Kỹ năng giao tiếp cơ bản dành cho sinh viên
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao tiếp là một hoạt động cơ bản, một nhu cầu không thể thiếu của con người. Để tồn tại và
phát triển, hàng ngày, hàng giờ, con người luôn thực hiện việc giao tiếp; mỗi con người đều
phải giao tiếp với cộng đồng, với thế giới xung quanh để hoàn thành chức trách của mình.
Khi bước vào môi trường đại học, có nghĩa là sinh viên đã bước vào một môi trường mới,
khác nhiều với các môi trường giao tiếp khác. Ở môi trường đại học sinh viên đã là những
người trưởng thành chứ không còn như khi ở phổ thông. Đặc biệt ở môi trường đại học, sinh
viên được nhìn nhận là những con người có học vấn, có nhận thức, và có trình độ văn hóa cao;
đối tượng quan hệ giao tiếp thường xuyên, chủ yếu của sinh viên là những người có tri thức:
thầy cô, bạn bè sinh viên,v.v.Vì thế đòi hỏi sinh viên phải có những kĩ năng giao tiếp cơ bản,
thiết yếu nhằm biết cách xây dựng được các mối quan hệ nơi trường lớp và trong cuộc sống,
tạo nên một bầu không khí thật sự tốt đẹp văn minh, lịch sự.
2. NỘI DUNG
2.1.Bất kì một hoạt động nào cũng cần có một số kĩ năng, kĩ xảo nhất định, không biết cách
làm, không tự động hóa được một số thao tác hoạt động nhất định sẽ kém hiệu quả. Hoạt động
giao tiếplà “một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể,
thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và sử dụng những phương tiện
đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ”(theo A.A. Lêonchiev (1, 168); kĩ năng giao tiếp là khả
năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm lí bên trong
của đối tượng và bản thân chủ thể giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn
ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt
mục đích giao tiếp. Các kĩ năng giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với tất cả chúng ta. Nhà
học giả người Mỹ, Kinixti đã từng nói: “Sự thành công của một người chỉ có mười lăm phần
trăm phải dựa vào kĩ thuật chuyên ngành, còn tám mươi lăm phần trăm phải dựa vào những
quan hệ giao tiếp và tài năng xử thế của người ấy.” (9, 6). Chúng ta đã ngày càng nhận thức rõ
hơn về tầm quan trọng của các kĩ năng giao tiếp, thế nhưng trong thực tế cuộc sống có rất
nhiều cá nhân đang rất chật vật về năng lực này. Đã có rất nhiều báo chí phản ánh những về
những cử chỉ bất lịch sự diễn ra chung quanh ta, đặc biệt ở lớp trẻ mới lớn lên: gặp người già
đến nhà, con cái không chào; lên xe buýt, thanh niên tranh chỗ ngồi, không nhường chỗ người
được thì cũng không bắt người khác phải làm; dùng cách nói tế nhị, có lý, có tình, tránh dùng
cách nói vỗ mặt sỗ sàng; tránh chạm vào lòng tự ái của người khác, khiến người ta phải buồn
lòng đau khổ; tránh dùng cách nói mỉa mai cay độc; lúc cần thiết biết dùng cách nói triết lý để
giảm bớt nỗi bất hạnh của người khác. Làm được những điều như vậy thì có nghĩa là chúng ta
đã có kỹ năng hòa nhập với mọi người.
2.2.2. Kĩ năng quản lí nhận thức của bản thân
Sự nhận thức có tác động mạnh mẽ hơn sự thật và việc nhận thức của mỗi người về người giao
tiếp với mình có ảnh hưởng rất lớn trong giao tiếp, thế nhưng rất nhiều người thường chuyển
thông điệp sang nhận thức ngay tức thì và thường làm như vậy mà không hề có ý thức gì cả
đồng thời hình thành những ấn tượng, cảm giác, đưa ra những quyết định hay những kết luận
một cách máy móc, đó có nghĩa là không kiểm soát được nhận thức của mình. Con người nếu
không kiểm soát được nhận thức của mình là một điều vô cùng tai hại trong giao tiếp, tai hại
nhất là sẽ để lại một hình ảnh xấu về mình trong nhận thức của người giao tiếp với mình. Vì
vậy, mỗi con người nên rèn cho mình có được kĩ năng quản lí nhận thức của bản thân. Muốn
thế khi giao tiếp cần lưu ý: trước hết là phải chuyển thông điệp đúng lúc, khi đối tác của chúng
ta có một số nhận thức không chính xác về một vấn đề nào đó chỉ vì tầm nhìn của họ chưa bao
quát toàn bộ sự việc chúng ta nên bắt đầu từ quan điểm của đối phương trước và giúp họ dần
nhận ra toàn cảnh vấn đề để họ thấu tình đạt lí, không có cảm giác bị hạ bệ, có thái độ tế nhị
đối với những điểm dị biệt cá nhân, chú tâm đến lời nói, giọng nói, thái độ cử chỉ và kiểu cách
của mình.
2.2.3. Kĩ năng chọn lựa ngôn từ và điều chỉnh giọng nói
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Nhờ ngôn ngữ người ta có thể trao
đổi với nhau mọi loại thông tin, như: diễn tả hành động, sự vật, sự việc, trạng thái, tình cảm,
những mong muốn, những suy nghĩ. Hiệu quả của giao tiếp bằng ngôn ngữ phụ thuộc vào nội
dung của ngôn ngữ, tính chất của ngôn ngữ, điệu bộ khi nói. Trong lúc giao tiếp một số từ ngữ
có khả năng tạo ra một phản ứng mạnh mẽ nào đó. Khi viết lách việc chọn từ ngữ cũng như
phong cách thể hiện là các yếu tố quan trọng hàng đầu. Khi giao tiếp qua điện thoại thì giọng
nói đóng vai trò quyết định. Khi giao tiếp trực diện, cử chỉ là quan trọng nhất, kế đến là giọng
nói, và cuối cùng là những từ ngữ được sử dụng.
Để có được kĩ năng này cần cẩn trọng đối với từ ngữ, cố gắng điều khiển giọng nói của mình
Có những nguyên nhân chủ quan thuộc về người nghe như: sự xao nhãng, nghe qua loa, phân
tán chú ý; cảm nhận tiêu cực về đề tài; chỉ nghĩ về mình; cảm nhận tiêu cực về người nói.
Cũng có thể nguyên nhân là do phía nguời nói mức độ quan tâm thấp đối với người nghe. Hay
nguyên nhân xuất phát từ sự khác nhau về tốc độ truyền và nhận tin ( Trung bình nói 125 –
150 từ/phút; đọc nhanh gấp 2-3 lần nói; người nghe xử lý thông tin nhanh gấp 2 -3 lần người
đọc; con người suy nghĩ nhanh hơn từ 10-20 lần họ nói).
Để có được kĩ năng lắng nghe, chúng ta phải: tập trung chú ý vào nguời nói; tự gợi mở hiểu
biết cho mình khi nghe; lắng nghe gắn với quan sát cách ứng xử. Cần phải chú ý tới những
thông điệp thông qua cách ứng xử của đối phương, vì nó có thể thống nhất hoặc không thống
nhất với lời nói của đối phương.
Chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng, sử dụng kĩ năng lắng nghe là nhằm để thực hiện ba mục
đích:
Thứ nhất là lắng nghe để thu thập thông tin. Để tìm kiếm dữ liệu hoặc các vấn đề mà ta cần
biết. Chúng ta cần phải chú ý đến các cử chỉ, điệu bộ, giọng nói để chắt lọc thông tin chính
xác, cần thiết đồng thời chủ động nghe và lái câu chuyện theo mục đích của mình bằng một số
phương pháp như : Đặt câu hỏi; phương pháp gợi mở - phương pháp khống chế; phương pháp
cân bằng - phương pháp xoay chuyển,v.v.
Thứ hai là lắng nghe để giải quyết vấn đề. Người nghe phải có khả năng phân tích, tổng hợp.
Một số thủ thuật nhằm lắng nghe để giải quyết vấn đề là: ghi nhanh những gợi ý để phản hồi,
cố gắng đoán trước được ý nghĩ của họ, tổng kết lại toàn bộ câu chuyện, sau đó phân tích và
đưa ra thông tin phản hồi.
Thứ ba là lắng nghe để thấu cảm.Mọi người đều muốn người khác lắng nghe mình. Việc thấu
hiểu hoàn toàn rất khó nhưng vẫn có thể hiểu, chia sẻ được với người khác. Lắng nghe để thấu
cảm đòi hỏi khéo léo, tế nhị, có hiểu biết và đặc biệt có sự tin tưởng. Vì vậy người nghe phải
cố gắng không ngắt lời, tỏ ra hiểu, thông cảm với nói, chờ thời điểm thích hợp mới trình bày ý
kiến phản hồi của mình. Muốn lắng nghe để thấu cảm người nghe phải dùng câu hỏi để hiểu
sâu hơn suy nghĩ của người khác.
2.2.6. Kĩ năng thấu hiểu sự khác biệt và giải quyết những xung đột
trả lời; khi trình bày cần tránh sự lúng túng bằng cáchgiấu đi nỗi lo lắng của bạn, biết khi nào
bắt đầu, trả lời câu hỏi ngay lập tức. Các nguyên tắc cần phải rèn luyện là: lời văn ý tứ phải rõ
ràng giúp người nhận hiểu được đúng thông tin muốn truyền đạt và có thể thực hiện công việc
với những thông tin ấy; nên đi thẳng vào vấn đề, nêu bật các nét chính của các vấn đề cần
thông báo, báo cáo và trao đổi thảo luận.Không sa vào những chi tiết không cần thiết, không
lặp lại nội dung đã trình bày, quyết định sử dụng ý tưởng đúng lúc, loại bỏ từ thừa, nói với tốc
độ vừa phải, không pha trò; loại bỏ những từ vô nghĩa, và đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến
nhiều người khác; cần phải đúng, chính xác, không sai lỗi chính tả, không sai các con số, giá
cả, ngày tháng,v.v. ; phải có đầy đủ những nội dung, những phần, những điều kiện, điều khoản
cần thiết; các ý, các phần trong cần phải nhất quán với nhau; lời lẽ phải lịch sự, nhã nhặn, hình
thức trình bày cẩn thận, đẹp, sáng sủa; nên cẩn trọng, không trình bày về những điều mình
không nắm chắc.
3. KẾT LUẬN
Trên đây là bảy kĩ năng giao tiếp mà sinh viên cần phải trang bị ngay khi còn ở trong môi
trường đại học. Việc có được các kĩ năng này sẽ giúp sinh viên tự tin khẳng định vị trí của
mình trong giao tiếp với mọi người đồng thời cũng có nghĩa là tạo dựng nên một hình ảnh đẹp
về người sinh viên trong xã hội ngày nay – những con người có lối sống đẹp, sống có ý nghĩa.
Tuy nhiên đó mới chỉ là những kĩ năng cơ bản trong giao tiếp, còn trong tương lai để thực sự
thành công trong các môi trường làm việc khác nhau, sinh viên còn phải trang bị thêm nhiều
kĩ năng giao tiếp nữa; đó là các kĩ năng giao tiếp nơi công sở, chúng tôi sẽ trình bày ở chuyên
luận lần sau.