một số giải pháp nâng cao công tác giáo dục hướng nghiệp ờ các trường thcs-thpt huyện vũng liêm - Pdf 13

UBND HUYỆN VŨNG LIÊM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Độc lập –Tự do –Hạnh phúc

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
Đơn vị chủ trì: Phòng Giáo dục và Đào tạo
Tên nhiệm vụ khoa học công nghệ: Một số giải pháp nâng cao quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp
Tên người chủ trì, thực hiện: Nguyễn Thị Kha
Địa danh: Huyện Vũng Liêm
Nội dung báo cáo:
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở pháp lý, xuất xứ của đề tài
Căn cứ Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc Hội
khóa X đã khắng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
là “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ
thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu
cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền
thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong
khu vực và trên thế giới ”
Quyết định 126/CP, ngày 19/3/1981 của Hội đồng chính phủ “Về công tác
Hướng nghiệp trong trường Phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp PTCS và
PTTH tốt nghiệp ra trường”,
Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành chỉ thị 33/2003/CT-BGD& ĐT về tăng
cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, các Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp - hướng nghiệp
2. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu:
2.1.Tính cấp thiết:
1
Hoạt động GDHN cho HS phổ thông ở nước ta còn rất yếu. Tuy được nhà nước
chính thức xác định bởi quyết định 126/CP của Hội đồng chính phủ, nhưng vào
những năm 80 của thế kỷ trước, do nhiều yếu tố khác nhau như sự sút kém về đời

năm học 2012-2013 PGD-ĐT huyện không bố trí phân công được 22 giáo sinh
ngành sư phạm tiểu học, 15 giáo sinh trung học cơ sở các môn toán lý, hóa sinh,
nhưng huyện lại thiếu 23 cán bộ y tế trường học, 10 giáo viên dạy mẫu giáo.
Trước tình hình ấy đặt ra yêu cầu bức thiết là phải có giải pháp nâng cao quản
lý công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường THCS, THPT để định hướng cho
học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường
2.2. Mục tiêu nghiên cứu:
+ Mục tiêu tổng quát:
Là giải pháp được đề xuất phải hướng tới mục tiêu chiến lược phát triển
nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập. Đó là giải pháp nâng cao quản lý giáo dục
hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông huyện Vũng
Liêm, giúp nhà trường có các giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp và định
hướng cho học sinh chọn được ngành, nghề làm phù hợp với năng lực bản thân,
hoàn cảnh kinh tế gia đình và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Vũng Liêm
+ Mục tiêu cụ thể:
Giáo dục hướng nghiệp, góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân
luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục
đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội. GDHN nhằm định
hướng nghề nghiệp, tư vấn hướng nghiệp và tuyển chọn nghề nghiệp cho học sinh vì
trong thời gian qua học sinh tốt nghiệp lớp 9 gần 100% học sinh vào học THPT,
khoảng 2% đi học nghề, Học sinh tốt nghiệp THPT thường đăng ký thi vào các
trường cao đẳng, đại học ( 70%) chỉ 30% đi vào các trường trung cấp nghề.
3. Đối tượng, phạm vi, nội dung nghiên cứu:
3
- Đối tượng: Các giải pháp nâng cao quản lí hoạt động GDHN trong các trường
THCS,THPT huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
-Phạm vi: Nghiên cứu các giải pháp nâng cao quản lý công tác GDHN của hiệu
trưởng các trường THCS,THPT
- Nội dung:
+Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý GDHN trong các trường

khác chưa thấy được ý nghĩa tầm quan trọng của môn học trong nhà trường phổ
thông.
+ Nhận thức của học sinh:
Hầu hết các em cho là một môn học rất cần thiết (86,7%) và bổ ích trong
tương lai, vì qua môn học này thầy cô đã cung cấp giúp cho học sinh chọn nghề trên
cơ sở dựa vào năng lực, sở trường của học sinh được bộc lộ, có đối chiếu với yêu
cầu phân công lao động xã hội, đồng thời điều chỉnh nguyện vọng khi cần thiết và
giúp đỡ cho học sinh học tập, rèn luyện theo ngành, nghề đã chọn qua các hoạt động
hướng nghiệp cho các em hiểu rằng với năng lực, khả năng học tập của các em, hoàn
cảnh gia đình của bản thân sẽ giúp các em chọn nghề phù hợp với tình hình thực tế
của bản thân
GDHN với tư cách là một hoạt động giáo dục chưa được thực sự coi trọng trong
nhiều năm qua. Hầu hết giáo viên dạy hoạt động GDHN bậc THCS, THPT đều chưa
qua một lớp đào tạo sư phạm nào về hướng nghiệp, do đó thường thiếu những kiến
thức cần thiết để soạn bài và thường lúng túng về cách tổ chức và phương pháp dạy
học một bài trước học sinh. Ngay cả giáo viên dạy các môn kỹ thuật trong
trườngTHCS, THPT hoặc giáo viên dạy nghề phổ thông ở trung tâm dạy nghề cũng
gặp phải tình trạng lúng túng bởi hầu hết chỉ hiểu sâu về một nghề và hiểu sơ bộ về
một số nghề có chuyên môn lân cận với nghề của mình mà thôi, nên khi giới thiệu cho
học sinh một nghề khác sẽ gặp nhiều khó khăn. Huyện chưa có trung tâm kĩ thuật
tổng hợp và hướng nghiệp, nên việc hướng nghiệp nghề cho học sinh rất hạn chế, địa
5
phương ít khu công nghiệp hay các nhà máy xí nghiệp lớn nên việc đi thực tế của HS
lớp 9, lớp 12 không có, việc giới thiệu nghề cho các em còn mơ hồ.
Số ít còn lại thì cho rằng môn học này không cần thiết (0,83%) có cũng được
không có cũng được, nên để thời gian đầu tư cho các môn học khác quan trọng hơn.
+ Nhận thức về công tác GDHN của đội ngũ cán bộ quản lý:
Đa số cán bộ quản lý đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hướng
nghiệp trong nhà trường phổ thông 6/10 ý kiến ( 60%). Tuy nhiên còn một số cán bộ
quản lý chưa nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác hướng

hội và sản xuất. Cách giảng dạy thuyết trình trong điều kiện giáo viên ít có thông tin
về nghề nghiệp thường dẫn đến tình trạng thiếu sinh động trong giờ học, học sinh
chán nản, tham gia cho có để khỏi bị trừ điểm hạnh kiểm.
Quản lý hình thức tổ chức giảng dạy là yêu cầu tổ chức cho HS thực hiện hoạt
động GDHN theo hình thức nào, phân theo thời khoá biểu cùng với các môn văn hoá
khác hay tổ chức dạy chéo buổi; dạy riêng từng tiết hay tổ chức mỗi tháng một buổi;
học theo đơn vị lớp hay cho 2-3 lớp, cả khối cùng tham gia; bài nào dạy riêng từng
lớp, bài nào dạy chung ở hội trường; Việc quy định hình thức tổ chức hoạt động GD
cho phù hợp và đạt hiệu quả là điều mà người quản lý phải quan tâm thực hiện.
+ Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN:
Hoạt động GDHN là hoạt động có đặc thù riêng là giáo viên không kiểm tra cho
điểm như các môn học khác. Kết quả của hoạt động được biểu hiện một cách rất trừu
tượng là HS chọn được ngành học, nghề làm phù hợp sau khi ra trường. Tuy vậy,
quản lý việc kiểm tra đánh giá của giáo viên vẫn có thể tiến hành dựa trên những nhận
xét về thái độ, ý thức học tập, tham gia các hoạt động, chuẩn bị cho tiết học của HS.
+ Về quản lý người học:
Quản lý người học là công việc được thực hiện qua kiểm tra sĩ số, ý thức thái độ
tham gia hoạt động của HS. Người giáo viên đảm nhiệm hoạt động này cần phải có sự
nghiêm khắc, tỉ mỉ, đồng thời phải có sức lôi cuốn thu hút học sinh để các em khi
7
tham dự hoạt động này thực sự cảm thấy bổ ích, lý thú và là nhu cầu của bản thân.
Việc điểm danh và trừ hạnh kiểm HS chỉ là biện pháp hành chính bắt buộc và không
thật sự hiệu quả.
Từ những nguyên nhân trên tác giả đã đề xuất 7 giải pháp để nâng cao quản lý
hoạt động hướng nghiệp ở các trường THCS, THPT huyện Vũng Liêm thể hiện qua
chương III
+Chương 3: Các giải pháp của công tác nâng cao quản lý GDHN trong các
trường THCS, THPT Huyện Vũng Liêm.
Thời gian thực hiện đề tài, bắt đầu từ năm học 2013-2014
4. Giả thuyết khoa học:

thông trên địa bàn huyện Vũng Liêm.
1/ Nâng cao nhận thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp
2/Đổi mới nội dung giáo dục hướng nghiệp
3/ Đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp
4/ Đổi mới kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN
5/ Tăng cường phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội
6/ Đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên
7/ Tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động GDHN
Vận dụng kết quả nghiên cứu vào việc nâng cao chất lượng GDHN trong
trường THCS, THPT trên địa bàn huyện Vũng Liêm, góp phần giải quyết vấn đề
lao động và việc làm đang ngày càng trở nên bức thiết của xã hội nói chung và địa
phương Vũng Liêm nói riêng.
Vận dụng kết quả nghiên cứu phục vụ đề tài khoa học cấp huyện “Giải pháp
nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động Giáo dục hướng nghiệp trong
9
trường phổ thông, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho huyện Vũng Liêm
trong thời kỳ hội nhập”.
Góp phần thực hiện thắng lợi tinh thần nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ
huyện về phát triển công tác GD-ĐT huyện Vũng Liêm” .
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC;
Giáo dục hướng nghiệp là một trong những bộ phận quan trọng trong giáo dục
phổ thông là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực. Hoạt động GDHN đã có lịch sử ra
đời và phát triển nhiều năm trên thế giới. Ngày nay, ở các nước Pháp, Đức, Thụy Sĩ,
Bỉ, Nga, Canada, Úc, …có nền giáo dục tiên tiến, hệ thống hướng nghiệp học đường
và giáo dục nghề nghiệp đã có mức phát triển từ cao đến rất cao.
Ở Pháp vào giữa thế kỷ XIX (1848) đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn chọn
nghề”, nội dung cuốn sách đề cập tới sự phát triển đa dạng của thế giới nghề nghiệp
do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế, do đó thanh niên nhất
thiết phải được sự giúp đỡ trong lựa chọn nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả

động này nên chỉ thực hiện một cách qua loa, chiếu lệ. Việc định hướng cho phụ
huynh và con em họ chọn con đường nào để có một vị trí thích hợp trong đời sống
kinh tế - xã hội sau này chưa được giải đáp thoả đáng. Trước tình hình ấy đặt ra yêu
cầu bức thiết là phải có giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà
trường phổ thông để định hướng cho học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường.
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM
Để nghiên cứu công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS,
THPT, có 3 phương pháp nghiên cứu:
1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Phân tích, hệ thống hóa, tổng hợp các tài liệu về hoạt động GDHN trong
nhà trường phổ thông nhằm xác lập cơ sở lý luận của đề tài
2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
11
+ Phương pháp quan sát:
Quan sát thực tế công tác GDHN cho HS ở các trường THCS,THPT huyện
Vũng Liêm. Đến các trường THCS, THPT để nắm thực trạng công tác này trong
thời gian qua chưa được chú trọng, qua trao đổi nắm thông tin từ phía giáo viên và
học sinh cho rằng, đây là hoạt động có tính phong trào
+ Phương pháp điều tra:
Sử dụng phiếu điều tra để thăm dò ý kiến nhận xét của cán bộ quản lý, giáo
viên, HS về thực tế GDHN ở các trường THCS, THPT trên địa bàn huyện Vũng
Liêm, giúp tác giả biết được thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp tại các trường
một cách khá chính xác, là cơ sở đưa ra giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của
công tác này.
Nhìn chung hiệu quả của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông hiện
nay theo đánh giá của cả giáo viên và học sinh là chưa cao. Do tác động của gia đình
và nhiều nguồn thông tin khác, cũng như từ quan sát của chính các em, dẫn đến thực
tế hiện nay là có số lượng lớn học sinh lớp 12 muốn đi thoát ly khỏi quê hương,
không muốn ở nhà sản xuất. Đây là nguyện vọng chính đáng của các em, tuy nhiên
điều này sẽ dẫn đến tình trạng đô thị hóa quá nhanh và nông thôn sẽ thiếu nhân lực

qua là không quan trọng, xem nó không có ý nghĩa giáo dục mà còn cho rằng môn
hướng nghiệp trong nhà trường đem vào chỉ tốn thời gian vô ích không có các em
vẫn chọn được nghề bình thường ( 1.07%).
Bảng 2.2. Nhận thức của học sinh về GDHN
Nội dung thăm dò Số ý kiến TS: 120 Tỉ lệ (%)
Là một môn học 2 1,67%
Là một hoạt động phong trào 13 10.8%
Đây là hoạt động rất cần thiết 104 86,7%
Là một hoạt động không cần thiết 01 0.83%
Qua bảng trên ta thấy các HS của các trường việc học tập môn HN:
+ Các em cho là một môn học rất cần thiết (86,7%) và bổ ích trong tương lai, vì
qua môn học này thầy cô đã cung cấp giúp cho học sinh chọn nghề trên cơ sở dựa
13
vào năng lực, sở trường của học sinh được bộc lộ, có đối chiếu với yêu cầu phân
công lao động xã hội, đồng thời điều chỉnh nguyện vọng khi cần thiết và giúp đỡ cho
học sinh học tập, rèn luyện theo ngành, nghề đã chọn qua các hoạt động hướng
nghiệp cho các em hiểu rằng với năng lực, khả năng học tập của các em, hoàn cảnh
gia đình của bản thân sẽ giúp các em chọn nghề phù hợp với tình hình thực tế của bản
thân hạn chế việc chọn sai nghề, học nữa chừng rồi bỏ hoặc khi ra trường bỏ nghề,
chuyển nghề khác… Một số ít giáo viên ( 3.19%) còn xem công tác GDHN trong
thời gian qua là không quan trọng, xem nó không có ý nghĩa giáo dục mà còn cho
rằng môn hướng nghiệp trong nhà trường đem vào chỉ tốn thời gian vô ích không có
các em vẫn chọn được nghề bình thường ( 1.07%).
Bảng 2.2. Nhận thức của học sinh về GDHN
Nội dung thăm dò Số ý kiến TS: 120 Tỉ lệ (%)
Là một môn học 2 1,67%
Là một hoạt động phong trào 13 10.8%
Đây là hoạt động rất cần thiết 104 86,7%
Là một hoạt động không cần thiết 01 0.83%
Qua bảng trên ta thấy các HS của các trường việc học tập môn HN:

vai trò, tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp 2/10 ý kiến ( 20%) cho là GDHN
không quan trọng, không có ý nghĩa giáo dục HS, từ đó dẫn đến chưa quan tâm
đúng mức cho công tác này, chưa thực hiện đúng yêu cầu của nội dung hướng
nghiệp cũng cho rằng nếu không có hoạt động GDHN thì HS vẫn chọn nghề nghiệp
một cách bình thường qua thông tin báo đài, sự tư vấn của giáo viên dạy hướng
nghiệp, ảnh hưởng của gia đình và sự lôi cuốn của bạn bè. Một số khác cho rằng qua
15
sách báo và các loại hình thông tin khác như: Internet, tivi, báo chí …các em cũng
nắm được thông tin về nghề nghiệp.
Để nắm được nhận thức của CBQL về công tác GDHN, chúng tôi đã khảo sát
10 CBQL của 1 trường THCS và 3 trường THPT của huyện với kết quả như sau:

Bảng 2.3. Nhận thức của cán bộ quản lý về GDHN
Nội dung thăm dò Số ý kiến Tỉ lệ
GDHN quan trọng và cần thiết để HS chọn nghề phù hợp 8 80%
GDHN không quan trọng vì học sinh vẫn lựa chọn nghề
nghiệp bình thường qua thông tin.
2 20%

Qua ý kiến thăm dò của 10 cán bộ quản lý thì đa số cán bộ quản lý đều nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông 8/10
ý kiến ( 80%). Tuy nhiên còn một số cán bộ quản lý chưa nhận thức sâu sắc vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp 2/10 ý kiến ( 20%) cho là GDHN
không quan trọng, không có ý nghĩa giáo dục HS, từ đó dẫn đến chưa quan tâm
đúng mức cho công tác này, chưa thực hiện đúng yêu cầu của nội dung hướng
nghiệp cũng cho rằng nếu không có hoạt động GDHN thì HS vẫn chọn nghề nghiệp
một cách bình thường qua thông tin báo đài .
16
* Biểu đồ so sánh việc chọn nghề của học sinh THCS, THPT
Việc tư vấn hướng nghiệp trong thời gian qua của huyện Vũng Liêm còn

Không
khả
Thi
1
Tổ chức quán triệt
cho CB-GV
68.1% 31,9% 65.3% 34,7%
Tổ chức tuyên
truyền
61,5% 38,5% 59,8% 40,2%
Lồng ghép các
môn học
62,9% 37,1% 61,2% 38,8%
Ban hành nghị
quyết chi bộ, CQ,
đoàn thể
68% 32% 63,5 % 26,5%
2
Yêu cầu GV
lập KH cá nhân
77,14% 22,86% 62,22% 37,78%
Yêu cầu giáo viên
lập phiếu báo
giảng
57,30% 42,7% 56,32% 43,68%
Thường xuyên dự
giờ thăm lớp
41,7% 58,3% 36,06% 63,94%
Chỉ đạo tổ chuyên
môn nhận xét đánh

chức Đoàn
59,52% 40,48% 51,91% 49,09%
Phối hợp với TrT
dạy nghề
69,27% 30,73% 66,62% 33,38%
Phối hợp với ban
đại diện CM HS
35,41% 50,23% 14,36% 31,45% 48,22% 20,33%
Phối hợp với hội
khuyến học
33,19% 44,65% 22,16% 32,46% 43,11% 24,43%
Phối hợp với các
cơ sở sản xuất
kinh doanh
36,04% 56,80% 7,16% 36,12% 54,43% 9,45%
6
Nâng cao nhận
thức cho CB-GV
về hoạt động
GDHN
72,02% 27,98% 73,74% 26,26%
Quản lý bồi dưỡng
CM, nghiệp vụ
68,67% 31,33% 59,63% 40,37%
19
Bồi dưỡng phẩm
chất chính trị, đạo
đức nhà giáo
65,52% 34,48% 59,89% 40,11%
7

kinh tế xã hội của điạ phương một cách bền vững .
3 . Kết quả đạt được của đề tài:
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS, THPT là giải
pháp giúp nhà trường định hướng nghề nghiệp cho HS các trường THCS, THPT
chọn được nghề phù hợp với năng lực, điều kiện kinh tế gia đình của từng HS , vừa
có tác dụng xây dựng đội ngũ cán bộ lành nghề trong tương lai, thúc đẩy các ngành
kinh tế khác phát triển, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược đưa Việt Nam cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Nghiên cứu đề tài có ý nghĩa đánh giá và định hướng đi trong việc nâng cao
hiệu quả giáo dục hướng nghiệp theo hướng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh
của Việt Nam hiện nay. Nhằm hướng tới việc tập trung nguồn lực trong nước, kết
hợp với thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển đất nước.
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài đã cố gắng xây dựng
ra những vấn đề cần giải quyết và có những đề xuất nhằm đưa lĩnh vực định hướng
cho GDHN với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, để đi vào thực
tiễn thì các định hướng, giải pháp cần được quan tâm của các cấp lãnh đạo để giải
pháp gDHN đạt hiệu quả trong thời gian tới .
Qua đề tài hướng nghiệp đã hệ thống hoá và xây dựng những quan điểm,
cơ sở lý luận về công tác GDHN trong nhà trường phổ thông.
Bổ sung một số lý luận về vai trò, vị trí của hoạt động GDHN trong nhà
trường PT nói riêng và trong xã hội nói chung.
Phát hiện một số tồn tại cần giải quyết trong công tác quản lý hoạt động
GDHN trong nhà trường phổ thông.
21
Đề ra 7 giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động GDHN trong trường
phổ thông trên địa bàn huyện Vũng Liêm.
1/ Nâng cao nhận thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp:
Việc nâng cao nhận thức đối với hoạt động hướng nghiệp có vai trò hết sức
quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nó giúp cho các thành viên
trong và ngoài nhà trường tham gia một cách tự giác, tích cực và đạt được hiệu

Đổi mới về phương pháp tổ chức hoạt động: chương trình hoạt động GDHN
thể hiện quan điểm xây dựng coi học sinh là chủ thể của hoạt động chọn nghề. Đó
là hoạt động thực hành tìm hiểu nghề thông qua việc giáo viên tổ chức cho học
sinh tìm hiểu thông tin nghề, tìm hiểu thực tế cơ sở sản xuất, tổ chức tham quan, tổ
chức các buổi hội thảo ở lớp, nhóm… Ở đây, thầy đóng vai trò là người tổ chức,
định hướng, điều khiển các hoạt động, học sinh phải tự mình điều tra, thu thập các
thông tin nghề, về trường đào tạo, về sự phát triển kinh tế ở địa phương, về cơ sở
sản xuất kinh doanh.
3/ Đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp:
Trong điều kiện mới của đất nước, học sinh tốt nghiệp THCS, THPT không
những phải đáp ứng những thách thức mới của việc lựa chọn nghề nghiệp, các
hình thức và cơ hội tìm được việc làm mà còn phải có ý thức tự tạo lập cuộc sống
của mình, sự thay đổi trong thị trường việc làm cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến
tính năng động, linh hoạt của từng cá nhân, đến sự phân công lao động trong từng
gia đình và vị trí từng công việc trong xã hội. Do vậy, GDHN cho học sinh
THCS,THPT chính là giúp cho các em có kiến thức, chủ động, linh hoạt, tự tin
trong lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai, giúp các em hình thành được những
năng lực cần thiết để hoà nhập với cộng đồng, thích ứng với nền kinh tế thị trường.
Vì vậy, hoạt động GDHN có những đặc thù riêng về phương pháp, phải đổi mới
phương pháp, phải chú trọng đến phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động, tạo
hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu các nội dung GDHN. Tính đặc thù thể
23
hiện ở chỗ học sinh đóng vai trò là chủ thể của hoạt động chọn nghề. Các phương
pháp này đem lại cho học sinh các kinh nghiệm tìm hiểu thông tin nghề, củng cố
quan điểm đối với lao động, thái độ sẵn sàng đi vào cuộc sống lao động, định
hướng giá trị nghề nghiệp, hình thành động cơ đúng đắn trong tìm hiểu và lựa
chọn nghề.
4/ Đổi mới kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN:
Hoạt động GDHN là hoạt động được thực hiện với nhiều hình thức và được
tích hợp thông qua 4 con đường: Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các bộ môn

Như vậy, xã hội hoá giáo dục là một quan điểm cơ bản có tính chiến lược
trong việc xây dựng và phát triển giáo dục. Công tác giáo dục vốn là hoạt động có
tính chuyên môn nghiệp vụ của ngành giáo dục trở thành một hoạt động rộng lớn,
sâu sắc, thâm nhập và tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế,
chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật…) thúc đẩy sự phát triển không ngừng của xã
hội. Xã hội hoá giáo dục đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực, tiềm năng của xã
hội tham gia giải quyết mọi nhiệm vụ, mọi vấn đề của giáo dục. Phải xem xã hội
hoá giáo dục là con đường, là biện pháp tiên quyết để thực hiện trọn vẹn, lâu dài
các chức năng, nhiệm vụ của giáo dục theo đúng mục tiêu xác định.
6/ Đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên
Tuy nhiên, điều căn bản nhất để cho mọi hoạt động giáo dục thành công là
nhân cách nhà giáo dục, của người thầy. Giáo dục không có gì khác hơn là con
người tác động đến con người, nhân cách ảnh hưởng đến nhân cách. Người thầy
xứng đáng phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. “ không có một nền giáo
dục nào cao hơn trình độ giáo viên của nền giáo dục ấy”.
Để có đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục, người quản lý
phải nhận thức rõ việc đổi mới đào tạo và bồi dưỡng là việc cần thực hiện trong
giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới, do đó việc đào tạo và bồi
dưỡng cho cán bộ là hai giai đoạn kế tiếp nhau. Giai đoạn đào tạo được thực hiện
25

Trích đoạn Tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động GDHN:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status