Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sách giáo khoa Địa lý lớp 12 được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tình
huống, các thông tin đã được lựa chọn để giáo viên có thể tổ chức, hướng dẫn cho
học sinh tập phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin, tạo điều kiện cho học sinh
trong quá trình học tập vừa tiếp nhận được các kiến thức, vừa rèn luyện được các
kỹ năng và nắm được phương pháp học tập.
Bên cạnh các bài học chính, bài đọc thêm, chương trình Địa lý lớp 12 có 8 bài
thực hành và sau mỗi bài học đều có phần câu hỏi và bài tập để củng cố kiến thức
và kĩ năng của học sinh. Các bài thực hành Địa lý và phần bài tập Địa lý trước đây
thường bị xem nhẹ mặc dù nó rất quan trọng.
Hiện nay, dạy học được coi là quá trình phát triển của bản thân học sinh, việc
học tập không chỉ là quá trình lĩnh hội kiến thức có sẵn mà còn là quá trình học
sinh tự khám phá, tự tìm đến với kiến thức mới nhờ sự giúp đỡ, hướng dẫn của
giáo viên. Quá trình này được thể hiện rất rõ trong các bài thực hành Địa lý và các
bài tập Địa lý lớp 12.
Trong các bài thực hành và phần bài tập Địa lý lớp 12, sách giáo khoa không
còn chỉ là tài liệu trình bày các kiến thức có sẵn để học sinh dựa vào đó xác định,
vẽ biểu đồ rồi trả lời câu hỏi. Do đó cùng với việc đổi mới về kiến thức, chương
trình sách giáo khoa thì cần phải có sự đổi mới về phương pháp để tổ chức các hoạt
động học tập tự giác, tích cực và độc lập của học sinh. Để học sinh có thể tự xác
định và vẽ được biểu đồ và làm trọn vẹn được các bài tập Địa lý.
Với phương pháp và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi xin được đưa ra
chuyên đề: “Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong
chương trình Địa lý lớp 12” để tham khảo và rất mong nhận được sự đóng góp của
các đồng nghiệp cũng như các tổ chức chuyên môn để đề tài được hoàn thiện hơn.
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm tìm hiểu:
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế ngày nay, giáo dục được coi là một lĩnh
vực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia. Vì vậy, vấn đề chất lượng dạy - học nói chung và dạy học Địa lý nói
riêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như các
nhà quản lý giáo dục và xã hội. Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục là
quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Điều đó đã
được thể hiện trong các Nghị quyết của Trung ương.
Trang 2
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Nghị quyết TW 4 khoá VII đã chỉ rõ phải “Đổi mới phương pháp dạy học ở
tất cả các cấp học, bậc học. Kết hợp học với hành, học tập với lao động sản xuất,
thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội. áp dụng những
phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng
tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết TW2 khoá VIII tiếp tục khẳng định phải “Đổi mới phương pháp
giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy
sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương
tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh”.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của xã hội môn Địa lí trong nhà trường
nói chung và môn Địa lí lớp 12 nói riêng không ngừng cải tiến chương trình, cải
tiến phương pháp dạy học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Trong đó "phương
pháp hướng dẫn học sinh xác định và cách vẽ biểu đồ trong bài tập Địa lý lớp 12
THPT" đóng vai trò quan trọng, nó có nhiệm vụ củng cố, rèn luyện kĩ năng Địa lí
cho học sinh một cách thuần thục và chắc chắn hơn .
Việc xác định - và cách vẽ biểu đồ trong bài tập, bài thực hành Địa lí không
kiểu biểu đồ khi đọc bất kì một bài tập thực hành nào.
Vì vậy "phương pháp xác định - cách vẽ biểu đồ trong bài tập Địa lý lớp 12"
yêu cầu học sinh phải làm việc độc lập, tích cực để xác định được yêu cầu của bài
thực hành, từ đó xác định được cần vẽ loại biểu đồ nào cho phù hợp.
III. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Những khó khăn khi thực hiện biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng
biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12.
Đa số học sinh xem môn Địa lí là môn phụ, do đó ít chú ý đến học tập bộ môn
này. Kết quả cho thấy điểm tổng kết của các em phần lớn chỉ đạt điểm trung bình,
nhiều em học môn Địa lí khá, giỏi nhưng khi giáo viên lấy đội tuyển bồi dưỡng
học sinh giỏi thì các em không tham gia vì cho rằng đây chỉ là môn học phụ. Từ đó
giáo viên dạy Địa lí làm sao phát huy được năng lực của mình khi phương pháp
dạy học được đổi mới, đồ dùng dạy học phong phú, đa dạng.
Qua điều tra khảo sát ở trường, hầu hết học sinh đều cho rằng, phương pháp
xác định và cách vẽ biểu đồ trong bài tập Địa lý lớp 12 là quá bình thường và khá
đơn giản. Nhưng trong thực tế, khi thực hiện thì đây là một điều không dễ dàng.
Một khó khăn nữa là việc rèn luyện kĩ năng này chỉ chiếm một thời lượng
rất ít trong 1 tiết dạy do đó đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước các yêu cầu mà
bài tập hoặc bài thực hành mà giáo viên đã giao cho, nhưng nhiều em chưa thực sự
tập trung và quan tâm đến yêu cầu mà giáo viên đã giao nên đây cũng là khó khăn
Trang 4
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
lớn đối với giáo viên khi thực hiện dạy một bài thực hành vẽ biểu đồ hoặc một bài
tập vẽ biểu đồ, do đó:
- Học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài.
- Học sinh không xác định được kiểu biểu đồ sẽ vẽ là gì và việc xử lí bảng số
liệu (nếu có).
* Đồ thị (đường biểu diễn).
- Khoảng cách năm chia sai, năm đầu tiên thường vẽ không trùng với trục
tung.
- Chia số có thể khác ở 2 trục, nhưng yêu cầu vạch tỉ lệ ngang nhau (không có
bên vạch cao, bên vạch thấp)
* Biểu đồ hình cột.
- Cột đầu tiên phải cách trục thẳng (trục tung) một khoảng cách (không vẽ
dính trục tung).
- Khoảng cách năm chia không chính xác.
2. Một số ưu điểm của giáo viên dạy Địa lí ở các trường THPT
Qua khảo sát thực tế và tiến hành dự giờ đồng nghiệp khi dạy các bài có vẽ
biểu đồ, tôi nhận thấy:
Phần lớn giáo viên có quan niệm đúng về chức năng của một bài tập, bài thực
hành vẽ biểu đồ thể hiện trong việc chuẩn bị chu đáo về giáo án, yêu cầu, mục đích
của bài tập là gì, biểu đồ thể hiện yếu tố nào của đối tượng Địa lí. Đây là phần
không những rèn luyện kĩ năng kiến thức mà còn củng cố những kiến thức đã học
ở trong bài, từ đó học sinh xây dựng được các mối liên hệ Địa lí.
Hầu hết giáo viên biết vận dụng sáng tạo, khoa học các kĩ năng rèn luyện cho
học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, do đó đã phát huy được tính tư duy
độc lập cho học sinh, giúp học sinh nắm chắc nội dung của bài học và rèn luyện tốt
kĩ năng cho các em.
IV. CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Để làm tốt "Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong
chương trình Địa lý lớp 12”
Trong giảng dạy, giáo viên cần lựa chọn các phương pháp tích cực trên cơ sở
coi trọng nhận thức của học sinh, tăng cường vai trò tổ chức lĩnh hội, khám phá
kiến thức. Trong giờ giảng, giáo viên giành nhiều thời gian cho học sinh tự làm
việc với sách giáo khoa, biểu đồ, lược đồ và với các thiết bị học tập khác để học
sinh tự chủ động tìm ra kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Tất cả các
* Khi nào vẽ biểu đồ tròn?
- Khi đề bài yêu cầu: “vẽ biểu đồ tròn”.
- Trong đề bài có cụm từ như: “cơ cấu/ tỉ lệ”, “tỉ trọng so với toàn phần” (ít
năm ≤ 3 năm, có nhiều thành phần).
* Cách vẽ biểu đồ tròn:
- Đề bài cho số liệu tuyệt đối (thực tế) phải chuyển sang số liệu tương đối (%).
+ Cách chuyển đổi đơn vị từ số liệu thực tế sang số liệu %: Muốn tính % của
số nào thì lấy số đó chia cho tổng số và nhân cho 100%
Trang 7
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
- Cần chú ý độ lớn (bán kính của các vòng tròn cần vẽ). Nếu là số liệu tuyệt đối
(thực tế), học sinh phải tính R, nếu bảng số liệu cho đơn vị % có thể vẽ các vòng
tròn có bán kính bằng nhau.
- Vẽ theo chiều kim đồng hồ, theo thứ tự đề bài, lấy mốc chuẩn là kim đồng hồ
chỉ số 12: (1% tương ứng 3,60).
- Ghi số liệu trong vòng tròn (phải là số liệu %).
- Chú giải: bằng các kí hiệu, không nên ghi chữ, vẽ trái tim, vẽ mũi tên.... Nên
dùng các đường thẳng, nghiêng, dấu cộng, trừ, chấm, để trắng....
- Tên biểu đồ: có thể ghi ở trên hoặc dưới biểu đồ, nên ghi bằng chữ in hoa cho
rõ.
* Ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Trong SGK Địa lí 12 (ban cơ bản), bảng số liệu 29.1, bài 29- trang 128
Cho bảng số liệu: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế
nước ta, giai đoạn 1995 – 2005 (giá thực tế) (Đơn vị: tỉ đồng)
Thành phần kinh tế
1995
- Tỉ lệ KV có vốn đầu tư nước ngoài 1995 = (39 589 : 149 432 ) x 100% = 25,1 %
Năm 2005: (xử lí tương tự)
Lập bảng: (Đơn vị: %)
Trang 8
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Thành phần kinh tế
1995
2005
KV Nhà nước
50,3%
25,1%
KV Ngoài nhà nước
24,6%
31,2%
KV có vốn đầu tư nước ngoài
25,1%
Năm 2005
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP PHÂN
THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ NƯỚC TA, GIAI ĐOẠN 1995 - 2005
2.2.2. Biểu đồ miền:
* Khi nào vẽ biểu đồ miền?
- Khi đề bài yêu cầu cụ thể: “ Em hãy vẽ biểu đồ miền”.
- Khi đề bài xuất hiện một trong các cụm từ sau: “ Thay đổi cơ cấu”, “
chuyển dịch cơ cấu”, “thích hợp nhất để chuyển dịch cơ cấu”, (nhiều năm ≥ 4
năm, ít thành phần).
* Cách vẽ biểu đồ miền:
- Đề bài cho số liệu tuyệt đối, (thực tế) phải chuyển sang số liệu tương đối (%).
+ Cách chuyển đổi đơn vị từ số liệu thực tế sang số liệu %: Muốn tính % của
số nào thì lấy số đó chia cho tổng số và nhân cho 100%
Trang 9
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
- Trục tung (đơn vị) bằng 100%, trục hoành biểu thị năm và được đóng khung
hình chữ nhật.
- Lấy năm đầu tiên trên trục tung (nằm ở gốc tọa độ), phân chia khoảng cách
năm theo tỉ lệ tương ứng.
- Vẽ lần lượt từ dưới lên trên theo thứ tự của đề bài.
- Ghi số liệu vào đúng vị trí từng miền trong biểu đồ đã vẽ.
- Chú giải (kí hiệu): không nên ghi chữ, vẽ trái tim , vẽ mũi tên... Nên dùng
các đường thẳng, nghiêng, dấu cộng, trừ, chấm, để trắng....
- Tên biểu đồ: có thể ghi ở trên hoặc dưới biểu đồ, nên ghi bằng chữ in hoa
cho rõ.
1451,3
2015,4
Vẽ biểu đồ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu diện tích gieo trồng cây công
nghiệp nước ta, giai đoạn 1980 – 2010.
* Hướng dẫn:
a. Đổi ra % (xử lí số liệu):
Năm 1980
- Tính tổng diện tích năm 1980 = 371,7 + 256,0 = 627,7 nghìn ha
+ Tỉ lệ Cây công nghiệp hàng năm 1980 = (371,7 : 627,7) x 100% = 59,2%
+ Tỉ lệ Cây công nghiệp lâu năm 1980 = (256,0 : 627,7) x 100% = 40,8%
- Tính tổng diện tích năm 1990 = 542,0+ 657,3 = 1 199,3 nghìn ha
+ Tỉ lệ Cây công nghiệp hàng năm 1990 = (542,0 : 1 199,3 ) x 100% = 45,2%
+ Tỉ lệ Cây công nghiệp lâu năm 1990 = (657,3 : 1 199,3) x 100% = 54,8%
(Tính tương tự cho các năm khác)
Lập bảng: Tương tự ta sẽ có bảng số liệu đã đổi đơn vị nghìn ha sang đơn vị %.
Trang 10
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Năm
1980
1990
2000
65.1
60%
40%
69.9
59.2
45.2
20%
34.9
30.1
0%
1980
1990
Cây công nghiệp hàng năm
2000
2010
Cây công nghiệp lâu năm
40
20 năm
20
0
1960
Năm
1990
1970
- Chia số có thể khác ở 2 trục, nhưng yêu cầu vạch tỉ lệ ngang nhau (không có
bên vạch cao, bên vạch thấp)
80
40
60
80
40
60
30
Cho bảng số liệu: Dân số Việt Nam, giai đoạn 1921 – 2009 (Đơn vị: Triệu người)
Trang 12
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Năm
1959
1969
1979
1989
1999
2009
Dân số
29,3
43,2
52,7
64,4
50
40
Dân số
29.3
30
20
10
0
1959
1969
1979
1989
1999
2009 Năm
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TÌNH HÌNH TĂNG DÂN SỐ CỦA NƯỚC TA
GIAI ĐOẠN 1959 – 2009.
Dạng 2: Loại biểu đồ có 2 đơn vị tính (có 2 đường biểu diễn, 2 trục tung).
Ví dụ 2: Bảng số liệu lấy từ sách hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp năm 2010 –
2011(trang 39).
Cho bảng số liệu sau: Dân số, sản lượng lương thực nước ta, giai đoạn 1995 – 2008.
Trang 13
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Vẽ biểu đồ đường thể hiện sự phát triển dân số và sản lượng lương thực ở nước
ta (1995 – 2008).
* Hướng dẫn:
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỰ PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ SẢN LƯỢNG LƯƠNG
THỰC NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1995 – 2008
Dạng 3: Loại biểu đồ có 2 đường biểu diễn trở lên.
Ví dụ 3: Bảng số liệu lấy từ sách hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp năm 2010 – 2011.
Diện tích, sản lượng lúa và năng suất lúa hàng năm ở nước ta, giai đoạn 1975-2005.
Năm
Diện tích
Sản lượng
Năng suất
(nghìn ha)
(nghìn tấn)
(tạ/ha)
31,9
1995
7091
27645
39,0
2000
7666
32530
42,4
2005
7329
35832
44,9
Trang 14
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
1980
115,3
113,2
98,1
1985
117,5
154,2
131,1
1990
124,1
186,8
150,4
1995
146,0
268,6
316
300
268.6
250
186.8
200
154.2
150
113.2
200
183.9
Năng suất
150.4
131.1
146
100
115.3
98.1
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN DIỆN TÍCH, SẢN LƯỢNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA
NƯỚC TA, GIAI ĐOẠN 1975 - 2005
2.2.4. Biểu đồ cột:
* Khi nào vẽ biểu đồ cột?
- Khi đề bài yêu cầu “vẽ biểu đồ cột”
- Khi đề bài xuất hiện một trong các cụm từ sau: “số lượng”, “sản lượng”, “so
sánh”, “cán cân xuất nhập khẩu”.
* Cách vẽ biểu đồ cột:
- Xác định chính xác các đơn vị có trong đề bài ghi lên trục tung.
- Chọn kích thước biểu đồ sao cho phù hợp với khổ giấy (chiều dài trục đứng
(trục tung) thể hiện đơn vị và trục ngang (trục hoành) thể hiện năm).
- Khoảng cách các năm phải chia tương ứng với bảng số liệu.
- Các cột chỉ khác nhau về độ cao, còn bề ngang của các cột thì bằng nhau.
- Khi vẽ cột đầu tiên phải cách trục tung một khoảng (năm đầu tiên không được
lấy trên trục tung)
- Nên ghi số lượng trên đầu mỗi cột để dễ dàng so sánh và nhận xét.
Trang 16
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
- Chú giải (kí hiệu): không nên ghi chữ, vẽ trái tim , vẽ mũi tên.... Nên dùng các
đường thẳng, nghiêng, dấu cộng, trừ, chấm, để trắng....
- Tên biểu đồ: có thể ghi ở trên hoặc dưới biểu đồ, nên ghi bằng chữ in hoa cho
rõ.
* Lưu ý:
- Cột đầu tiên phải cách trục thẳng (trục tung) một khoảng cách (không vẽ
dính trục tung).
60
40
40
20
20
0
1960
1970
1990
Năm
0
1960
1970
1990
Năm
Đúng
1781,8
2628,2
3477,5
4235,8
Vẽ biểu đồ cột thể hiện số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, giai đoạn
1995 – 2008.
* Hướng dẫn
Nghìn lượt người
4235.8
4500
4000
3477.5
3500
3000
2628.2
2500
1781.8
2000
1500
Hà Nội
1676 mm
989 mm
+ 687 mm
Huế
2868 mm
1000 mm
+ 1868 mm
Tp Hồ Chí
1931 mm
1686 mm
+ 245 mm
Minh
Vẽ biểu đồ thích hợp nhất so sánh lượng mưa, lượng bốc hơi và cân bằng ẩm
của Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh.
* Hướng dẫn:
500
245
0
Hà Nội
Lượng mưa
Huế
Khả năng bốc hơi
Tp Hồ Chí Minh
Cân bằng ẩm
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN LƯỢNG MƯA, KHẢ NĂNG BỐC HƠI VÀ CÂN BẰNG
ẨM CỦA CÁC ĐỊA ĐIỂM HÀ NỘI, HUẾ, TP HỒ CHÍ MINH.
2.2.5. Biểu đồ kết hợp
* Khi nào vẽ biểu đồ kết hợp?
- Khi đề bài yêu cầu “vẽ biểu đồ kết hợp (cột và đường) ”
* Cách vẽ biểu đồ kết hợp:
- Xác định đối tượng vẽ cột và đối tượng vẽ đường.
- Biểu đồ thường có 2 trục tung (thể hiện đơn vị), trục hoành (thể hiện năm,
vùng, nước…).
- Do tọa độ đường nằm giữa cột vì thế vẽ cột trước, xong mới vẽ đường.
- Khoảng cách các năm phải chia tương ứng với bảng số liệu.
- Các cột chỉ khác nhau về độ cao, còn bề ngang của các cột thì bằng nhau.
- Khi vẽ cột đầu tiên phải cách trục tung một khoảng (năm đầu tiên không được
lấy trên trục tung)
- Nên ghi số lượng trên đầu mỗi cột và đường để dễ dàng so sánh và nhận xét.
14,9
20,8
2000
18,8
24,2
2005
22,3
26,9
* Hướng dẫn:
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỐ DÂN THÀNH THỊ VÀ TỈ LỆ DÂN THÀNH THỊ
TRONG DÂN SỐ CẢ NƯỚC, GIAI ĐOẠN 1990 – 2005.
Trang 20
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Ví dụ 2: Bảng số liệu lấy từ sách hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp năm 2010 –
2011(trang 38).
Diện tích và sản lượng lúa của nước ta, giai đoạn 1990 – 2008.
Năm
lúa, giai đoạn 1990 – 2008.
* Hướng dẫn
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG LÚA NƯỚC TA,
GIAI ĐOẠN 1990 – 2008
2.3. Một số lưu ý khi vẽ biểu đồ:
- Vẽ biểu đồ chỉ sử dụng một màu mực (không được dùng viết đỏ và viết chì).
- Xem kỹ đơn vị mà đề bài cho (đơn vị thực tế hay đơn vị %).
- Nếu cần có thể chuyển đơn vị thích hợp, tính toán chính xác.
- Vẽ biểu đồ sạch sẽ, theo thứ tự của đề bài.
Trang 21
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
- Ký hiệu rõ ràng, ghi số liệu và chú thích đầy đủ.
- Ghi tên cho biểu đồ đã vẽ.
2.4. Một số phép tính thường gặp khi vẽ biểu đồ
Đơn vị
1
Mật độ
Dân cư
2
Sản lượng
3
Sản lượng = Năng suất x Diện tích
tấn hoặc triệu tấn
Kg/ ha hay tạ/ ha
hoặc tấn/ ha
m2/ người
Sản lượng
Năng suất =
Bình quân đất
Diện tích
USD/ người
BQ thu nhập =
Kg/ người
BQ sản lượng =
Theo số liệu gốc
%
Diện tích đất
=
Triệu người
(D8 là DS năm 2008; D7 là DS năm
2007)
Trang 22
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
V. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Kết quả của những tiết dạy địa lí thực nghiệm được đánh giá trên cơ sở lấy
điểm số các bài tập, bài thực hành của học sinh.
1. Kết quả bài kiểm tra trước khi thực nghiệm đề tài.
* Thực trạng ban đầu của các lớp:
Tổng số
Biết xác định
học sinh
và vẽ đúng
12S1
45
20
44,4%
44
25
56,8%
19
43,2%
12S7
41
20
48,8%
21
51,2%
Lớp
Tỉ lệ %
Chưa biết
Tỉ lệ %
12S2
41
02
10
14
15
12S4
43
05
08
12
18
12S5
44
02
Biện pháp hướng dẫn kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản trong chương trình Địa lý lớp 12
Kết quả thực nghiệm ở lớp 12
Tổng số
Biết xác định
học sinh
và vẽ đúng
12S1
45
40
88,8%
05
11.2%
12S2
41
39
12S7
41
38
92,7%
03
7,3%
Lớp
Tỉ lệ %
Chưa biết
Tỉ lệ %
cách xác định
Vì vậy mà kết quả bài kiểm tra thực nghiệm đạt được như sau:
Lớp
Tổng số học
Điểm giỏi
Điểm khá
02
12S4
43
04
16
20
03
12S5
44
05
15
20
04
12S7
41
- Giáo viên nghiên cứu tham khảo một số kiến thức phục vụ cho tiết thực
hành.
- Giáo viên hệ thống lại các lỗi học sinh sai ở bài thực hành trước, khắc
phục bài thực hành sau.
- Trong tiết thực hành giáo viên phải hướng dẫn xử lí số liệu, cách vẽ, sau
đó học sinh làm các bước tiếp theo.
- Gọi 2 học sinh lên bảng vẽ hai biểu đồ (một học sinh khá, một học sinh
yếu).
- Cả lớp cùng làm, giáo viên theo dõi hướng dẫn giúp đỡ một số nhóm, cá
nhân làm chậm và chưa chính xác.
- Các nhóm thảo luận, bổ sung bài làm của hai bạn đã vẽ trên bảng.
- Giáo viên nhận xét đánh giá kết quả bài làm của học sinh.
PHẦN III. KẾT LUẬN
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên bản thân tôi đã tự củng cố thêm
được phần nào kiến thức. Bài học được áp dụng vào bài thực hành, các bài tập
trong sách giáo khoa và các đề kiểm tra, đề thi tốt nghiệp, CĐ - ĐH khi các em
tham gia các kì thi.
Chương trình Địa lý lớp 12 có nhiều bài thực hành vẽ biểu đồ hoặc phân tích
số liệu. Giới thiệu cách vẽ biểu đồ - các loại biểu đồ đã giúp cho học sinh dễ dàng
đánh giá, nhận biết bài thực hành Địa lý kinh tế - xã hội trong chương trình Địa lý
lớp 12 và tạo cơ sở tiền đề cho học sinh tiếp tục chương trình CĐ - ĐH - THCN
sau này. Học sinh biết vận dụng kết hợp lý thuyết, thực tiễn, phát huy tính sáng
tạo, tích cực chủ động trong quá trình học tập môn Địa lý.
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này tôi có một số kiến nghị sau:
- Cần thiết phải trang bị cho học sinh kỹ năng thực hành, lý thuyết phải luôn
đi đôi với thực hành thì học sinh mới hiểu và nắm chắc được bản chất của vấn đề.
- Cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các giáo viên nhằm mục đích đưa nội
dung giảng dạy vào tất cả các lớp học.
Trang 25