển kinh tế.
4
3. Frederic Miskin, “ Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”
4. Peter Rose, “ Quản trị Ngân hàng thương mại”
5. Website
6. Website
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam
BIDV THN Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội
BIC Tổng công ty bảo hiểm BIDV
TCKT Tổ chức kinh tế
TCTC Tổ chức tài chính
ĐCTC Định chế tài chính
KHCN Khách hàng cá nhân
KHDN Khách hàng doanh nghiệp
5
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm huy động vốn
Huy động vốn là việc ngân hàng tiến hành thu hút vốn trong nền kinh tế dưới
nhiều hình thức khác nhau để có được nguồn vốn cần thiết đảm bảo cho nhu cầu hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Huy động vốn biểu hiện mối quan hệ bắt buộc phải trả của ngân hàng đối với
khách hàng. Nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu từ nguồn tiền tạm thời
nhàn rỗi của khách hàng, và khi khách hàng có nhu cầu rút lại thì ngân hàng phải
đảm bảo hoàn trả.
hai bên. Quá trình tăng vốn huyđộng này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội
tệ hay thị trường ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người
đặc biệt. Đó là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người
cho vay cuối cùng để cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ dàng
nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy,
hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều.
1.1.2.2. Căn cứ vào thời gian huy động
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên
quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng
như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được
chia thành:
- Huy động ngắn hạn:
Đặc điểm của hình thức này là chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn huy
động, được sử dụng chủ yếu để cho vay ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống), lãi suất
thường thấp
- Huy động trung hạn:
Loại vốn này có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, ngân hàng chủ yếu sử
dụng cho doanh nghiệp vay khoản tín dụng trung hạn.
- Huy động dài hạn:
7
Hình thức huy động này chiếm tỷ trọng nhỏ, đây là khoản vay mà ngân hàng
huy động lớn trên 60 tháng, chi phí cho việc huy động này là cao hơn so với 2 hình
thức trước, nguồn này ngân hàng thường dùng để cho vay dài hạn như đầu tư xây
dựng cơ bản, mở rộng sản xuất kinh doanh
1.1.2.3. Căn cứ vào loại tiền gửi
- Huy động vốn bằng VNĐ
Đây là nguồn huy động chủ yếu trong ngân hàng thương mại. Đặc biệt trong
thời kỳ nền kinh tế ổn định, giá trị tiền đồng được đảm bảo thì nguồn huy động này
dễ dàng hơn.
Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền mà chủ sở hữu có quyền rút ra theo thời hạn đã
thoả thuận với Ngân hàng, mục đích chính của loại tiền gửi này là hưởng lãi chứ
không phải vì hưởng các tiện ích trong thanh toán. Đặc trưng của loại tiền gửi này là
không dùng thanh toán, hiệu quả sử dụng của nguồn vốn này đối với ngân hàng rất
cao vì nó có kỳ hạn rõ ràng. Chi phí về nguồn vốn cho loại tiền gửi này đối với ngân
hàng cao hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm: Đối với ngân hàng thương mại, tiền gửi tiết kiệm là công cụ
huy động vốn có từ lâu. Vốn huy động từ các khoản tiền tiết kiệm thường chiếm một
tỷ trọng đáng kể trong tìên gửi của ngân hàng. Loại tiền gửi này thường chia thành :
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đối với loại này, chủ sở hữu có thể rút ra
bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước, số dư tài khoản này thường không lớn, ưu
điểm hơn tiền gửi giao dịch là số dư này ít biến động, ngân hàng thường phải trả lãi
suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Nguyên tắc của loại tiền này là một khi khách
hàng gửi tiền vào loại tài khoản này, họ sẽ không được rút ra (cả gốc lẫn lãi) trừ khi
đã đến hạn rút tiền. Tuy nhiên yếu tố cạnh tranh thu hút tiền gửi, một số ngân hàng
thương mại vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước thời hạn nhưng một phần tiền lãi
đã được khấu trừ .
- Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ:
9
Đây là nguồn vốn ngân hàng huy động một cách chủ động trên thị trường tài
chính gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong nhiều trường hợp thiếu vốn,
ngân hàng sử dụng phương pháp này để huy động vốn trên thị trường tài chính: phát
hành các giấy tờ có giá trị như các giấy tờ vay nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Việc chuyển nhượng các giấy tờ có giá trên từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác
phụ thuộc vào thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng có thể phát
hành kỳ phiếu và trái phiếu.
Trái phiếu là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ đối với khách hàng của
ngân hàng với cam kết sẽ thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định
trong tương lai.Việc phát hành trái phiếu của ngân hàng được tiến hành trong toàn hệ
doanh của mình, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, tập chung các sản phẩm dịch vụ
chính có hiệu quả; nghiên cứu ứng dụng, từng bước mở rộng sản phẩm mới. Đa
dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm khơi nguồn tiền gửi, đặt biệt chú ý đến
nguồn vốn trung, dài hạn và ngoại tệ. Nghiên cứu một số sản phẩm mới như chứng
chỉ tiền gửi, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm trả góp, trái phiếu ngân hàng bằng VND
và ngoại tệ với kỳ hạn dài để đưa ra các sản phẩm mới nhằm tăng cường nguồn vốn
trung và dài hạn. Thực hiện các khâu thanh toán từ ngoại tệ đến nội tệ, đa dạng hóa
các thể thức thanh toán. Do đó, thu hút được các khách hàng truyền thống có nguồn
vốn lớn thông qua cải tiến và nâng cao hiệu quả của công tác thanh toán đồng thời
mở rộng quan hệ với khách hàng mới nhằm huy động vốn nhàn dỗi và khuyến
khích các doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán và sử dụng các dịch vụ của ngân
hàng.
- Nâng cao mức vốn tự có hợp lý: Mức vốn tự có càng cao sẽ tạo điều kiện nâng
cao mức huy động vốn. Có thể áp dụng việc huy động vốn bằng nguồn vốn trung
và dài hạn sẽ làm cho cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng ổn định, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc sử dụng vốn.
- Đưa ra các chiến lược khách hàng: Nhằm thu hút các tầng lớp dân cư có nguồn
tiền nhàn rỗi lớn, có nguồn tiền ổn định thong qua nhiều hình thức đa dạng phong
phú như: thực hiện giao dịch tận nhà đối với những khách hàng có lượng giao dịch
lớn ở xa, có các chương trình lấy ý kiến khách hàng nhằm cải tiến phong cách giao
dịch và phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, nắm chắc chu kỳ gửi và rút vốn của
khách hàng để có chiến lược huy động vốn thichs hợp, thường xuyên đổi mới
11
phong cách giao dịch, mở rộng mạng lưới tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng,
tạo thói quen cho khách hàng và ngân hàng ngày càng gần gũi nhau hơn; tổ chức
phân loại khách hàng dân cư theo từng khu vực, từng vị trí và công việc, địa vị để
có cach chăm sóc tốt nhất, đạt hiệu quả cao.
- Không ngừng đưa ra các chiến lược marketing: như chính sách tuyên truyền, tiếp
thị, quảng cáo tới các khách hàng đặc biệt là các tầng lớp dân cư như tờ rơi, quảng
cáo qua các phương tiện thong tin đại chúng nhằm thực hiện chiến lược huy động
chứng và tác động lẫn nhau. Sự biến động của một hoạt động kinh tế đều ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực còn lại. Hoạt động kinh doanh của ngân
hàng thương mại được coi như một chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực kinh tế khác nhau
trong nền kinh tế. Do vậy, sự tác động ổn định hay bất ổn định, tăng nhanh hay chậm
của nền kinh tế đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng. Rõ ràng hoạt
động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của ngân hàng luôn
gắn với môi trừơng kinh doanh. Môi trường này gồm
1.3.1.1. Tình hình kinh tế xã hội
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị không ổn
định. Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng tác động mạnh mẽ đến
quan hệ vốn của ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Nếu một nước có nền an ninh ổn định thì kinh tế sẽ phát triển dẫn đến thu nhập của
người dân cao, họ sẽ đem gửi nhiều tiền vào ngân hàng không những đối với người
trong nước mà còn cả người nước ngoài.
Đây là yếu tố khách quan đối với ngân hàng, yếu tố này ảnh hưởng chung việc
mở rộng và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế. Trong đó nguồn huy động của
ngân hàng thương mại, cụ thể trong nền kinh tế nếu kinh tế tăng trưởng cao thì mới
có tích luỹ trong các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế và dân cư, do đó nguồn tiền
gửi, nguồn tiết kiệm tăng nhanh trong thời kỳ này. Ngược lại, nếu nền kinh tế bị suy
thoái thì lượng tiền gửi, tiền tiết kiệm sẽ giảm xuống,
Mặt khác khi nền kinh tế phát triển và ổn định kiến thức của người dân nâng
lên, việc nắm giữ tiền trong dân cư giảm xuống, mọi hoạt động giao dịch của khách
hàng đều thông qua ngân hàng. Đây cũng là yếu tố làm cho nguồn huy động được
tăng lên.
Lạm phát là yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn ngân
13
hàng, người dân gửi tiền vào ngân hàng hy vọng họ sẽ thu được khoản lãi nhất định.
Lạm phát cao hoặc biến động mạnh có thể làm trượt giá đồng tiền thì họ sẽ chuyển
các tài sản của họ dưới dạng tiền gửi thành các hình thái khác, do đó nó có tác động
mạnh đến việc huy động vốn của ngân hàng.
dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ về chuyên môn ngân hàng sẽ được đa dạng, chất lượng
ngày càng tốt hơn, đảm bảo các loại dịch vụ được cung ứng nhanh chóng, an toàn và
hiệu quả. Tất nhiên với công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ giúp ngân hàng phục vụ
được khách hàng một cách tốt hơn, chỗ đứng của ngân hàng đó trên thị trường sẽ
vững vàng hơn thì sẽ có nhiều khách hàng biến đến ngân hàng đó (công nghệ cao có
khả năng giúp cho ngân hàng đó có khả năng thanh toán nhanh, thủ tục ít rườm rà).
Điều này cũng làm cho khả năng huy động vốn của ngân hàng cũng dễ dàng hơn.
1.3.2.3. Chính sách khách hàng.
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều
nhóm để có cách thức tiếp cận phù hợp. Với những khách hàng lâu năm giao dịch
thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, được ngân hàng tín nhiệm, thì ngân hàng sẽ có
một chính sách ưu đãi về lãi suất, kỳ hạn của món vay, cũng như thực hiện việc xét
thưởng đối tác, có như vậy ngân hàng mới có khả năng thu hút khách hàng và tăng
nhanh khả năng hoạt động vốn của mình. Để xây dựng được chiến lược khách hàng
đúng đắn thì ngân hàng cần tìm hiểu động cơ thói quen mong muốn của người gửi
tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng thông qua phân tích lợi ích của khách
hàng. Trên cơ sở thông tin của khách hang, ngân hàng có thể đưa ra một hệ thống
chính sách và biện pháp để có được quy mô và chất lượng nguồn vốn mong muốn.
Hệ thống chính sách có thể gồm:
- Chính sách về giá cả lãi suất tiền gửi: tỷ lệ hoa hồng, chi phí dịch vụ hay còn gọi là
chính sách giá cả các sản phẩm và dịch vụ tài chính .
- Chính sách trong phục vụ giao tiếp.
1.3.2.4. Chính sách Marketing ngân hàng
Là sản phẩm của cạnh tranh và hệ quả của sự nghiên cứu tìm tòi các dịch vụ
mới - các ngân hàng trở nên quan tâm nhiều hơn đến Marketing. Tiếp thị không đơn
giản chỉ là vấn đề bán ra một sản phẩm nào đó, mà đây là cả một quá trình phát hiện,
15
tìm kiếm khách hàng để tạo ra những sản phẩm thích hợp cho họ, thuyết phục họ
“mua” chúng thay vào việc “mua” những sản phẩm có chức năng tương tự do người
khác cung cấp. Một trong những biện pháp thuyết phục mà các ngân hàng hiện đang
quy mô tiền gửi. Nhân viên ngân hàng cởi mở, nhiệt tình đối với khách hàng, tạo
thuận lợi cho khách hàng, sẽ tạo được lòng tin với khách hàng, ngày càng có nhiều
khách hàng đến giao dịch, gửi tiền, cùng với cơ sở vật chất kỹ thuật vững mạnh, trụ
sở khang trang, sạch đ•p, phương tiện làm việc hiện đại sẽ tạo cảm giác an tâm cho
khách hàng, giúp ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn.
1.3.2.7. Uy tín của ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, mỗi ngân hàng sẽ tạo cho mình một hình ảnh riêng
trong lòng khách hàng. Uy tín được thể hiện ở khả năng sžn sàng chi trả, thanh toán
cho khách hàng, ở chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, chất lượng, hiệu quả hoạt
động của ngân hàng. Chính vì vậy, các ngân hàng không ngừng nâng cao, đảm bảo
uy tín của mình trên thị trường, từ đó, có điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh,
thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp và dân cư. Một ngân hàng lớn có
uy tín trong nhiều năm sẽ có lợi thế trong huy động vốn so với ngân hàng khác. Sự
tin tưởng của khách hàng sẽ giúp ngân hàng có được sự ổn định khối lượng huy
động vốn và tiết kiệm chi phí huy động. Thậm chí trong điều kiện lãi suất huy động
vốn thấp hơn nhưng người gửi tiền vẫn lựa chọn ngân hàng có uy tín để gửi vì họ tin
rằng đồng vốn của mình tuyệt đối an toàn.
17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI.
2.1. Giới thiệu tóm tắt về BIDV nói chung và BIDV Tây Hà Nội nói riêng
2.1.1. Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam thành lập ngày 26/4/1957 khi
cả nước đang tích cực hoàn thành thời kỳ khôi phục và phục hồi kinh tế để chuyển
sang giai đoạn phát triển kinh tế có kế hoạch và xây dựng những tiền đề ban đầu của
chủ nghĩa xã hội với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Lịch sử xây
dựng và trưởng thành của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một
chặng đường đầy gian nan thử thách, gắn liền với lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm
lược và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam.
Là một trong những Ngân hàng thương mại lâu đời nhất tại Việt Nam, BIDV
năm đầu hoạt động là huy động vốn và cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhà
nước, ngày nay các mặt hoạt động của chi nhánh đã phát triển và đa dạng hơn bao
gồm: huy động tiết kiệm, nhận vốn ủy thác đầu tư, cấp tín dụng cho khách hàng cá
nhân, doanh nghiệp, dịch vụ thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, dịch vụ kiều
hối, thanh toán nội địa. Thời gian đầu mới đi vào hoạt động, chi nhánh Tây Hà Nội
đã gặp không ít khó khăn với tổng tài sản nhỏ bé, lực lượng cán bộ mỏng, đồng thời
trụ sở chính của chi nhánh lại đóng trên địa bàn huyện Từ Liêm, là nơi xa trung tâm,
khó khăn trong việc thu hút khách hàng. Tuy nhiên, vượt qua khó khăn đó, chi nhánh
đã không ngừng phấn đấu, tìm tòi, sáng tạo, phát triển theo định hướng mới: Tập
trung phục vụ khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, khách hàng cá
nhân, cung ứng dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho các tầng lớp dân cư trên địa bàn, đồng
thời chủ động đề xuất phát triển các sản phẩm dịch vụ mới phù hợp với xu thế thị
trường.
Việc thành lập chi nhánh Tây Hà Nội phù hợp với tiến trình thực hiện chương
trình cơ cấu lại, gắn liền với đổi mới toàn diện và phát triển vững chắc với nhịp độ
tăng trưởng cao, phát huy truyền thống phục vụ đầu tư phát triển, đa dạng hóa khách
hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và
dịch vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả an toàn hệ thống theo đòi hỏi của cơ chế thị
19
trường và lộ trình hội nhập, làm nòng cốt cho việc xây dựng tập đoàn tài chính đa
năng, vững mạnh, hội nhập quốc tế.
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
chi nhánh Tây Hà Nội
Tính đến 31/12/2012, số nhân viên của chi nhánh đã là 120 người, với độ tuổi
trung bình là 28, đây được coi là lợi thế của chi nhánh khi có được đội ngũ nhân viên
trẻ trung, năng động, nhiệt huyết, sáng tạo. Trong số đó có 73 nhân viên là nữ, chiếm
60,8%, 47 nhân viên nam, chiếm 39,2%.
Để phục vụ tốt hơn ngày càng nhiều khách hàng, đồng thời hướng tới mục tiêu
không ngừng mở rộng quy mô thì ngoài trụ sở chính của chi nhánh ở 134 Phạm Văn
Đồng (cuối tháng 2/2013 chuyển về Mỹ Đình) thì chi nhánh còn có thêm 4 phòng
phòng
QHKH
Phòng
QHKH
Cá nhân
Phòng
QHKH
Doanh nghiệp
Phòng Quản
lý
Rủi ro
Phòng Quản trị
Tín dụng
P. Dịch vụ
Khách
hàng
Phòng QL
và
DV Kho quỹ
Phòng TC -
KT
Phòng TC -
HC
Phòng KH -
TH
Phòng
Giao
dịch
QTK
BAN GIÁM
Thực hiện công tác tín dụng cá nhân: trực tiếp đề xuất tín dụng, theo dõi, giám
sát tình hình hoạt động của khách hàng, đầu mối tiếp thị và triển khai các sản phẩm
ngân hàng bán lẻ
Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình marketing tổng thể cho từng
nhóm sản phẩm khách hàng cá nhân
- Phòng Quản lý rủi ro
22
Tham mưu, đề xuất chính sách, biện pháp phát triển và nâng cao hoạt động tín
dụng, đầu mối phối hợp với các bộ phận đánh giá tài sản đảm bảo.
Quản lý, giám sát, đánh giá rủi ro tiểm ẩn với danh mục tín dụng và các khoản
cấp tín dụng của chi nhánh
Rà soát, kiểm tra thực hiện giới hạn tín dụng, giám sát việc phân loại nợ và
trích lập dự phòng rủi ro
Thực hiện công tác quản lý rủi ro tác nghiệp, hướng dẫn hỗ trợ các phòng
nghiệp vụ trong việc đánh giá, phát hiện rủi ro tác nghiệp
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu thực tiễn.
- Phòng Quản trị tín dụng
Trực tiếp thực hiện tác nghiệp và quản trị cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng
theo quy định, quy trình của BIDV và chi nhánh
Thực hiện tính toán trích lập dự phòng rủi ro , lưu trữ, cung cấp thông tin về
khách hàng.
- Phòng Giao dịch khách hàng
Trực tiếp quản lý tài khoản và tiến hành giao dịch với khách hàng cá nhân, tổ
chức
Là đầu mối thực hiện giao dịch thanh toán của chi nhánh, bao gồm thanh toán
trong nước và thanh toán quốc tế
Thực hiện công tác phòng chống rửa tiền đối với các giao dịch phái sinh theo
quy định của Nhà nước và BIDV
- Phòng Quản lý & dịch vụ kho quỹ
Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ về quản lý kho và xuất/ nhập quỹ.
đường Lạc Long Quân và Nguyên Hồng, mặc dù PGD có quy mô nhỏ, tuy nhiên sau
một khoảng thời gian đi vào hoạt động thì các đơn vị này cũng đạt được những thành
tựu nhất định, có thể cạnh tranh với các Ngân hàng khác trên cùng địa bàn.
+ QTK Tiền Phong: QTK Tiền Phong nằm ở TT Tiền Phong, gần ngã 4 Nam
Hồng, nằm ở 1 vị trí không thuận lợi, khá xa trung tâm, QTK mở ra chủ yếu để mở
rộng mạng lưới, huy động vốn dân cư. Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian hoạt
động thì QTK Tiền Phong đạt được hiệu quả chưa cao khi mà khu dân cư còn thưa
thớt và có quá nhiều Ngân hàng cạnh tranh. Do đó, dưới chủ chương của ban lãnh
đạo, trong thời gian tới QTK Tiền Phong sẽ chuyển về trụ sở chính hiện nay ở Phạm
Văn Đồng (khi Trụ sở chính chuyển ra Mỹ Đình) và tiếp nhận toàn bộ khối lượng
24
khách hàng lớn từ trụ sở cũ.
+ QTK Nguyễn Cơ Thạch (tên cũ QTK 70 Hoàng Hoa Thám), cũng giống như
QTK Tiền Phong, QTK Hoàng Hoa Thám đi vào hoạt động chưa đạt được kì vọng,
phần lớn do địa điểm khuất, cơ sở vật chất còn hạn chế nên đầu tháng 12/2012 Quỹ
tiết Kiệm Hoàng Hòa Thám đã chuyển về địa điểm trên đường Nguyễn Cơ Thạch và
đổi tên thành QTK Nguyễn Cơ Thạch. QTK ở đây có vị trí cực kỳ thuật lợi, cơ sở
vật chất rất tốt, nằm trong quần thể KĐT Mỹ Đình 1, 2 nên rất được kỳ vọng sẽ thu
hút một nguồn vốn dân cư lớn cho chi nhánh.
+ Quầy thu đổi Ngoại tệ sân bay quốc tế Nội Bài: nằm ở ngay sảnh tầng 1 Sân
Bay quốc tế Nội Bài, với mục đích chính là phục vụ nhu cầu thu mua ngoại tệ của
khách hàng trong nước và nước ngoài. QTĐ đổi ngoại tệ đi vào hoạt động đã đạt
được những thành tựu rất lớn về nguồn ngoại tệ, nguồn vốn và các dịch vụ khác.
2.2. Thực trạng tăng cường huy động vốn tại BIDV Tây Hà Nội
2.2.1. Các sản phẩm huy động vốn của chi nhánh BIDV Tây Hà Nội
2.2.1.1 Tiền gửi thanh toán:
Các sản phẩm tiền gửi thanh toán của BIDV gồm:
Tiền gửi thanh toán thông thường (cá nhân và doanh nghiệp)
Trong giao dịch tiền tệ ngân hàng hiện đại ngày nay, việc thanh toán không
dùng tiền mặt đang ngày càng phổ biến, thu hút các tổ chức kinh tế và cá nhân mở