SKKN một số giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT nguyễn hữu cảnh, thành phố biên hoà, tỉnh đồng nai - Pdf 37

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Người thực hiện:

NGUYỄN THỊ MINH HUỆ

Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................. 
(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Phần mềm
 Phim ảnh
 Hiện vật khác



o Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lư ng giáo dục đạo đức cho
học sinh ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, Biên Hòa, Đồng Nai
o Một số giải pháp quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan ở trường THPT
Nguyễn Hữu Cảnh, Biên Hòa, Đồng Nai


MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
I.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và thế giới có những biến

đổi to lớn, nhanh chóng, với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, kỹ thuật và công
nghệ, sự hình thành nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá trở thành một xu hướng tất
yếu khách quan. Điều đó đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho giáo dục Việt
Nam. Trong bối cảnh ấy, chiến lư c phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia là
chiến lư c phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực. Chính vì thế, Nghị
quyết 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc Hội khóa X đã khẳng
định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là “Xây dựng
nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới
nhằm nâng cao chất lư ng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phục vụ đất nước, phù h p với thực tiễn và truyền thống
Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu
vực và trên thế giới ”
Chiến lư c phát triển giáo dục 2011-2020 đã khẳng định “Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lư ng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

nghiêm trọng trong cơ cấu nguồn nhân lực, việc “thừa thầy thiếu th ”, học nghề
không phù h p đưa đến việc bỏ nghề phổ biến ở các địa phương, cơ cấu ngành
nghề gây sức ép rất nặng nề trong các kỳ thi tuyển sinh và sự lãng phí lớn về thời
gian, sức khoẻ, tiền bạc của nhà nước và nhân dân. Để giải quyết vấn đề trên, cần
phải có sự tham gia của các cấp chính quyền, các ngành, các tổ chức đoàn thể xã
hội, trong đó hoạt động GDHN của ngành giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng.
Trong những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai đã có
nhiều cố gắng trong việc phát triển mạng lưới trường lớp, nâng cao số lư ng, chất
lư ng đội ngũ giáo viên, công tác hướng nghiệp đã đư c quan tâm một bước. Tuy
nhiên, chất lư ng của hoạt động GDHN trong các trường THPT chưa cao. Hầu
như các trường chưa thấy đư c vị trí, tầm quan trọng của hoạt động này nên chỉ


thực hiện một cách qua loa, chiếu lệ. Việc định hướng cho phụ huynh và con em
họ chọn con đường nào để có một vị trí thích h p trong đời sống kinh tế - xã hội
sau này chưa đư c giải đáp thoả đáng. Qua nhiều năm công tác và giảng dạy ở
trường THPT, vừa làm công tác quản lý vừa trực tiếp hướng dẫn học sinh THPT
về công tác hướng nghiệp, tôi rút ra một số kinh nghiệm cũng như đề xuấtmột số
giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông để
định hướng cho học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường. Vì vậy, tôi chọn đề tài:
“Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT
Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai”.
II.

TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Giáo dục hướng nghiệp là một trong những bộ phận quan trọng trong giáo
dục phổ thông, là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực.

chúng ta có tính chất hướng nghiệp vì toàn bộ chương trình, nội dung, kế hoạch
đào tạo, phương pháp đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường
đều quán triệt và thể hiện tinh thần hướng nghiệp. Trong quá trình đào tạo ở
trường phổ thông, trẻ em đều chịu những tác động hướng nghiệp, đều đư c chuẩn
bị sẵn sàng để tham gia lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp THCS, THPT.
1.1 .2. Khái niệm giáo dục hướng nghiệp:
GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình, xã
hội nhằm chuẩn bị cho HS phổ thông những hiểu biết về nghề nghiệp, có lý
tưởng nghề nghiệp trong sáng, có thái độ đúng đối với lao động, sẵn sàng đi vào
những nghề, những nơi cần lao động trẻ tuổi, có văn hóa.
GDHN là một bộ phận của giáo dục toàn diện, thông qua giáo dục hướng
nghiệp, mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng
tới, biết phân tích thị trường hoạt động và sự đào tạo nghề tương ứng. Từ đó mỗi
học sinh tự xác định đư c đâu là nghề nghiệp phù h p hoặc không phù h p.
1.1.3. Giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường trung
học phổ thông.
Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi,
chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định… nhằm đạt


đư c mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích h p, càng tối ưu, càng giúp con
người nhanh chóng giải quyết đư c những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, để có đư c
những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng
tin cậy.
Giải pháp quản lý giáo dục là những cách thức tác động của chủ thể quản
lý hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống giáo dục, làm cho
hệ thống đó vận hành đạt đư c kết quả mong muốn.
Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là những cách thức tác
động của chủ thể quản lý hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của công
tác GDHN, để hoạt động GDHN vận hành đạt đư c kết quả mong muốn.

các nghề truyền thống ở địa phương;
Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để
khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích h p nhất;
Động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi mà xã hội đang cần có
lao động trẻ tuổi và có văn hóa .
1.2.4. Nội dung của GDHN ở trường THPT:
Nội dung hướng nghiệp nói chung gồm có 3 khâu: Định hướng nghề
nghiệp, tư vấn hướng nghiệp và tuyển chọn nghề nghiệp. Ba nội dung trên quan
hệ chặt chẽ với nhau, hỗ tr lẫn nhau, trong đó tư vấn hướng nghiệp là cầu nối
giữa hai nội dung định hướng nghề nghiệp và tuyển chọn nghề nghiệp. Trong
chương trình phổ thông, nhà trường tiến hành 2 nội dung: Định hướng nghề
nghiệp và tư vấn nghề nghiệp. Sau đây là sơ đồ nội dung hướng nghiệp:

Định hướng
nghề nghiệp

Tuyển chọn
nghề nghiệp

Tư vấn
hướng nghiệp

Sơ đồ nội dung hướng nghiệp


Định hướng nghề nghiệp nhằm cung cấp cho HS những thông tin về tình
hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương; về nhu cầu sử dụng
lao động ; về thế giới nghề nghiệp; về sự hoạt động của những ngành cơ bản,
nghề chủ yếu và những yêu cầu chủ yếu đối với người lao động. Trên cơ sở đó,
giúp HS biết đánh giá bản thân và lựa chọn nghề nghiệp một cách có ý thức.

1.2.5.2. Hướng nghiệp qua dạy học môn Công nghệ và lao động sản xuất.
Là môn khoa học ứng dụng kỹ thuật có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
những nguyên lý cơ bản về kỹ thuật, công nghệ khoa học và quản lý tổ chức sản
xuất ; minh họa ứng dụng của các nguyên lý khoa học- kỹ thuật trong các quá
trình sản xuất tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với các hoạt động ngành nghề
khác nhau trong xã hội. Do đó, kỹ thuật là con đường quan trọng để thực hiện
giáo dục kỹ thuật tổng h p và hướng nghiệp, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ năng
lực, dịch chuyển lao động trong điều kiện lao động đổi mới về nội dung và giáo
dục sự chọn nghề một cách có ý thức.
Vì vậy, truyền thụ kiến thức kỹ thuật tạo điều kiện thuận l i cho công tác
giáo dục tư tưởng, chính trị, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, giáo dục lao động,
định hướng thế hệ trẻ vào phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.5.3. Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp:
Việc giới thiệu nghề cho học sinh thông qua các bài học chỉ có thể kết h p trong
quá trình dạy những chương, bài liên quan trực tiếp tới ngành nghề và việc thông
tin về từng ngành nghề. Do đó, các buổi sinh hoạt hướng nghiệp, giới thiệu nghề
cho học sinh có hệ thống nhằm làm cho học sinh có hiểu biết về cơ cấu kinh tế
đất nước và địa phương, nhu cầu sử dụng lao động dự trữ xã hội, những hiểu biết
về những ngành nghề cơ bản và nghề truyền thống của địa phương. Trên cơ sở
đó, hướng dẫn học sinh lựa chọn hướng học tập và nghề nghiệp phù h p với năng
lực cá nhân đáp ứng những yêu cầu của xã hội
Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sinh hoạt hướng nghiệp đư c
tiến hành một tiết trong một tháng để giới thiệu, tuyên truyền, giải thích ngành
nghề. Khi giới thiệu cần tập trung vào một số điểm cơ bản như: vị trí, vai trò, triển
vọng, những hoạt động cơ bản của nghề, phẩm chất, năng lực lao động cần có,


những môn học cần thiết đối với nghề. Nhà trường tự sưu tầm, sử dụng tài liệu,
sách tham khảo… dựa vào các cơ sở sản xuất, cán bộ kỹ thuật của địa phương để

1.3. Quản lý công tác GDHN ở trường THPT:
1.3.1. Mục tiêu của quản lý GDHN: Quản lý GDHN góp phần tích cực và
có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống
lao động hoặc tiếp tục đào tạo phù h p với năng lực bản thân và nhu cầu xã hội.
1.3.2. Nội dung quản lý công tác GDHN
Quản lý hoạt động GDHN là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, h p qui luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt
động GDHN của những người làm công tác giáo dục nhằm giúp cho HS sau khi
ra trường có thể chọn đư c nghề nghiệp phù h p với năng lực bản thân, hoàn
cảnh gia đình và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và đất nước.
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đào tạo không ngừng đổi mới
nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy…nhằm mục đích nâng cao chất
lư ng dạy-học và giáo dục để đào tạo ra các thế hệ con người Việt Nam đáp ứng
đư c những yêu cầu của thời đại…
Chất lư ng GDHN là vấn đề không chỉ ngành giáo dục mà cả xã hội hiện
nay đều quan tâm. Nâng cao chất lư ng hoạt động GDHN là một bộ phận của
nâng cao chất lư ng giáo dục hướng đến mục tiêu: giúp HS tự giác chọn đư c
nghề trong tương lai không chỉ để kiếm sống mà còn là nơi thể hiện nhân cách,
phát triển tài năng, cống hiến trí tuệ và sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT: GDHN là
một môn học mới đư c chính thức đưa vào chương trình giáo dục THPT từ năm
học 2006-2007, nó có nhiều nội dung mới và khá phức tạp. Vì vậy để công tác
GDHN ở các trường THPT có hiệu quả, hiệu trưởng các trường phổ thông cần
thực hiện tốt các nội dung quản lý sau:
1.3.2.1. Quản lý kế hoạch hoạt động GDHN:
Đây là mục tiêu phát triển giáo dục nói chung và giáo dục hướng nghiệp
nói riêng giúp nhà quản lý xác định các giải pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu.
Hiện nay, chương trình GDHN đã đư c Bộ Giáo dục tổ chức biên soạn thành sách
lớp 10,11,12, mỗi lớp có những chủ đề GDHN riêng biệt. Dựa vào chương trình,

và hùng hậu trong các trường phổ thông, hoạt động của các tổ chức này phần lớn
gắn liền với các hoạt động phong trào, chính vì vậy nhà trường cần tạo điều kiện


thuận l i cho các tổ chức này hoạt động, tuy nhiên phải xây dựng đư c qui chế
phối h p để đưa đư c các nội dung của công tác GDHN vào trong chương trình
hoạt động của họ.
Ngoài ra do GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường,
gia đình, xã hội, vì vậy chủ thể tham gia công tác GDHN còn có nhiều lực lư ng
khác như Ban đại diện cha mẹ HS, và các tổ chức xã hội khác. Nhà trường phải
quan tâm đến việc xây dựng mối quan hệ phối h p chặt chẽ với các tổ chức này
để đem lại hiệu quả cao trong hiệu quả giáo dục nói chung của nhà trường, trong
đó có công tác GDHN.
1.3.2.5. Quản lý hoạt động hướng nghiệp của HS:
Là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của HS trong
quá trình học tập thông qua việc kiểm tra đánh giá. Kiểm tra, đánh giá là một
khâu quan trọng không thể thiếu đư c trong quá trình giáo dục.
Nội dung chương trình GDHN đã đư c xây dựng thành những chủ đề cụ
thể trong từng tháng của mỗi năm học. Mặc dù hiện nay việc kiểm tra đánh giá
kết quả hướng nghiệp đối với HS chưa đư c cụ thể hóa thành điểm số để tham gia
vào việc đánh giá kết quả giáo dục các mặt, nhưng để GDHN ngày càng có ý
nghĩa thiết thực thì cuối mỗi chủ đề sinh hoạt hướng nghiệp, giáo viên cần đánh
giá quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu
học tập của HS nhằm tạo cơ sở cho các quyết định sư phạm của giáo viên và
nhà trường, cho bản thân HS để các em học tập ngày càng tiến bộ hơn. Đồng
thời qua đó nhà trường cũng đánh giá đư c hiệu quả hoạt động GDHN diễn ra
trong nhà trường như thế nào.
1.3.2.6. Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động GDHN:
Các điều kiện phục vụ cho quá trình dạy học – giáo dục nói chung gồm
nhiều loại, chung qui lại đó là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và nguồn tài chính.

Nguyễn Hữu Cảnh
2.1.1. Thuận lợi:
Công tác GDHN cho học sinh phổ thông đã đư c Đảng và nhà nước quan
tâm, ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện .


Sở Giáo dục & Đào tạo đã quan tâm chỉ đạo tới hoạt động GDHN. Tổ chức
cho giáo viên đi dự đầy đủ các lớp tập huấn do Bộ tổ chức và cung cấp kịp thời
các loại sách phục vụ giảng dạy.
- Ban giám hiệu đã nhận thức đư c tầm quan trọng của công tác hướng
nghiệp và phân luồng đối với học sinh nên đã chỉ đạo, giám sát, kiểm tra việc
giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Thường xuyên tổ chức cho cán
bộ, giáo viên học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của nhà nước và của ngành
giáo dục, đặc biệt là các văn bản liên quan đến công tác hướng nghiệp cho HS
phổ thông. Vì vậy, nhận thức của cán bộ giáo viên về công tác này không ngừng
đư c nâng cao.
- Chi bộ Đảng lãnh đạo đúng hướng, tổ chức phối h p hoạt động giữa các
đoàn thể một cách nhịp nhàng, tạo đư c chỗ đứng khá tốt cho công tác hướng
nghiệp trong các hoạt động giáo dục của nhà trường.
- Ban giám hiệu có kinh nghiệm, năng động sáng tạo, luôn tìm tòi huy
động mọi nguồn lực để tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
GDHN; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, mọi công việc đều đư c dân chủ
bàn bạc thống nhất trước khi thực hiện.
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm với công việc.
- Tập thể nhà trường luôn đoàn kết, nhất trí thực hiện tốt mọi nhiệm vụ của
nhà trường.
2.1.2. Khó khăn
- Đội ngũ giáo viên không đư c đào tạo bài bản, chưa đư c qua một lớp
học chính quy nào, những kiến thức về hướng nghiệp chỉ đư c thu thập qua vài
lớp tập huấn ngắn hạn trong hè, còn chủ yếu là do tự tìm hiểu nên chất lư ng giáo

một nghề khác sẽ gặp nhiều khó khăn.
Về nhận thức của giáo viên:
Lực lư ng trực tiếp tham gia vào giảng dạy và định hướng nghề nghiệp cho
học sinh và có ảnh hưởng rất lớn vào việc lựa chọn nghề nghiệp của các em sau
khi hết THPT đó là giáo viên. Nhưng thực tế còn một số giáo viên chưa thực sự
quan tâm nhiều đến công tác này, một mặt xuất phát từ một ít giáo viên chưa
xem môn học này là hoạt động chính khóa, không có thi tốt nghiệp, không có tính


chất bắt buộc như các môn học khác. Mặt khác chưa thấy đư c ý nghĩa tầm quan
trọng của môn học trong nhà trường phổ thông.
Nhận thức của học sinh:
Đa số các em cho là một môn học rất cần thiết và bổ ích trong tương lai,
vì qua môn học này, thầy cô đã cung cấp giúp cho học sinh chọn nghề trên cơ sở
dựa vào năng lực, sở trường của học sinh đư c bộc lộ, có đối chiếu với yêu cầu
phân công lao động xã hội, đồng thời điều chỉnh nguyện vọng khi cần thiết và
giúp đỡ cho học sinh học tập, rèn luyện theo ngành, nghề đã chọn qua các hoạt
động hướng nghiệp cho các em hiểu rằng với năng lực, khả năng học tập của các
em, hoàn cảnh gia đình của bản thân sẽ giúp các em chọn nghề phù h p với tình
hình thực tế của bản thân .
Một số ít học sinh thì cho rằng môn học này không cần thiết, có cũng đư c
không có cũng đư c, nên để thời gian đầu tư cho các môn học khác quan trọng
hơn. Do vậy việc chọn nghề của các em bị tác động nhiều từ thu nhập của nghề,
sự tư vấn của giáo viên dạy hướng nghiệp, ảnh hưởng của gia đình và sự lôi cuốn
của bạn bè. Một số khác cho rằng qua sách báo và các loại hình thông tin khác
như: Internet, tivi, báo chí …các em cũng nắm đư c thông tin về nghề nghiệp.
Nhận thức về công tác GDHN của đội ngũ cán bộ quản lý:
Ban Giám hiệu nhà trường đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và tạo điều kiện cho Đoàn trường, cán
bộ, giáo viên tham gia giảng dạy một cách thuận l i.

đình, lao động vệ sinh trường lớp, lao động tự phục vụ, lao động giữ gìn và sửa
chữa bàn ghế, các dụng cụ đơn giản khác trong lớp v v… Tuy nhiên, do thời gian
hạn chế nên thời gian trong tuần chủ yếu của học sinh là dành cho việc học, còn
thời gian lao động rất ít. Những công việc nặng nhọc hoặc đòi hỏi kỹ thuật, nhà
trường phải h p đồng lao động bên ngoài.
Về tích h p vào môn công nghệ và các môn văn hóa khác đư c giáo viên
chủ động vào bộ môn của mình. Ví dụ trong chương trình Địa lí lớp 12, hầu hết
các bài đều có thể lồng ghép nội dung GDHN. Cụ thể, ở phần Địa lí dân cư, các em
sẽ nắm đư c đặc điểm dân số, nguồn lao động, việc sử dụng lao động của nước ta.
Giáo viên phân tích vấn đề việc làm hiện nay và hướng giải quyết. Nếu khéo léo


trong giảng dạy, người giáo viên địa lí sẽ giúp các em nhận thức đúng đắn về
nguồn lao động và nhu cầu việc làm của đất nước, của địa phương. Sự hiểu biết về
thực trạng nhu cầu nghề hiện nay sẽ là cơ sở cho ý thức lựa chọn nghề của các em
sau này. Hoặc ở phần Địa lí các vùng kinh tế, giáo viên giúp học sinh nắm đư c
các thế mạnh và các hạn chế của điều kiện tự nhiên, dân cư, cơ sở vật chất kỹ thuật
các chính sách và hướng phát triển của vùng của từng vùng kinh tế ở Việt Nam;
các giải pháp phát triển trong tương lai của từng vùng sẽ giúp các em nhận thức
sâu sắc hơn điều kiện phát triển, xu thế phát triển của vùng mà địa phương các em
trực thuộc. Qua đó, HS thấy đư c vai trò, giá trị của lao động trong ngành nghề và
xác định đư c nhiệm vụ, vinh dự khi làm nghề mà mình lựa chọn. Đây cũng là cơ
sở quan trọng trong quá trình định hướng phát triển nghề và thái độ của các em với
nghề. Ở phần Địa lí địa phương là phần quan trọng để GDHN cho HS vì phần này
đề cập sâu về những kiến thức về tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương nơi HS
sinh sống. Giáo viên sẽ giúp các em có cái nhìn và khả năng đánh giá toàn diện,
đúng đắn về hiện trạng kinh tế cũng như nhu cầu lao động của địa phương. Sau khi
học bài, giáo viên yêu cầu HS viết báo cáo theo chủ đề. Như vậy, khai thác theo
hướng GDHN, giáo viên có thể hướng HS định hướng đư c nghề phù h p với
năng lực, nguyện vọng, tự giác điều chỉnh nguyện vọng theo yêu cầu của xã hội.

+ Tìm hiểu một số nghề thuộc các ngành Y và Dư c
+ Tìm hiểu thực tế một cơ sở sản xuất nông nghiệp hoặc công nghiệp.
+ Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành xây dựng.
+ Nghề tương lai của tôi.
- Lớp 11: Gồm 9 bài, mỗi bài 1 tiết chia theo các chủ đề:
+ Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Giao thông vận tải và Địa chất.
+ Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ.
+ Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Năng lư ng, Bưu chính- viễn thông,
công nghệ thông tin
+ Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
+ Giao lưu với gương vư t khó, điển hình về sản xuất kinh doanh giỏi
+ Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động.
+ Tôi muốn đạt ước mơ


+ Tìm hiểu thực tế một trường đại học (hoặc cao đẳng, TCCN, dạy nghề)
tại địa phương.
- Lớp 12: Gồm 9 bài, mỗi bài 1 tiết, chia theo các chủ đề:
+ Định hướng phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và đất nước.
+ Những điều kiện để thành đạt trong nghề
+ Tìm hiểu hệ thống đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề của
trung ương và địa phương
+ Tìm hiểu hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng
+ Tư vấn chọn nghề
+ Hướng dẫn HS chọn nghề và làm hồ sơ tuyển sinh
+ Thanh niên lập thân, lập nghiệp
+ Tháng 4+5: tổ chức tham quan hoặc hoạt động giao lưu theo chủ đề
hướng nghiệp.
Nhìn chung, với cấu trúc chương trình như trên, nếu đư c giảng dạy một
cách đầy đủ, đúng phương pháp và đội ngũ giáo viên có chuyên môn, nhiệt tình,

phong trào lồng ghép với các hoạt động GDHN vào trong chương trình hoạt động
của Đoàn như phong trào “ Thanh niên lập thân, lập nghiệp”. Đoàn trường đã tổ
chức buổi nói chuyện với gương học sinh, sinh viên học tập thành đạt ( là cựu học
sinh của trường), từ đó tạo cho HS niềm hứng thú noi gương cũng như tìm hiểu
về ngành nghề dễ thành công trong xã hội hiện nay.
- Một số tiết do giáo viên chủ nhiệm đảm nhận, các thầy cô đã lồng ghép nội dung
vào những giờ sinh hoạt lớp, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các em, phân tích
tư vấn cho HS hiểu về việc chọn ngành nghề phù h p với bản thân và hoàn cảnh
gia đình.
- Nhà trường tổ chức cho HS tham quan các trường Đại học, Cao đẳng qua những
ngày hội tư vấn tuyển sinh do báo Tuổi trẻ hoặc Tỉnh Đoàn phối h p với các
trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp( TCCN) hoặc các trường trung
cấp nghề tổ chức. Sau các buổi tư vấn này, các em sẽ có thêm thông tin cần thiết,
quan trọng để tự tin đăng kí dự thi vào trường, vào ngành học phù h p nhất với
năng lực của bản thân mà các em đam mê và xã hội thực sự có nhu cầu. Với nhiều
hình thức, các hoạt động của ngày hội đã cung cấp thông tin về ngành đào tạo, hình


thức tuyển sinh, việc làm sau khi ra trường, điểm chuẩn đầu vào cho đối tư ng học
sinh trung học phổ thông.
- Tổ chức thực hiện phương pháp thuyết trình: Giới thiệu khái quát chủ đề, nói
ngắn gọn những vấn đề quan trọng nhất và cần thiết nhất để học sinh biết đư c ý
nghĩa và nội dung của bài; Giải thích các điểm chính của bài; Giao bài tập cho
học sinh.
- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu thông tin về nghề nghiệp và cơ sở đào tạo:
Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu thông tin của Nghề dạy học.
Học sinh sẽ phải trả lời các câu hỏi: Nghề dạy học có từ bao giờ? Nó có
tầm quan trọng như thế nào đối với kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước? Đối
tư ng và công cụ của nghề dạy học là gì? So sánh đối tư ng và công cụ của lao
động của nghề dạy học với các ngành nghề khác? Công việc chủ yếu của nghề

- Đóng vai (diễn kịch), mô phỏng, nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh,
biết xử lý thông tin, ứng dụng những lý thuyết đã học vào thực tiễn sinh động và
đa dạng. Thông thường, giáo viên tạo tình huống trước khi thảo luận một chủ đề
nào đó, giáo viên chuẩn bị kịch bản, cho HS xem trước, phân công học sinh chọn
vai. Đóng vai sẽ kích thích học sinh thảo luận sôi nổi về chủ đề đư c nêu.
2.2.2.4. Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN:
Hoạt động GDHN là hoạt động có đặc thù riêng là giáo viên không kiểm tra
cho điểm như các môn học khác. Kết quả của hoạt động đư c biểu hiện một cách
rất trừu tư ng là HS chọn đư c ngành học, nghề làm phù h p sau khi ra trường.
Tuy vậy, quản lý việc kiểm tra đánh giá của giáo viên vẫn có thể tiến hành dựa trên
những nhận xét về thái độ, ý thức học tập, tham gia các hoạt động, chuẩn bị cho
tiết học của HS.
2.2.2.5. Về quản lý người học:
Quản lý người học là công việc đư c thực hiện qua kiểm tra sĩ số, ý thức thái
độ tham gia hoạt động của HS. Người giáo viên đảm nhiệm hoạt động này cần phải
có sự nghiêm khắc, tỉ mỉ, đồng thời phải có sức lôi cuốn thu hút học sinh để các
em khi tham dự hoạt động này thực sự cảm thấy bổ ích, lý thú và là nhu cầu của
bản thân. Việc điểm danh và trừ hạnh kiểm HS chỉ là biện pháp hành chính bắt
buộc và không thật sự hiệu quả.
III.

HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status