Lời mở đầu
Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội đã đa nền
kinh tế toàn cầu sang một hình thái mới. Cơ chế thị trờng ra đời làm cho các
hoạt động tài chính và sở hữu ngày càng đa dạng và phức tạp, chức năng kiểm
tra kiểm soát đòi hỏi ngày càng chặt chẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý.
Ơ Việt Nam, công tác kiểm tra kiểm soát luôn đợc quan tâm. Trong cơ
chế kế hoạch hoá tâp trung bao cấp, công tác kiểm tra kiểm soát đợc tổ chức
một cách phù hợp với cơ chế. Nhà nớc với t cách là ngời quản lý vĩ mô đồng
thời là chủ sở hữu nắm toàn bộ trong tay công tac kế toán và kiểm tra nói
chung, kiểm soát nội bộ chủ yếu đợc thực hiện thông qua tự kiểm tra.
Từ đại hội đảng lần thứ VI, Việt Nam đã có những bớc chuyển đổi to
lớn trong cải cách nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Quá trình đổi mới đã đa Việt Nam từng bớc
vơn lên và đạt đợc nhiều thắng lợi trong kinh tế và phát triển xã hội. Nhà nớc
đã và đang cố gắng tạo dựng một môi trờng pháp lý, một hành lang pháp luật
kinh tế rõ ràng và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Song vẫn đề đặt ra là
cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên
từ chính bản thân mình, phải tự tìm hiểu những thông tin về quản lý và phải tự
chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Do đó các
nhà quản trị phải có những quyết định và phơng pháp quản lý đúng đắn để
đảm bảo cho việc kinh doanh có hiệu quả. Một công cụ để giúp cho các nhà
quản trị có đợc những thông tin chính xác và kịp thời để ra các quyết định
đúng đắn nhằm đảm bảo công tác kiểm tra kiểm soát đợc thờng xuyên và hiệu
quả đó chính là hệ thống kiểm soát nội bộ.
Qua quá trình học tập và tìm hiểu thực tế tại tổng công ty xi măng về hệ
thống kiểm soát nội bộ, em đã nhận thấy những yếu tố tích cực và những mặt
còn hạn chế trong công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Để nâng cao hiệu quả
trong công tác quản lý tại tổng công ty xi măng nói riêng và các doanh nghiệp
nói chung cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. Do vậy
1
Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các thủ tục kiểm
soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành toàn bộ các hoạt đông của
đơn vị nhằm đảm bảo các mục tiêu sau:
- Bảo vệ tàI sản của đơn vị.
- Bảo đảm độ tin cậy của thông tin.
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý.
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý.
Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát là một hệ
thống chính sách và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị,
bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp
lý, và bảo đảm hiệu quả hoạt động.
Theo VSA 400, hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ
tục kiểm soát do đơn vị đợc kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm
cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn
ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót để lập báo cáo tài chính trung thực và
hợp lý nhằm bảo vệ và quản lý, sử dụng có hiệu quả tàI sản của đơn vị.
Nh vậy, kiểm soát nội bộ là một chức năng thờng xuyên của các đơn vị,
tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc
để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thức hiện hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt
ra của đơn vị:
3
1/ Bảo vệ tài sản của đơn vị.
Tài sản của đơn vị bảo gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình,
chúng có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị h
hại nếu không đợc bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp. Điều tơng tự
cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác nh sổ sách kế toán, các
tài liệu quan trọng.
có mâu thuẫn với nhau nh giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo
vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Nh vậy hệ thống
kiểm soát nội bộ dù đợc thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa
hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là những hạn chế cố hữu của hệ
thống kiểm soát nội bộ. Theo VSA 400, những hạn chế đó gồm:
Ban giám đốc thờng yêu cầu chi phí cho hệ thông kiểm soát nội bộ
không vợt quá lợi ích mà hệ thống đó mang lại.
Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thờng tác động đến những nghiệp
vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thờng.
Sai sót bởi con ngời thiếu chú ý, đãng chí, sai sót về xét đoán hoặc
do không hiểu rõ yêu cầu công việc.
Khả năng vợt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ do có sự
thông đồng của một ngời trong ban giám đốc hay một nhân viên với những
ngời khác trong hay ngoài đơn vị.
Khả năng những ngời chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ
lạm dụng đặc quyền của mình.
Do sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị
vị phạm.
I. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng nh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động
các đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm
soát nội bộ với bốn yếu tố chính: môi trờng kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ
thống kế toán), các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ.
1. Môi trờng kiểm soát.
5
Môi trờng kiểm soát là khái niệm bao gồm toàn bộ các nhân tố bên
trong và bên ngoài của đơn vị có tính môi trờng tác động đến việc thiết kế,
Cơ cấu tổ chức.
6
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là tổng hợp các bộ phận đợc chuyên
môn hoá với những trách nhiệm, quyền hạn nhất định có mối liên hệ mật thiết
với nhau, nhằm thực hiện các chức năng quản lý.
Cơ cấu tổ chức đợc xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần tạo
ra môi trờng kiểm soát tốt. Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống
xuyên suốt từ trên xuống dới trong việc ban hàn các quyết định, triển khai các
quyết định đó cũng nh kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó
trong toàn bộ doanh nghiệp. Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn
ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế
toán của doanh nghiệp.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên
toàn bộ hoạt động và các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng
chéo hoặc bỏ trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo
đảm sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát
lẫn nhau trong các bớc thực hiện công việc.
Nh vậy, để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các
nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
thiết lập đợc sự điều hành và sự kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, đông thời không có sự chồng chéo
giữa các bộ phận.
Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ,
ghi chép sổ và bảo quản tài sản.
Đảm bảo sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận nhằm đạt đợc hiệu
quả cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng.
1.3.
học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ
kiểm soát rất hữu hiệu. Vì vậy trong thực tế các nhà quản lý thờng quan tâm
xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hởng đến kế
hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất thờng và xử lý, điều chỉnh kế
hoạch kịp thời.
1.5.
Uỷ ban kiểm soát.
Uỷ ban kiểm soát bao gồm những ngời trong bộ máy lãnh đạo cao nhất
của đơn vị nh thành viên hội đồng quản trị nhng không kiêm nhiệm các chức
vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Uỷ ban kiểm
soát thờng có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty.
Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ.
Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
8
Dung hoà những bất đồng (nếu có) giữa ban giám đốc với các kiểm
toán viên bên ngoài.
1.6.
Môi trờng bên ngoài.
Môi trờng kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào
các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các
nhà quản lý nhng có ảnh hởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của
các nhà quản lý cũng nh sự thiết kế và vận hành các qui chế và thủ tục kiểm
Hệ thống tài khoản đợc thiết lập để phân loại những nghiệp vụ kinh tế
thành những tài khoản riêng biệt trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và
trên bảng cân đối tài sản. Sơ đồ tài khoản là một công cụ kiểm soát quan trọng
vì nó cung cấp bố cục để xác định thông tin trình bày cho ban quản trị và
những ngời sử dụng báo cáo tài chính. Nó phải bao gồm đủ thông tin để cho
phép sự trình bày của các báo cáo tài chính phù hợp với các nguyên tắc kế
toàn đã đợc thừa nhận. Sơ đồ tài khoản có ích trong việc ngăn ngừa sai sót do
phân loại sai nếu nó mô tả chính xác và chuẩn mực loại nghiệp vụ kinh tế nào
phải đợc xếp vào tài khoản đó. Điều đặc biệt quan trọng là những mô tả phải
phân biệt rõ ràng giữa tài sản, vốn, hàng tồn kho và các khoản mục chi phí vì
chúng là những loại chủ yếu mà những ngời bên ngoài sử dụng báo cáo tài
chính quan tâm.
Mục đích của một hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhân biết, thu
thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của một tổ
chức đó, thoả mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán. một
hệ thông kế toán hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết sau:
Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những
nghiệp vụ không có thực vào sổ sách của đơn vị.
Sự phê chuẩn: bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải đợc phê chuẩn
hợp lý.
Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh.
Sự đánh giá: bảo đảm không có sại phạm trong việc tính toán các
khoản giá phí.
10
Sự phân loại: bảo đảm các nghiệp vụ đợc ghi chép đúng theo sơ đồ
tàI khoản và ghi nhân đúng đắn ở các laọi sổ sách kế toán.
nhiệm và công việc cần đợc phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều
ngời trong bộ phận. Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn
hoá trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thờng dễ phát hiện do có sự
kiểm tra chéo.
Trong phân công phân nhiệm cần tránh cả hai xu hớng quá tập trung
hoặc quá phân tán. Quá tập trung dễ dẫn đến lạm quyền, quá phân tán dễ dẫn
đến những quyết định trong quản lý không đáp ứng đợc yêu cầu kịp thời hoặc
khong chuẩn xác, từ đó các cấp có thẩm quyền khong nắm đợc thông tin.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: nguyên tắc này qui định sự cách lý
thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa
các sai phạm và hành vị lạm dụng quyền hạn.
Ba sự cách ly quan trọng nhất cân lu ý là:
- Cách ly quyền phê chuẩn nghiệp vụ với việc thực hiện nghiệp vụ
kinh tế để tránh sự lạm dụng quyền hạn sử dụng nguồn lực một cách tuỳ tiện.
- Cách ly việc bảo quản tàI sản với kế toán: một ngời thực hiện cả hai
chức năng này sẽ có nhiều rủi ro là anh ta bán tài sản để thu lợi cá nhân rồi
điều chỉnh sổ sách để trốn tránh trách nhiêm.
- Cách ly chức năng thực hiện nhiệm vụ và kiểm soát nghiệp vụ, có
nh vậy chức năng kiểm soát mới có tác dụng và việc thực hiện nghiệp vụ mới
nghiêm túc.
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, điều 9 - điều lệ tổ chức kế toán
nhà nớc, đã quy định: cán bộ kế toán ở các đơn vị quốc doanh, công ty hợp
doanh, và các đơn vị có sử dụng kinh phí của nhà nuớc hoặc đoàn thể không
đợc kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quĩ, tiếp liệu và các công tác vật chất khác.
Lãnh đạo đơn vị, kể cả lãnh đạo công tác tài chính, kế toán của đơn vị nêu trên
không đợc bố trí những ngời thân trong gia đình làm công tác tài chính kế
toán, thủ kho, thủ quỹ tại đơn vị mình.
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.
12
động đánh giá đợc lập ra trong một doanh nghiệp nh là một loại dịch vụ cho
doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp va
hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ.
13
Là một trong những nhân tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ của
doanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá
thờng xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu
quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội
bộ. Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có đợc nhng
thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lợng
của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các qui chế
kiểm soát thích hợp và hiệu quả.
4.2.
Chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
4.2.1. Chức năng của kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nó
cũng trảI qua quá trình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý
kinh tế, trình độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp.
Mặc dù theo kinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, chức
năng của kiểm toán nội bộ hiện đại là đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội
bộ, nhng chức năng truyền thống của kiểm toán nội bộ là xem xét, đánh giá
độ tin cậy, thống nhất của các thông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết
kiệm, hữu hiệu vốn và tài sản của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc qui định
chức năng của kiểm toán nội bộ cần phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ
thể của từng quốc gia, từng khu vực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị cụ thể.
quản lý của doanh nghiệp kiểm tra lại các thông tin tài chính, kiểm toán viên
nội bộ tiến hành kiểm tra, soát xét việc tính toán, phân loại báo cáo, thẩm định
cụ thể các khoản mục cá biệt. Điều này cũng có tác dụng giảm phí kiểm toán
của các kiểm toán viên độc lập khi công việc của kiểm toán viên nội bộ đạt
hiệu quả tốt.
Trờng hợp thứ hai: công việc kiểm tra đợc thực hiện nhằm hoàn
thiện việc thẩm tra các lĩnh vực khác để có thể đa ra kết luận.
Thứ ba: kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các chơng trình hay các hoạt động nghiệp vụ. Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của
doanh nghiệp và các đối tác tham gia liên doanh với doanh nghiệp. Kiểm tra
xác nhận tính trung thực, hợp lý, đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết
toán của đơn vị liên doanh.
15
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra hoạt động hay chơng trình để xem
xét kết quả thủ đợc có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không và các hoạt động,
chơng trình đó có đợc thực hiện theo kế hoạch đã định hay không.
Thứ t: kiểm tra các phơng tiện bảo đảm an toàn cho tài sản. kiểm
tra tính hiệu quả và pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó có hệ
thống kế toán. Giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiện chúng.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phơng tiện đợc sử dụng để
đảm bảo an toàn cho các tài sản để tránh mất mát. Đồng thời cần có những
kiến nghị cho nhà quản lý để phòng ngừa các hành vi bất hợp pháp xâm phạm
tài sản của đơn vị.
Thứ năm: đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động
của các nguồn lực.
Kiểm toán viên phải đánh giá chất lợng thực hiện các nhiệm vụ đợc
giao. Việc thực hiện này liên quan đến các nhóm hay các nhân viên của đơn
vị. ở đây kiểm toán viên không chỉ quan tâm tới việc các nhóm hay các nhân
4.3.1. Nguyên tắc của tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.
Bộ máy kiểm toán bao gồm con ngời và các phơng tiện chứa đựng các
yếu tố cấu thành của kiểm toán để thực hiện chức năng của kiểm toán.
Tổ chức bộ máy kiểm toán chính là việc tạo ra các mối liên hệ giữa các
yếu tố cấu thành kiểm toán, giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm toán và
chính giữa bản thân của hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác trong môi trờng hoạt động của kiểm toán. Chính từ việc tổ chức bộ máy kiểm toán mà các
mối liên hệ đợc duy trì đảm bảo cho hệ thống thực hiện tốt chức năng xác
minh và bày tỏ ý kiến. Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phảo đảm bảo:
Tính khoa học: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải phù hợp với
nguyên lý chung của lý thuyết kiểm toán. Tuỳ theo đặc điểm tổ chức của
doanh nghiệp là tổ chức theo phơng pháp chức năng hay trực tuyến tham mu
mà đa ra mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ cho phù hợp.
Tính nghệ thuật: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải chú ý tới
nhân tố con ngời. Trong sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán cần phải phân công
rõ ràng chức năng và nhiệm vụ của mỗi kiểm toán viên nhằm đạt hiệu quả và
hiệu suất cao. Phải đảm bảo đủ về số lợng nhân viên trong bộ phận kiểm toán
cũng là một vấn đề quan trọng.
Điều quan trọng trong tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ là phải xác
định quy mô của doanh nghiệp: doanh nghiệp có thực sự cần bộ máy kiểm
17
toán nội bộ hay không, quy mô của doanh nghiệp nh thế thì bộ máy kiểm toán
nên có quy mô nh thế nào thì thích hợp
Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải tuỳ theo cơ cấu của doanh
nghiệp nh thế nào mà tổ chức sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít
nhất. Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để
không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải đợc giao một quyền
hạn tơng đối rộng rãi và hoạt đông tơng đối độc lập với phòng kế toán và các
thực hiện tất cả các công việc do uỷ ban kiểm toán giao cho kẻ cả việc xây
dựng hoặc hoàn thiện qui chế đã ban hành và cả công việc đột xuất khác.
Mô hình này có u điểm là rất thích hợp với các doanh nghiệp có qui mô
lớn. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để phát huy u việt này là chất lợng đội
ngũ kiểm toán viên nội bộ.
Giám định viên kế toán: là mô hình ứng dụng phổ biến ở các xí
nghiệp nhà nớc và các doanh nghiệp có qui mô nhỏ. Trong trờng hợp này, ngời thực hiện công việc kiểm toán có thể là kiểm toán viên chuyên nghiệp,
thậm chí ở một sô nớc trong các xí nghiệp công và doanh nghiệp nhà nớc đợc
biên chế trong bộ máy kiểm toán nhà nớc.
Mô hình này rất thích hợp với các xí nghiệp công, các doanh nghiệp có
qui mô nhỏ không cần biên chế kiểm toán viên nội bộ. Nó phát huy đợc thế
mạnh nghề nghiệp của các chuyên gia giỏi. Tuy nhiên trong trờng hợp này chi
phi kiểm toán thờng cao do phải thuê nhân viên. Mặt khác, do công việc kiểm
toán nội bộ cũng do số ít chuyên gia có trình độ cao đảm nhiệm nên cần chú
trọng đảm bảo tính khách quant rung thực của kiểm toán viên bằng các phơng
pháp bổ sung nh kiểm tra chéo, định kỳ thay đổi nơi làm việc của các kiểm
toán viên tăng cơng trách nhiệm của kiểm tra bên ngoài
Thực tế tại một số nơi cho thấy bộ máy kiểm toán nội bộ đợc thiết lập
tại các cơ quan và tổ chức kinh tế nhà nớc có thể là chân rết của các cơ quan
hữu quan. Trong những trờng hợp này bộ phận kiểm toán nội bộ chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của cơ quan tổng kiểm soát, kiểm toán nhà nớc, bộ tài chính.
Kiểm toán viên nội bộ đợc kiểm toán nhà nớc đào tạo, bổ nghiệm, quản lý và
chỉ đạo hoạt động. Việc xây dựng mô hình nh vậy có u điểm là:
19
- Thống nhất quản lý nhà nớc đối với hoạt động kiểm toán nội bộ
trong các cơ quan và tổ chức kinh tế nhà nớc.
- Tiêu chuẩn hoá đợc đội ngũ kiểm toán viên.
Cơ
Cơ quan
quan tổng
tổng
giám
đốc
giám đốc
Các
Các bộ
bộ phận
phận
khác
khác
Bộ
Bộ phận
phận kiểm
kiểm
toán
toán nội
nội bộ
bộ
Cơ
Cơ quan
quan quản
quản
lý
lý cấp
Hội đồng
đồng quản
quản trị
trị
Tổng
Tổng giám
giám đốc
đốc
Bộ
Bộ phận
phận kiểm
kiểm toán
toán
nội
nội bộ
bộ
Cán
Cán bộ,
bộ, quản
quản lý
lý
trung
trung gian
gian
Cán
Cán bộ
Kiểm toán hoạt động: là việc thẩm tra các trình tự và các phơng pháp
tác nghiệp ở bộ phận hoặc đơn vị đợc kiểm toán nhằm mục đích đánh giá tính
hiệu quả và hiệu năng của các nghiệp vụ, từ đó đa ra các kiến nghị để cải tiến
và hoàn thiện các nghiệp vụ của bộ phận hoặc đơn vị đợc kiểm toán.
Đối tợng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, từ việc đánh giá một phơng an kinh doanh, một quy trình công nghệ, một loại tài sản thiết bị mới, đa
vào hoạt động hay việc luân chuyển chứng từ trong một đơn vị Vì thế, khó
có thể đa ra một khuân mẫu cho loại hình kiểm toán này. Đồng thời, tính hiệu
lực và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó đợc đánh giá một cách khách
quan so với tính tuân thủ và tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính.
Thay vào đó, việc xây dựng các chuẩn mực để đánh giá các thông tin có thể
định lợng trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một việc mang nặng tính
chất chủ quan. Sản phẩm của kiểm toán hoạt động là báo cáo cho ngời quản lý
về kết quả kiểm toán và những ý kiến đề xuất cảI tiến hoạt động.
Trong loại hình này kiểm toán nội bộ là chủ thể tiến hành kiểm toán
một cách thờng xuyên và chủ yếu.
kiểm toán tuân thủ: là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về chấp hành
luật pháp, thể lệ, chế động và quy định nào đó của đơn vị. Trong kiểm toán
liên kết phải đồng thời giải quyết hai yêu cầu:
Một là: xác minh tính trung thực của các thông tin tài chính cùng với
xác định mức an toàn của các nghiệp vụ tài chính và chất lợng của hệ thống
kiểm soát nội bộ.
23
Hai là: hớng vào những thành tích và hiệu quả trong đó cần xem xét
việc thiết lập hệ thống thông tin và quản lý cõng nh việc điều hành hớng tới
tối u hoá việc sử dụng các nguồn lực.
Trong loại hình này kiểm toán viên nội bộ tiến hành cuộc kiểm toán
trong trờng hợp cấp trên yêu cầu.
Có bảy mục tiêu mà một cấu trúc kiểm soát nội bộ phải thoả mãn để
ngăn ngừa sai sót trong sổ sách. Hệ thống kiểm soát nội bộ phải đầy đủ để
cung cấp sự đảm bảo hợp lý là:
1. Các nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải có căn cứ hợp lý (tính hiệu lực).
Cơ cấu kiểm soát nội bộ không thể cho phép việc ghi vào những nghiệp vụ
không tồn tại hoặc những nghiệp vụ giả vào các sổ nhật ký hoặc các sổ sách
kế toán khác.
2. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phê chuẩn đúng đắn (sự phê chuẩn).
Nếu một nghiệp vụ kinh tế không đợc phê chuẩn xảy ra, có có thể
dẫn đến một nghiệp vụ la đảo và nó cũng có thể có ảnh hởng làm tăng phí
hoặc phá hoại tài sản của công ty.
3. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổ đầy đủ (tính đầy đủ).
Các thể thức của khách hàng phải ngăn ngừa sự gạt bỏ các nghiệp vụ
kinh tế ra ngoài sổ sách.
4. Các nghiệp vụ kinh tế phải đớc đánh giá đúng đắn (sự đánh giá).
Một cơ cấu kiểm soát nội bộ đầy đủ gồm các thể thức để tránh các sai
số khi tính toán và ghi sổ các số tiền của nghiệp vụ đó ở các giai đoạn khác
nhau của quá trình ghi sổ.
5. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phân loại đúng đắn (sự phân loại).
Quá trình phân loại đúng đăn tài khoản phù hợp với cơ cấu tàI khoản
của doanh nghiệp phải đợc thực hiện trên các sổ nhật ký nếu các báo cáo tài
chính đợc trình bày đúng đăn. Sự phân loại cũng bao gồm những nhóm nh khu
vực và sản phẩm.
6. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phản ánh đúng kỳ (tính đúng kỳ).
Việc ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế hoặc trớc hoặc sau khi chúng xảy ra
làm tăng khả năng bỏ quên không ghi sổ nghiệp vụ đó hoặc khả năng ghi sổ
25