TÊN ĐỀ TÀI:
THIẾT KẾ DẠY HỌC BÀI HỌC:
“CÔNG DÂN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT”
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học là
một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong cải cách, đổi mới giáo dục
toàn diện. Bên cạnh việc đổi mới, cải cách nội dung, chương trình giảng dạy ở các
cấp học thuộc tầm vĩ mô, thì ở vai trò người giáo viên cần nghiên cứu tham khảo
tài liệu, học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tự rút kinh nghiệm qua quá trình dạy
học để xây dựng bài giảng nhằm phát huy tính chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức,
hình thành các kỹ năng trong học sinh. Nếu theo cách dạy truyền thống, người thầy
giữ vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học, học sinh bị động trong tiếp thu tri
thức, thì theo phương pháp dạy học mới, học sinh giữ vị trí trung tâm trong hoạt
đông dạy học, điều này sẽ phát huy tính chủ động, tích cực cho học sinh, các em
học sinh chủ động lĩnh hội tri thức, hình thành được một số kỹ năng mềm, là hành
trang quan trọng cho các em bước vào đời. Thông qua bài dạy, người giáo viên cần
xác định sau tiết học học sinh nắm được gì về kiến thức, hình thành các kỹ năng
nào qua bài học, cần sử dụng những phương pháp, phương tiện nào trong tiết dạy.
Đó là cơ sở để xây dựng tiết học phát huy năng lực của học sinh. Với ý nghĩa thiết
thực trên, tôi viết kiến kinh nghiệm Thiết kế dạy học bài học: “Công dân bình
đẳng trước pháp luật” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
nhằm chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp, đồng thời rất mong nhận được các ý
kiến đóng góp từ đồng nghiệp. Điều này sẽ rất hữu ích cho bản thân, giúp cho năng
lực dạy học của bản thân theo thời gian không ngừng hoàn thiện, góp phần vào
việc đổi mới giáo dục nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục.
1
II.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
- Xác định nội dung: Dạy cái gì?
- Xác định các phương pháp tương ứng với từng nội dung cụ thể và những
phương tiện dạy học cần thiết: Dạy như thế nào?
- Xác định hình thức tổ chức dạy học: lớp, nhóm; xemina, ...
- Xác định tiến trình hoạt động dạy học cụ thể.
1.2.1. Xác định mục tiêu dạy học cụ thể
1.2.2. Sự cần thiết phải xác định mục tiêu dạy học và năng lực cần hình
thành ở học sinh
Để xác định mục tiêu từng bài học thầy giáo cần suy nghĩ để trả lời các câu
hỏi sau:
- Qua bài học cần trang bị cho HS kiến thức gì?
- Bài học góp phần hình thành và phát triển ở HS các thao tác tư duy nào?
- Qua bài học có thể góp phần giáo dục HS như thế nào?
- Bằng con đường nào để HS chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng trong bài học?
3
- Các biện pháp cần thiết nào để chỉ đạo và tích cực hoá hoạt động học tập của
HS, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng cần thiết một cách sâu
sắc, vững chắc?
- Các kết quả sau khi học mà HS cần thể hiện là gì? (xác định đầu ra)
1.2.3. Mục tiêu dạy học
Mục tiêu dạy học được thể hiện trên 3 mặt, đó là: Kiến thức, kỹ năng và thái
độ, tình cảm và tác phong.
1.2.3.1 Cách xác định mục tiêu
Yêu cầu GV phải đọc kỹ SGK, tìm hiểu tài liệu tham khảo, trao đổi với đồng
nghiệp để nắm được nội dung của từng phần trong bài bài dạy, hiểu được ý đồ của
SGK nhằm xác định được cái cần đạt tới, cái mà HS phải có về mặt kiến thức, kỹ
năng và thái độ, tác phong và tình cảm sau khi học xong từng phần của bài học và
toàn bài học.
- Xác định nội dung cơ bản của bài, của từng phần trong bài với các khái niệm
(hệ thống các khái niệm), các mối quan hệ, các quy luật, các hiện tượng tiêu biểu.
- Xác định kiến thức trọng tâm của bài (là một bộ phận của kiến thức cơ bản
nhưng có vị trí then chốt, có vai trò chi phối các đơn vị kiến thức khác). Nắm vững
kiến thức trọng tâm thì có thể tạo cơ sở để hiểu các đơn vị kiến thức khác trong
bài. Kiến thức trọng tâm này thường được bố trí gọn trong một hoặc hai mục của
bài, nhưng cũng có thể nằm xen kẽ ở các mục khác nhau của bài.
1.4. Xác định các phương pháp và kĩ thuật dạy học
Trong thiết kế bài dạy học, việc lựa chọn phương pháp dạy học (PPDH), kỹ
thuật dạy học (KTDH) có tính quyết định đến việc thực hiện mục tiêu và chất
lượng (hiệu quả) bài dạy học.
Để lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học thích hợp đối với bài dạy học, GV
thường dựa vào các cơ sở sau đây:
Một là: Căn cứ vào mục tiêu của bài dạy
5
Hai là: Căn cứ vào nội dung của bài dạy
Ba là: Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình nhận thức.
Bốn là: Căn cứ vào đối tượng học sinh.
Năm là: Căn cứ vào điều kiện vật chất của việc dạy học
Sáu là: Căn cứ vào năng lực, tay nghề của GV.
1.5. Xác định các hình thức tổ chức dạy học
Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học nào thích hợp nhất tùy thuộc vào nhiều
yếu tố (mục tiêu, nội dung, đối tượng HS, điều kiện thời gian, phương tiện và
PPDH,...)
Thường thì đối với những nội dung không quá khó, vừa sức, GV có thể tổ
chức cho HS học cá nhân với SGK để nắm kiến thức, làm các bài tập, trả lời các
câu hỏi,...
- Đối với những nội dung có nhiều vấn đề mà một cá nhân không thể giải
- Củng cố bài học
- Hướng dẫn hoạt động nối tiếp
1.8. Xác định hình thức củng cố, đánh giá và tập vận dụng tri thức của học
sinh
Thông thường, việc củng cố, đánh giá được tiến hành khi kết thúc phần “tổ
chức lĩnh hội tri thức mới” nhằm xem xét mục tiêu bài dạy đã đạt được chưa?. Đạt
ở mức độ nào?... Do đó có nhiều cách khác nhau để thực hiện bước này. Yêu cầu
cơ bản của việc củng cố, đánh giá là phải dựa vào mục tiêu của bài học, nhằm vào
kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài. Vì vậy hình thức củng cố đánh giá ( bằng câu
hỏi, bài tập tình huống ,...) đều phải tập trung vào nội dung này, một mặt giúp HS
nắm vững và vận dụng được tri thức; mặt khác, qua đó GV biết được HS đã hiểu
và có khả năng vận dụng được hay không.
Điều cần nhấn mạnh: thiết kế bài dạy học cụ thể là sản phẩm mang dấu ấn
riêng của mỗi giáo viên. Do đó, sẽ không có cái gọi là “thiết kế bài dạy mẫu” mang
7
tính “chuẩn mực” để mọi giáo viên làm theo, sử dụng. Song, dù sáng tạo mang nét
riêng như thế nào, thì mọi giáo viên đều có một cái khung thiết kế bài dạy học có
tính chung nhất. (còn việc đưa cái gì, tổ chức các đơn vị kiến thức như thế nào, sử
dụng PPDH nào,... là cái riêng của từng giáo viên được thể hiện trong cái khung
chung này). Hiện nay, một số bước thiết kế bài dạy học được một số trường phổ
thông chỉ đạo phải giản lược đi như các bước xác định trọng tâm, xác định hình
thức tổ chức dạy học, thay vào đó là những bước mới như xác định các kĩ năng cần
đạt được sau mỗi bài học.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Học không chỉ nhằm mục đích trau dồi, nâng cao tri thức về tự nhiên và xã
hội mà mục đích quan trọng nhất của việc học là vận dụng các kỹ năng, đem
những tri thức ấy vận dụng vào cuộc sống. Thực tế cho thấy, có nhiều học sinh
nắm kiến thức rất vững tuy nhiên các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc diễn
Học xong bài này, hs cần đạt được:
* Về kiến thức
- Hiểu được thế nào là công dân bình đẳng về quyền, nghóa vụ, trách
nhiệm pháp lý.
- Nêu được trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo quyền bình đẳng
của công dân trước pháp luật.
* Về kó năng
- Phân biệt được bình đẳng về quyền, nghóa vụ với bình đẳng về trách
nhiệm pháp lý.
9
* Về thái độ
- Có ý thức tôn trọn quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật.
2. KIẾN THỨC CƠ BẢN, TRỌNG TÂM
* Các đơn vò kiến thức trong bài
-
Công dân bình đẳng về quyền và nghóa vụ
-
Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
-
Trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền bình đẳng
của công dân trước pháp luật.
* Trọng tâm kiến thừc của bài học
Bình đẳng trước pháp luật là một trong những quyền cơ bản của công dân
được qui định trong khoản 1, khoản 2 Điều 16 Hiến pháp 2013: “ 1. Mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”.
Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là mọi công dân, nam, nữ thuộc các
dân tộc, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau đều không bị phân biệt
đối xử trong việc hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lí
theo qui định của pháp luật.
HĐ1: Tìm hiểu về quyền bình đẳng của công dân về quyền và nghĩa vụ
HĐ1: Tìm hiểu về quyền bình
1.
Công dân bình đẳng về
đẳng của công dân về quyền và nghĩa quyền và nghĩa vụ
vụ
11
Mục tiêu: Giúp HS nắm được
quyền bình đẳng của công dân về quyền
và nghĩa vụ.
GV giảng:
Quyền bình đẳng xuất phát từ
quyền con người và quyền cơ bản nhất
của quyền con người.
Tuyên ngôn độc lập năm 1776
của nước Mỹ đã khẳng định: “Tất cả
Gv: nhận xét, bổ sung.
Gv hỏi: theo em hiểu “Quyền” là
gì?
Hs trả lời.
Gv nhận xét, bổ sung: quyền là khả
năng công dân tự do lựa chọn hành
động và Nhà nước đảm bảo cho khả
năng ấy.
Gv hỏi: theo em hiểu “Nghĩa vụ” là
gì?
Hs trả lời.
Gv kết luận: Đó là trách nhiệm
công dân phải thực hiện một hành động
cụ thể)
Gv hỏi: Em hiểu thế nào về bình
đẳng quyền và nghĩa vụ của công dân?.
Hs trả lời.
Gv ghi kết luận lên bảng:
Gv dẫn chứng bằng Điều 15, 16
Hiến Pháp 2013:
Điều 15
1. Quyền công dân không tách rời
nghĩa vụ công dân.
2. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng
13
quyền của người khác.
3. Công dân có trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã
GV chuyển ý: Công dân dù ở địa vị nào, làm nghề gì khi vi phạm pháp luật
(VPPL) đều phải chịu trách nhiệm pháp lí theo qui định của pháp luật
HĐ 2: Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí
HĐ 2: Tìm hiểu bình đẳng về
trách nhiệm pháp lí
2.
Công dân bình đẳng về
trách nhiệm pháp lý (TNPL)
Mục tiêu: HS nắm được bất kì
công dân nào VPPL đều bị xử lí bằng
các chế tài theo qui định của PL.
GV nêu tình huống:
Một nhóm HS rủ nhau đua xe máy
với lí do nhà 2 bạn trong nhóm mới
mua xe. Bạn A trong nhóm không đồng
ý vì cho rằng các bạn chưa có giấy
phép lái xe, đua xe nguy hiểm và dễ gây
tai nạn. Bạn B cho rằng đã có bố bạn B
làm trưởng công an huyện, bố bạn C
làm thứ trưởng một Bộ. có gì xảy ra sẽ
“lo” hết. Cả nhóm đồng ý với B. Quan
điểm và thái độ của em trước những ý
kiến trên như thế nào? Nếu nhóm bạn
đó cùng lớp với em, em sẽ làm gì?
Lớp tranh luận, HS trình bày ý
kiến cá nhân.
Phát phiếu học tập cho từng nhóm:
Nhóm 1: Công dân (CD) thực hiện
quyền bình đẳng trước pháp luật trên cơ
sở nào?
Nhóm 2: Theo em, để CD được
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, Nhà
nước có nhất thiết phải qui định các
16
quyền và nghĩa vụ của CD vào Hiến
pháp và luật không? Vì sao?
Nhóm 3: Bản thân em được hưởng
quyền và thực hiện nghĩa vụ gì theo qui
định của pháp luật? (VD cụ thể)
Nhóm 4: Vì sao Nhà nước phải đổi
mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật?
Nhóm 5: Trả lời câu hỏi mục 3
trang 29 SGK?
HS trả lời.
GV nhận xét và kết luận…
Gv hỏi: Theo em, Nhà nước sẽ áp
dụng các biện pháp nào để bảo đảm thực
hiện bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
CD?
( Các biện pháp chế tài được ghi
nhận trong Bộ luật hình sự, Bộ luật dân
a. Quyền bình đẳng
II
a.Là bình đẳng về hưởng quyền và
làm nghĩa vụ trước Nhà nước và xã hội
theo quy định của pháp luật.
b. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa
b.Là điều kiện cần thiết để công
dân hưởng các quyền của mình.
c. Công dân bình đẳng về nghĩa vụ có
c.Là trách Nhiệm của Nhà nước.
nghĩa
d. Công dân bình đẳng về trách nhiệm
pháp lý có nghĩa
d.Là mọi công dân nam, nữ thuộc
các dân tộc, tôn giáo, thành phần, địa
vị xã hội khác nhau đều không phân
biệt đối xử trong việc hưởng quyền,
thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm
pháp lý theo quy định của pháp luật.
e. Việc thực hiện những nghĩa vụ được
Hiến pháp và pháp luật quy định
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Soạn và dạy theo định hướng phát triển năng lực của học sinh là một trong
những phương pháp dạy học mới, điều này đòi hỏi thầy cô giáo đầu tư nhiều thời
gian, công sức xây dựng một giáo án, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học
phù hợp phát huy sự chủ động, tích cực của học sinh. Qua bài dạy theo phương
pháp nói trên, nhìn chung thái độ học tập của học sinh có những thay đổi đáng kể,
các em được kích thích hứng thú trong học tập, chủ động trong việc chuẩn bị bài,
xây dựng bài trên lớp học, thể hiện qua phát biểu xây dựng bài, trả lời nội dung
củng cố sau tiết dạy, đặc biệt hình thành nhận thức cho học sinh về bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ, công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý, vai trò của Nhà
nước trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật. Dưới đây
là bảng mô tả về việc hiểu nội dung bài học, thái độ nhận thức tích cực của học
sinh các lớp qua bài giảng: “Công dân bình đẳng trước pháp luật” trước (năm học
19
2014-2015) và sau khi soạn giảng theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
(năm học 2015-2016):
Khả năng
vận dụng
kiến thức
vào cuộc
sống liên
Năm học
Lớp
Sĩ số
81%
12a3
39
82
80%
12a1
40
95%
93%
12a2
39
91%
90%
12a3
38
chung, trong đó có giáo dục pháp luật cần thay đổi cách dạy và học.
Việc thay đổi phương pháp dạy học, phát huy vai trò trung tâm, chủ đạo của
học sinh, đòi hỏi thầy cô giáo thay đổi phương pháp dạy học. Việc thay đổi đó
được thực hiện bằng nhiều cách, trong đó bắt đầu thay đổi cách xây dựng giáo án.
Chương trình, nội dung môn học hiện nay là một trong những vấn đề mà
những người làm công tác giáo dục, phụ huynh và toàn xã hội còn nhiều trăn trở.
Kiến thức các môn học, trong đó có môn GDCD còn mang nặng tính hàn lâm, lý
thuyết mà thiếu đi những câu chuyện, tình huống… có thực trong đời sống. Điều
đó ít nhiều gây khó khăn cho việc dạy và học của thầy và trò, đòi hỏi cần có những
bộ sách mới có nội dung gần gũi với cuộc sống thường ngày, phù hợp với trình độ
nhận thức của học sinh, giúp cho các em tiếp thu và vận dụng kiến thức môn học
dễ dàng hơn. Do đó, việc thay đổi sách giáo khoa chương trình phổ thông trong
tương lai gần là điều hết sức cần thiết. Thầy cô, các em học sinh và toàn xã hội
mong đợi sách giáo khoa mới thiết thực, hữu ích, có tính ứng dụng cao. Làm được
như thế, chất lượng dạy và học chắc chắn sẽ được nâng cao, năng lực học tập và kỹ
năng vận dụng kiến thức, và các kỹ năng khác của học sinh được phát triển, góp
phần đào tạo đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển
của xã hội.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân viết về đổi mới phương pháp
dạy học môn GDCD ở lớp BTVH khối THPT với mong muốn chia sẻ kinh nghiệm
về phương pháp giảng dạy với các đồng nghiệp đang giảy dạy tất cả các ở bộ môn
nói chung, dạy môn GDCD nói riêng trên địa bàn tỉnh nhà. Rất mong nhận ý kiến
đóng góp, để bản thân có nhiều sáng kiến kinh nghiệm hay, giảng dạy ngày càng
tốt hơn.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
1.
Tên đề tài
1
2
Lý do chọn đề tài
1
3
Cơ sở lý luận và thực tiễn
2
4
Tổ chức thực hiện các giải pháp
7
5
Hiệu quả của đề tài
14
6