1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
LỊCH SỬ ĐỒN ĐIỀN CAO SU Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
THỜI KỲ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898-1939)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, quý thầy cô khoa sử đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn TS. Lê Huỳnh Hoa, cô đã tận tình
chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện
luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Phước Vĩnh và các đồng
nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu.
đem lại nguồn lợi rất lớn cho tư bản thực dân Pháp.
Với sự xuất hiện của vùng nguyên liệu cây cao su công nghiệp, Nam Kỳ đã
hình thành được hai vùng sản xuất nguyên liệu chính phục vụ cho xuất khẩu của thực
dân Pháp, đó là lúa gạo ở Miền Tây và cao su ở Miền Đông. Trong đó Miền Đông
Nam Kỳ với thế mạnh đặc trưng của mình đã tác động khá lớn đến tổng thể kinh tế
Nam Kỳ.
Để hiểu rõ vị trí và vai trò của cây cao su trong nền kinh tế Miền Đông Nam
Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung thời Pháp thuộc, tôi đã chọn đề tài « Lịch sử
đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc giai đoạn (1898-1939) »
làm đề tài tốt nghiệp luận văn thạc sỹ của mình. Mong rằng những hiểu biết lịch sử
sau khi nghiên cứu có thể làm cơ sở khoa học và thực tiễn để hiểu, để xác định hướng
đi kinh tế của Miền Đông Nam Kỳ trong hiện tại và tương lai.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Để thực hiện đề tài, tôi đã tìm đọc và nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến những nội dung có liên quan đến đề tài. Các nội dung này phần lớn được
thể hiện hòa lẫn trong các công trình nghiên cứu về nhiều mặt của Nam Kỳ và Miền
Đông Nam Kỳ. Có thể giới thiệu sơ bộ sau đây.
Trước tiên phải kể đến các tác phẩm của người Pháp. Họ rất quan tâm nghiên
cứu về vấn đề trồng trọt ở Miền Đông Nam Kỳ, đã bỏ không ít thời gian vào việc
nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Miền Đông Nam Kỳ:
- Terres rouges et terres noires basaltiques d’Indochine, nhà xuất bản Hà Nội,
năm 1931 và Economic agricole del l Indochine, nhà xuất bản Hà Nội, năm 1932
của Yves Henry.
- Le problem économique Indochinois của P. Bernard, xuất bản năm 1934.
- Note sur la main d’auvre caoutchouc des plantations de la Cochinchine et du
Cambodge của G. Wormeser, nhà xuất bản Sài Gòn, năm 1938.
Ngoài ra còn có một số bài viết đề cập đến đồn điền cao su ở những góc độ và
mức độ khác nhau được đăng trên các tạp chí: Économique Indochinoi, Extrême
phân bố các đồn điền cao su cũng như sở hữu của các điền chủ chưa được tác giả làm
rõ.
- Tình hình kinh tế Đông Dương(1900-1939) và kế hoạch tái thiết, trang bị
canh tân Đông Dương, nguyên tác của ủy ban kế hoạch Pháp do Lê Khoa dịch và
bình, xuất bản năm 1969.
- Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh, nhà xuất bản Lửa
Thiêng, năm 1970 và Việt Nam Pháp thuộc sử của Phan Khoang, phủ quốc vụ khanh
đặc trách văn hóa xuất bản, năm 1971. Trong chương 2 trình bày về sinh hoạt kinh tế
của Việt Nam, hai tác giả cũng đã nêu sơ lược về diện tích, sản lượng cao su.
- Vấn đề cao su Việt Nam của Đỗ Văn Minh, luận văn cao học Quốc gia hành
chính Sài Gòn, năm 1971. Đây cũng là một chuyên khảo về cao su, tuy nhiên tác
phẩm của ông chủ yếu nghiên cứu ở giai đoạn từ 1945 trở về sau.
- Nền kinh tế Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (1920-1930) của Trịnh Như Kim,
luận văn cao học sử, Đại họcVạn Hạnh, năm 1972.
- Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ của Huỳnh Lứa (chủ biên), nhà xuất bản
Tp. Hồ Chí Minh, năm 1987. Trong chương 4 khi trình bày về công cuộc khai phá
dưới thời Pháp thuộc, các tác giả đã dành 7 trang để nêu sơ lược về: diện tích trồng
cao su, sự phân bố, năng suất và tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế, xã hội
Miền Đông Nam Kỳ.
- Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương
(1859-
1939) của Jean- Pierre Aumiphine (bản dịch), xuất bản ở Hà Nội, năm 1994. Tác giả
cũng trình bày một cách khái quát về hoạt động đồn điền cao su.
- Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Miền Nam Việt Nam
(1954-
Việt Nam và bộ phận công nhân cao su như là:
- Địa ngục cao su của Nguyễn Hải Trừng, nhà xuất bản Sự Thật, năm 1955.
- Giai cấp công nhân Việt Nam của Trần văn Giàu , nhà xuất bản Sự thật, Hà
Nội, 1961.
- Phú Riềng đỏ của Trần Tử Bình, nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 1971.
- Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam của Nguyễn Công
Bình, nhà xuất bản Lao động, năm 1974.
- Giai cấp công nhân Việt Nam trước khi thành lập Đảng của Ngô văn HòaDương Kinh Quốc, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1978.
- Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1936-1939 của Cao văn Biền, nhà xuất
bản KHXH, 1979.
- Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Miền Đông Nam Bộ
của Thành Nam, nhà xuất bản Lao động, năm 1982.
- Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906-1990) của Huỳnh Lứa
(chủ biên), Nhà xuất bản Trẻ, năm 1993.
- Phú Riềng đỏ trong phong trào công nhân Miền Đông Nam Kỳ của Hà Minh
Hồng, nghiên cứu lịch sử số 5, năm 1999.
Những tác phẩm trên giúp chúng tôi nhận biết chân xác hơn về : sự ra đời và
phát triển cũng như tình cảnh lao động và đời sống của giai cấp công nhân Việt Nam,
đặc biệt là bộ phận công nhân làm việc tại các đồn điền cao su. Đồng thời, thấy rõ
bản chất bóc lột của tư bản thực dân Pháp.
Bên cạnh đó, một số tác giả có những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề cao su ở một số địa phương của Miền Đông Nam Kỳ. Nhìn chung các tài liệu này
cũng giúp người nghiên cứu bổ sung thêm một ít tư liệu về đồn điền cao su ở các địa
phương.
- Lịch sử các đồn điền cao su thuộc miền đất đỏ Bình Long của Lê Linh, Tuần
san Phòng thương mãi Sài Gòn, số 186-187, 1961.
- Thực tế khai thác cao su của người Pháp tại Bình Long, của Ngô Viết Đức,
luận văn cao học Quốc gia hành chính Sài Gòn, năm 1972.
là cây cao su.
- Từ thực tế hoạt động của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp
thuộc, tiến hành xem xét, đánh giá những ảnh hưởng tích cực và hạn chế của đồn điền
cao su đối với kinh tế, xã hội của Miền Đông Nam Kỳ.
- Trên cơ sở nhận thức về sự khai thác triệt để và những hậu quả mà thực dân
Pháp để lại cho thuộc địa. Bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây
dựng và phát triển kinh tế Miền Đông Nam Kỳ trong hiện tại và tương lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về hoạt động cụ thể của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ
giai đoạn (1898-1939). Vì vậy, hoạt động của đồn điền cao su (1898-1939)– ngành
sản xuất mang tính đặt thù của kinh tế Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc – là đối
tượng nghiên cứu chủ yếu. Tuy nhiên được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu như
sau:
- Không gian nghiên cứu của đề tài là khu vực Miền Đông Nam Kỳ gồm các
tỉnh : Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn. Ngày nay
thuộc địa phận hành chính các tỉnh : Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà RịaVũng Tàu, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn bởi hai mốc :
Mốc mở đầu là năm 1898 : Đây là năm bắt đầu trồng và lập đồn điền cao
su ở Miền Đông Nam Kỳ.
Mốc kết thúc là năm 1939 : Trên thực tế đây là năm kết thúc công cuộc
khai thác thuộc địa lần II. Từ năm 1940-1945, phát xít Nhật đã nhảy vào
Đông Dương. Về danh nghĩa thực dân Pháp vẫn duy trì chủ quyền của
mình, nhưng trên thực tế, các hoạt động của thực dân Pháp đã hoàn toàn
bị phát xít Nhật chi phối, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được xác định
là những phương pháp cơ bản để tiến hành nghiên cứu.
Hỗ trợ cho phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp thống
kê nhằm hệ thống các số liệu, dữ kiện làm cơ sở để kết hợp đồng thời với phương
Chương 4 : Tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế - xã hội của Miền
Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1898-1939).
Chương 1 : VÙNG ĐẤT MIỀN ĐÔNG NAM KỲ TRƯỚC VÀ
TRONG THỜI PHÁP THUỘC
1.1. Miền Đông Nam Kỳ trước thời Pháp thuộc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Miền Đông Nam Kỳ là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước Việt
Nam. Trong giai đoạn Pháp thuộc, Miền Đông Nam Kỳ bao gồm các tỉnh: Gia Định,
Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh. Ngày nay thuộc địa phận các
tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố
Hồ Chí Minh.
Về mặt vị trí địa lí: Phía Tây và Tây Nam, nằm kề đồng bằng châu thổ sông
Cửu Long. Phía Đông và Đông Nam giáp biển. Phía Bắc và Đông Bắc giáp vùng Tây
Nguyên.
Theo tác giả Huỳnh Lứa trong tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”,
Miền Đông Nam Kỳ có diện tích 27.920 km2, là vùng đồng bằng phù sa cổ, tồn tại
dưới dạng bán bình nguyên, có địa hình đồi gò lượn sóng, độ cao trung bình từ vài
chục mét đến khoảng 200m trên mực nước biển, độ dốc dưới 150 chiếm 80% diện
tích, gồm những cao nguyên thấp và những ngọn đồi lượn sóng, rải rác xuất hiện một
vài ngọn núi trẻ như núi Chứa Chan (858m), núi Bà Rá (736m), núi Bà Đen
(986m)… Miền Đông Nam Kỳ là một vùng đất cao tiếp liền dưới chân phía nam các
cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh kéo dài từ Tây Ninh đến Bà Rịa. Rìa phía nam đổ
thoai thoải xuống đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng của các núi lửa đã tắt và
của các bậc thềm sông, khoảng 1/3 diện tích có địa hình hiểm trở, còn lại đất đỏ và
đất xám là chủ yếu, rất thích hợp cho cây công nghiệp.[27, tr.17-18]
Đất đỏ ở Miền Đông Nam Kỳ trải rộng ở phía bắc chạy dài thành một dải theo
hướng bắc-đông-bắc; nam-đông-nam phủ trên nền đá hoa cương cổ. Trước hết người
ta tìm thấy đất đỏ ở gần Kompong-cham (tả ngạn sông Mê Kông), nó đi qua Lộc
Trị An. Sông chảy uốn khúc rồi gặp sông Sài Gòn từ Hớn Quản qua Tây Ninh, Thủ
Dầu Một, Gia Định về mạn Nhà Bè. Từ đây sông thông ra biển bằng nhiều nhánh:
sông Đồng Tranh, sông Ngã Bảy, sông Lòng Tàu, sông Soài Rạp (sông Nhà Bè).
Sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều. Nhờ thủy triều mà dòng sông
sâu, thuyền lớn có thể ngược hai sông Vàm Cỏ đến biên giới Việt- Campuchia, ngược
sông Đồng Nai đến Biên Hòa, ngược sông Sài Gòn đến hết tỉnh Thủ Dầu Một.
Các con sông thuộc hệ Đồng Nai đã tạo thành một mạng lưới giao thông đường
thủy thuận lợi cho cư dân các tỉnh Miền Đông, đồng thời nó còn thông với các tỉnh
Miền Tây và Campuchia qua hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.
Miền Đông Nam Kỳ có đặc điểm khí hậu nhiệt đới cận xích đạo với nền nhiệt
độ cao và hầu như không thay đổi đáng kể trong năm, nhiệt độ tối đa 34o-35o và tối
thiểu là 18o. Đặc biệt có sự phân hóa sâu sắc theo mùa, phù hợp với hoạt động của
gió mùa. Ở đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 dương
lịch trùng hợp với gió mùa tây nam, mùa khô kéo dài từ tháng 11đến tháng 4 là
khoảng thời gian có gió mùa đông bắc. Lượng mưa tương đối dồi dào, lượng mưa
trung bình hàng năm khoảng 1.500-2.000mm. Nhìn chung, đây là vùng có khí hậu
tương đối điều hòa, ít có thiên tai, không gặp thời tiết quá lạnh, ảnh hưởng của bão
hạn chế. Khí hậu của vùng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là cây công
nhiệp lâu năm như cao su.
1.1.2. Khái quát lịch sử khai phá vùng đất Miền Đông Nam Kỳ.
1.1.2.1. Sự hiện diện đầu tiên của con người trên vùng đất Miền Đông
Nam Kỳ.
Những khám phá của khảo cổ học cho biết một cách chắc chắn con người đã
có mặt trên vùng đất Miền Đông Nam Kỳ cổ từ khá lâu đời, cách đây khoảng 4.000
năm đến 2.500 năm. Những di cốt đầu tiên được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng. Số
lượng các di tích cư trú, các khu mộ cổ của lớp cư dân đầu tiên có đến hàng trăm địa
điểm. Đặc biệt là khu đất đỏ bazan và vùng hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn, vùng
ven sông Vàm Cỏ Đông có mật độ cư trú các di tích khá dày. Từ các di tích Vườn
Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay), gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp,
những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của
những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê, khắp nơi vang
tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa đường trong sông, thấy những cánh đồng
hoang không có một gốc cây. Xa nữa, tằm mắt chỉ toàn thấy cỏ cây đầy rẩy. Hàng
trăm hàng nghìn trâu rừng tụ hợp từng bầy. Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre
chạy dài hàng trăm dặm”.[27, tr.37].
1.1.2.2. Sự xuất hiện của lưu dân người Việt với qúa trình khai phá vùng
đất Miền Đông Nam Kỳ trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
Như đã nêu ở trên, vùng đất Miền Đông Nam Kỳ mặc dù từ lâu đã là nơi sinh
sống của những lớp cư dân thuộc nhiều thành phần chủng tộc và dân tộc khác nhau.
Nhưng cho đến thế kỷ XVI, về cơ bản đây vẫn là vùng đất hoang vu chưa được mở
mang khai phá gì nhiều.
Từ đầu thế kỷ XVII, Miền Đông Nam Kỳ cũng như toàn bộ vùng đất Nam Kỳ
trở nên rầm rộ và sôi động, do có sự xuất hiện của cư dân mới, chủ yếu là người Việt
từ miền Thuận Quảng di cư vào. Nguyên nhân của hiện tượng xã hội này chính là do
những cuộc chiến tranh tương tàn của hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn. Dân
chúng không sống nổi trong tình cảnh binh đao, nô dịch, thiên tai, đói nghèo. Họ
quyết định rời bỏ làng mạc, xiêu tán vào phương Nam, hội nhập cùng với cư dân bản
địa khai hoang, lập ấp, mưu cầu cuộc sống an bình, no ấm.
Theo chân người Việt, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, một số người Hoa
“phản Thanh phục Minh” cũng được chúa Nguyễn cho lánh nạn vào đây sinh sống.
Đến giữa thể kỷ XVIII, lại có thêm người Chăm gia nhập vào lớp cư dân mới. Họ
cùng cộng cư với người dân bản địa và cư dân người Việt sinh sống lâu dài.
Số lưu dân người Việt khi vào tới đất Đồng Nai – Gia Định thì địa điểm dừng
chân đầu tiên của họ, theo sử cũ “Gia Định thành thông chí” là vùng Mô Xoài-Bà
Rịa. Vì đây là vùng đất địa đầu nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào
Nam, lại tiếp giáp biển.
hoang có chậm lại. Từ giữa thế kỷ XVIII, vùng Bến Nghé khôi phục và phát triển trở
lại với các khu định cư của người Việt, người Hoa. Đồn dinh, doanh trại tiếp tục được
mở rộng và xây dựng thêm. Công cuộc khai hoang được đẩy mạnh, các vùng khai
khẩn của nông dân, của binh lính được mở rộng trên qui mô lớn.
Như vậy đến những năm cuối thế kỷ XVII, cùng với người Hoa, người Chăm,
người Khơ me, lưu dân người Việt đã định cư và khai phá cả một vùng đất rộng lớn ở
Miền Đông Nam Kỳ từ địa đầu Mô Xoài – Bà Rịa cho đến Sài Gòn – Bến Nghé. Dân
số đã hơn 40.000 hộ (khoảng 200.000 người). Đó chính là cơ sở xã hội để năm 1698,
chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh vào thiết lập chính quyền ở vùng này
“lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long,
dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn,
thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế đinh
điền và lập hộ tịch đinh điền” [27, tr.46].
Huyện Tân Bình lúc đó bao gồm các quận 1,3,4,5,6,8,10,11,Tân Bình, Phú
Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Hóc Môn, Cần Giờ, Củ Chi, toàn tỉnh Tây Ninh và một
phần tỉnh Long An ngày nay. Huyện Phước Long bao gồm một vùng rộng lớn từ
Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, một phần tỉnh Bình Thuận,
Thủ Đức, Thủ Thiêm, Nhà Bè, Giồng Ông Tố
[49, tr.16]. Như vậy phủ Gia
Định khi ấy đã bao trùm lên khắp vùng Miền Đông Nam Kỳ.
Tuy nhiên, những người đi khẩn hoang trong buổi đầu phần lớn là dân nghèo
phiêu bạt, phương tiện thiếu thốn, trình độ kỹ thuật hạn chế, nên những điểm định cư
và khai phá mới chỉ rải rác đây đó. Đất hoang, rừng rậm vẫn còn nhiều.
Sang thế kỷ XVIII, các địa điểm định cư và khai phá ở khu vực Bến Nghé,
chung quanh Sài Gòn tiếp tục được mở rộng. Nhiều thôn ấp được phát triển thành xã
như xã An Lộc (1716), xã An Phước (1746), xã Phú Thọ (1747), xã Tân Sơn Nhất
(1749), xã An Lợi Đông (1751). [27, tr.51]
đã sớm đưa năng suất lên khá cao. Vào cuối thế kỷ XVIII cấy một hộc thóc giống gặt
được 100 hộc [27, tr.79]. Với năng suất khá cao như thế, lại được thực hiện trên một
diện tích canh tác rộng lớn. Miền Đông Nam Kỳ trong nửa cuối thế kỷ XVIII đã sớm
trở thành một vựa lúa lớn, nguồn cung cấp thóc gạo quan trọng cho các phủ phía
ngoài của xứ Đàng trong nhất là xứ Thuận Hoá.
Piere Poivre trong đoạn nhật kí 27-10-1749 của mình cũng nhận xét rằng: “Hiện
nay Đồng Nai là một vựa lúa lớn của cả xứ Đàng trong. Vùng này đã cung cấp cho
toàn xứ một khối lượng lớn về thóc” [27, tr.80].
Những nhận xét như thế cho thấy hoạt động nông nghiệp trồng lúa ở vùng đất
phù sa cổ Miền Đông Nam Kỳ đã phát triển nhanh trong nửa đầu thế kỷ XVIII.
Nhìn chung, công cuộc khai phá vùng đất Miền Đông Nam Kỳ trong thế kỷ
XVIII có nhiều khởi sắc, tuy nhiên tình trạng đất hoang rừng rậm ở đây vẫn còn khá
nhiều. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quí Đôn đã ghi lại rằng: “ ở phủ Gia Định, đất
Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng
rậm hàng ngàn dặm” [27, tr.37].
Năm 1802, sau khi thắng Tây Sơn và lên ngôi hoàng đế, trên cơ sở những
thành quả đạt được từ thời các chúa Nguyễn, vua Gia Long tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc khẩn hoang ở cả Miền Đông lẫn Miền Tây của Nam Kỳ.
Bằng những biện pháp cụ thể, nhà nước Nguyễn đã chú trọng khuyến khích
dân chúng đi khai hoang với nhiều thủ tục dễ dãi như: người đi khai hoang tự do lựa
chọn nơi khai phá; miễn thuế cho người đi khai phá đất hoang trong vòng 3 năm hoặc
lâu hơn; cấp không hoặc cho mượn nông cụ, thóc giống, trâu bò; quy định đất đai
khai phá được thuộc sở hữu của người khai phá. Thúc đẩy dân chúng khẩn hoang là
công việc thường xuyên của quan lại địa phương và là tiêu chuẩn để nhà vua thực
hiện thưởng phạt. Năm 1836 và 1839, vua Minh Mạng đã ban hành lệ thưởng phạt
đối với việc đôn đốc khai hoang ở Nam Kỳ.[27, tr.98]
Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn còn đứng ra tổ chức dân chúng, binh
lính…tiến hành khai hoang qua hình thức đồn điền và khai hoang lập ấp.
-
- Trảng bàng
809
-
- Biên Hòa
1.964
-
- Bà Rịa
1.624
-
- Thủ Dầu Một
1.058
-
- Long Thành
1.709
1.2.1. Công cuộc khai phá đất đai ở Miền Đông Nam Kỳ của thực dân
Pháp.
1.2.1.1. Mục đích của chính sách khai thác đất đai của thực dân Pháp.
Trong lịch sử thuộc địa của thực dân Pháp, dù là ở đâu việc chiếm và khai thác
đất luôn là mục tiêu hàng đầu. Tiếp nối giai đoạn chinh phục bằng quân sự là giai
đoạn khai thác đất đai, bởi đó là cơ sở của toàn bộ chính sách khai thác thuộc địa.
Năm 1894, trong Thông tư gởi toàn quyền các thuộc địa, Bộ trưởng Bộ thuộc địa
Deleasse bày tỏ: “khai thác những vùng lãnh thổ rộng lớn mà chúng ta đã chiếm được
thiết lập ở đó các đồn điền, phát triển sức sản xuất của thuộc địa và bằng chính con
đường đó phát triển mối quan hệ về thương mại với chính quốc” [43, tr.11].
Tại Việt Nam, thực dân Pháp đã không chậm trể chiếm lấy những vùng đất đai
có thể khai thác. Chúng đã đề ra và thực hiện nhiều chính sách khác nhau để khai
thác và cướp đoạt nguồn tài nguyên đất đai giàu tiềm năng của đất nước ta. Nam Kỳ
là nơi thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất sớm nhất, vừa mới đặt chân vào
Nam Kỳ, tư bản Pháp đã đặt vấn đề “mở mang kinh tế” bằng cách, thu tóm những
vùng đất đai tốt nhất. Thực dân Pháp nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề sở
hữu đất đai vì chế độ tư hữu ruộng đất là một trong những phương tiện sản xuất đảm
bảo đủ nguồn hàng phục vụ xuất khẩu. Nam Kỳ là thuộc địa khai thác – chủ yếu là
khai thác nông nghiệp (lúa, cao su), nếu không nắm chắc trong tay đất đai thì tư bản
Pháp sẽ không thu được những món lãi khổng lồ. Vì vậy, vấn đề sở hữu và phân phối
ruộng đất đối với chính quyền thực dân là điều rất quan trọng. Trong điều kiện như
vậy, sự cố gắng để làm chủ một diện tích ruộng đất lớn chính là “nhiệm vụ chính trị”
là “trọng tâm hoạt động” của thực dân Pháp trong thời kì khai thác thuộc địa.
Năm 1897, triều đình Huế kí điều ước nhượng cho thực dân quyền khai khẩn
đất hoang. Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng
đất trong luật pháp phong kiến để dễ cướp đoạt ruộng đất của nông dân.
Chính sách chiếm đất của chính quyền thực dân ngày càng được xúc tiến mạnh
mẽ. Đó là một chế độ được hợp pháp hóa bằng việc ban hành những văn bản pháp lý
nghị định ngày 6/10/1889 và ngày 15/10/1890 đã bổ sung cho nghị định trên nhằm
mở rộng quyền chiếm đất cho những tên thực dân, quy định những tên thực dân được
quyền xin và chính quyền địa phương được quyền cấp mỗi lần 500 ha [15, tr.58].
Nghị định ngày 15/10/1890 bắt buộc trong vòng 5 năm, đất nhượng phải khai
khẩn xong và chính quyền thực dân có quyền lấy lại bất cứ lúc nào những thửa đất
cần thiết cho các công trình công cộng. [33, tr.190].
Từ năm 1913, Toàn quyền thủ tiêu các nghị quyết địa phương và ra nghị định
27/12/1913 chung cho toàn Đông Dương. Từ đây trở đi, quy chế về đất đai mới thực
sự có những điểm đồng nhất, hạn chế tình trạng quá lạm trong việc nhượng đất, điều
hòa sự phát triển của Đại, Trung và Tiểu điền chủ cũng là để xoa dịu mâu thuẫn xã
hội qua việc nhượng đất.
Nghị định 27/12/1913 đưa ra nguyên tắc: nhượng phải trả tiền là phổ biến với
tất cả những đất nhượng có diện tích trên 300 ha. Nhượng dưới hình thức cho không
chỉ là ngoại lệ với những đất nhượng dưới 300 ha. Người được nhượng đất phải tiến
hành khai thác theo thời hạn quy định trong điều lệ đấu thầu đối với trường hợp cấp
phát có trả tiền, và trong 5 năm đối với trường hợp cấp phát không trả tiền. Về đối
tượng xin nhượng đất đã mở rộng hơn, gồm các “công dân, thần dân và dân bảo hộ
Pháp”. Như vậy với nghị định này, người bản xứ được hưởng chế độ nhượng đất như
công dân Pháp. Nhưng trên thực tế, chỉ có những người đã vào làng Tây hay nắm giữ
những trọng trách trong bộ máy thuộc địa, làm tay sai cho người Pháp mới được cấp
nhượng đất, còn phần lớn người Việt đều không đủ thế và lực để cạnh tranh với công
dân Pháp trong việc xin nhượng đất. Riêng đối với người nước ngoài, nghị định này
đã loại bỏ hoàn toàn họ ra khỏi việc xin đất làm đồn điền ở Đông Dương. Về thẩm
quyền cấp đất, Thống đốc có quyền hạn tới 1.000 ha, từ trên 1.000 ha do Toàn quyền
cấp nhượng.
Tuy nhiên do chiến tranh, nghị định ngày 27/12/1913 chưa phát huy được mấy
hiệu lực. Vả lại, giá đất mà chính quyền bán cho các điền chủ nhiều khi còn rẻ hơn
giá ấn định 1 fr/1 ha đối với các đồn điền cho không. Vì thế, nghị định này vẫn tạo ra
định chỉ có người Pháp và người thuộc địa Pháp mới được xin khẩn đất. Sắc lệnh này
buộc các điền chủ lệ thuộc vào sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền và phải chịu
nhiều thể thức, nghĩa vụ, đặc biệt là những quy định về khả năng tài chính của người
xin. Mặt khác nó còn quy định một cách chi tiết hơn so với các văn bản khác về thẩm
quyền của các cấp chính quyền trong việc quản lý đất công. Sắc lệnh 4/11/1928 đảm
bảo cho chính phủ chính quốc một thứ quyền hạn ngày một tập trung hơn trong việc
quản lý và chuyển nhượng đất công. Từ đây, chính quyền thuộc địa chỉ được cấp
những nhượng địa từ 4.000 ha trở xuống. Những nhượng địa trên 4.000 ha sẽ thuộc
quyền cấp nhượng của tổng thống Pháp thông qua một sắc lệnh.
Có thể nói, với sắc lệnh 4/11/1928 giai đoạn tự do – tự do cấp nhượng đất –
đến đây đã kết thúc. Từ đây, chính phủ Pháp đã can thiệp vào công việc này bên cạnh
chính quyền thuộc địa.
Sự giảm sút về quyền hành của những người cầm đầu cấp Liên bang và cấp xứ
đối với đất công song song với quá trình tập trung quyền quản lý việc khai thác thuộc
địa về nông nghiệp vào tay chính phủ chính quốc là một đặc trưng của chế độ nhượng
đất, khẩn hoang ở Đông Dương từ năm 1928 trở đi. [44, tr.60]
Như vậy, với sắc lệnh 4/11/1928, việc thành lập các sở hữu lớn trở nên chính
thức. Nó loại bỏ mọi hạn chế về diện tích các đất đai công cộng có thể được cấp, loại
bỏ cùng một lúc cho các tư bản nước ngoài có khả năng chiếm hữu. Như vậy, “việc
khai thác nhỏ” bị mờ nhạt dần trước sở hữu lớn được khai thác chủ yếu bởi các vốn
của các công ty vô danh.
Sắc lệnh 4/11/1928 được áp dụng vào Đông Dương bằng nghị định 28/3/1929
của Toàn quyền Pasquyer. Tuy nhiên, trước sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân ta,
một số văn bản được bổ sung cho những quy định trên như: Nghị định 26/3/1929 của
Toàn quyền quy định rằng có một vùng xa xôi, trong nội địa mà tư bản pháp không
nên và không được xin làm đồn điền, cũng không được làm đồn điền ở vùng nào mà
nhân dân đã khai khẩn và trồng tỉa rồi và không được đi vào những nơi nào mà Pháp
chưa lập được chính quyền của nó; Nghị định ngày 25/6/1930 quy định những vùng
Ông Octave Dupuy đã làm một bảng so sánh giữa Nam Kỳ và các nước trồng
cao su khác trên một diện tích 2.000 ha, bảng so sánh này có tính thuyết phục cao:
Ở Malaysia, trong 6 năm đầu, mỗi ha đất trên số 2.000 ha được cấp phải đóng:
7,50 x 2000 x 6 = 90.000 fr
Từ năm thứ 7 trở đi, mỗi ha nộp 30 fr tiền thuế: 30 x 2.000 = 60.000 fr
Ở Nam Kỳ, trong 6 năm đầu, 2.000 ha đất được cấp không phải nộp thuế, đến
năm thứ 7 chỉ đóng thuế trên 1/10 diện tích được cấp với mức thuế 6,48 fr/1ha.
Với diện tích đất ngang nhau là 2.000ha đến năm thứ 10 sau khi được cấp đất,
thì người chủ đồn điền cao su ở Malaysia đã phải nộp cho nhà nước đến 270.000 Fr
tiền thuế đất, còn ở Nam Kỳ thì số thuế đất chỉ lên đến 19.440 fr, tức chỉ bằng 7% số
thuế của người đồng nghiệp ở Malaysia.
Từ năm thứ 10 trở đi, thì người chủ đồn điền Malaysia hàng năm phải nộp cho
nhà nước số thuế đất 60.000 fr còn ở Nam Kỳ thì chỉ nộp có 7.384 fr tức bằng 12%
thuế của chủ đồn điền Malaysia trên diện tích 2.000 ha.
Vào thời điểm này ông Octave Dupuy ước tính giá thành cao su ở Nam Kỳ có
thể vào khoảng 1,25 fr/1kg trong khi ở Malaysia trong các đồn điền tốt nhất có thể
lên đến 1,86 fr/1kg. [50, tr.53]