BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊ NIN. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT
HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Triết học Mác- Lênin là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết
học nhân loại. Triết học Mác- Lênin là thế giới quan, phương pháp luận cách
mạng và khoa học trong nhận thức và cải tạo thế giới, là vũ khí lý luận của giai
cấp công nhân trong quá trình giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người.
Triết học, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao giờ cũng gắn với
con người, coi con người là đối tượng trung tâm nghiên cứu của triết học. Dù
duy tâm hay duy vật, biện chứng hay siêu hình, mọi trào lưu triết học từ cổ đại
đến hiện đại đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đề
chung nhất về con người. Nhưng sự lý giải ấy xuất phát từ lập trường thế giới
quan, phương pháp luận khác nhau nên sự hình thành, phát triển của các trào lưu,
trường phái triết học cũng khác nhau hoặc đối lập nhau. Cuộc đấu tranh xoay
quanh vấn đề con người là một trong những nét nổi bật của triết học. Chỉ đến
Triết học Mác Lênin ra đời mới tạo ra bước ngoặt cách mạng, khoa học về con
người, những giá trị đích thực của con người trong nhận thức và cải tạo tự nhiên,
xã hội và phát triển tư duy mới được trả lại giá trị đích thực. Ngày nay, lý luận
Mác xít về con người đã và đang trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa
học để Đảng ta xác định ra những quan điểm, giải pháp để phát huy nguồn lực
con người trong sự nghiệp cách mạng nước ta, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
1. Vấn đề con người trong lịch sử triết học trước Mác.
Ngay từ buổi đầu với những tri thức sơ khai về triết học, khi con người bắt
đầu có ý thức và khả năng tìm hiểu những bí mật của thế giới xung quanh thì con
người cũng bắt đầu đặt ra những câu hỏi và lời giải đáp về chính mình: Con
người là gì? Con người sinh ra từ đâu?... Lời giải đáp đó đã có từ trong các
truyền thuyết thần thoại, sử thi lưu truyền trong dân gian, mặc dù đó chỉ là những
3
sinh sống như các động vật, sử dụng các vật phẩm sẵn có trong thiên nhiên.
Chính sự thiếu thốn làm cho nhu cầu ngày càng tăng, từ sự thúc đẩy của nhu cầu
mà bàn tay, trí tuệ của con người tạo nên văn minh về nhà ở, quần áo và các
công cụ sản xuất.... Arixtốt - đại biểu đại diện giai cấp chủ nô, ông coi con người
nô lệ là "những công cụ biết nói". Ông đã nêu lên luận đề: Con người là động vật
xã hội và con người cũng là động vật chính trị. Thừa nhận con người cần phải
nghiên cứu thế giới tự nhiên vì bản thân con người là một bộ phận của tự nhiên.
Như vậy, triết học Phương Tây cổ đại đã rất chú ý bàn đến những vấn đề thực
tiễn của con người, hướng con người với tự nhiên để chinh phục, cải tạo tự nhiên
đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình. Những vấn đề nhân sinh quan cũng giải
quyết được dựa trên mối quan hệ con người với tự nhiên.
Đến thế kỷ XIV - XV, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời đưa
nhân loại thoát khỏi "đêm trường trung cổ", xuất hiện những tư tưởng mới, phù
hợp với sự ra đời của chế độ xã hội mới. Cuộc đấu tranh kéo dài giữa các hệ tư
tưởng diễn ra liên tục và khá quyết liệt. Lý trí và tự do tư tưởng của con người
chống lại lòng tin mông muội có tính chất duy tâm, tôn giáo và sự biện hộ cho nó
là thần học kinh viện. Sự giải phóng cá nhân con người, sự đề cao cuộc sống
hạnh phúc, chống lại sự chà đạp thô bạo lên nhân cách và chủ nghĩa khổ hạnh.
Đến thời kỳ phục hưng đã xây dựng nên một quan niệm khá hoàn chỉnh, có hệ
thống về con người và đã diễn đạt được một hình thái sáng sủa đầy sức sống. Đó
là đặt con người vào vị trí trung tâm của thế giới. Hạnh phúc, sự phát triển và sự
hoàn thiện của con người là mục đích của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, đây
cũng là sự phản ánh khát vọng của giai cấp tư sản ở giai đoạn hình thành. Bên
cạnh mặt tiến bộ, cách mạng còn chứa đựng những mặt yếu và mâu thuẫn bên
trong. Những mâu thuẫn này ngày càng bộc lộ cùng với sự tiến lên của giai cấp
tư sản thành giai cấp thống trị. Dù sao triết học thời phục hưng đã chuẩn bị cho
một bước phát triển mới về khoa học, về sự nghiên cứu con người. Niềm tin và
quan. Cho nên, triết học mới của PhoiơBắc chỉ là để giải thích cái gì đã có chứ
không phải để thay đổi những gì đang có.
7
Như vậy, trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, việc con người tự nhận thức
về bản thân mình đã được nâng lên không ngừng, cùng với việc nhận thức tự
nhiên và xã hội. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng trong lịch sử, rất nhiều vấn đề
về con người chưa được giải quyết một cách thoả đáng, căn bản và triệt để. Loài
người chỉ có thể tìm thấy câu trả lời xác đáng cho mọi vấn đề về con người trong
triết học Mác-Lênin.
2. Bước ngoặt cách mạng về vấn đề con người trong triết học Mác-Lênin
Trước hết, Ăngghen đã khẳng định, trong phê phán triết học mới của
PhoiơBắc: Người ta chỉ đi từ con người trừu tượng của PhoiơBắc đến những con
người hiện thực sinh động. Nếu người ta xét những con người đó trong các hành
động lịch sử của họ... Sự sùng bái con người trừu tượng, cái hạt nhân đó trong
tôn giáo mới của PhoiơBắc tất cả được thay thế bằng khoa học nghiên cứu những
con người hiện thực, trong sự phát triển lịch sử của họ. Và thực sự Mác,
Ăngghen, Lênin đã chứng tỏ rằng, con người là điểm xuất phát và sự giải phóng
con người là mục đích cao nhất của triết học Mác-Lênin. Ngay trong tác phẩm
"Bản thảo kinh tế - triết học" năm 1844. Mác đã trình bày một cách rõ nét, hệ
thống và khái niệm con người theo quan điểm duy vật lịch sử. Khái niệm đó là
khái niệm đa nghĩa, con người không đơn giản là những cá nhân riêng biệt, là
phương thức tồn tại của con người trong thế giới và không đơn giản là chủ thể
trừu tượng của nhân loại. Mà con người là cá nhân đặc biệt, thực hiện trong nó
bản chất tộc loại và có mọi khả năng để phát triển. Đối với con người thì toàn bộ
lịch sử là quá trình sinh thành của nó, còn đối với lịch sử, con người thể hiện ra
là một chủ thể của sự phát triển lịch sử. Toàn bộ sự phát triển của con người thể
hiện ra là sự "tự tha hoá", là sự "lột bỏ". Xoá bỏ sự tha hoá đó là sự chiếm hữu
lượng sản xuất, của các cuộc cách mạng xã hội. Chương trình di truyền chỉ là cơ
sở, là khả năng cho sự phát triển năng lực và phẩm chất con người. Chỉ có bằng
con đường rèn luyện, giáo dục làm cho mọi người có điều kiện tiếp thu tất cả
những thành tựu của nền văn hoá vật chất và tinh thần đã được gắn chặt trong
chương trình xã hội, mới có thể tạo ra những năng lực và phẩm chất tốt đẹp của
con người.
Chủ nghĩa Mác-Lênin không xem nhẹ tính sinh học của con người, bỏ qua
việc tiếp thu những thành tựu của sinh học và di truyền học. Khi nghiên cứu
những hành vi của những người cụ thể thì không chỉ xét đến những điều kiện xã
hội, mà còn phải xét đến cả những điều kiện sinh học (và điều kiện tự nhiên nói
chung). Nói một cách khác, phải xem xét cả những mầm mống tự nhiên của con
người mà bằng cách này hay cách khác đã ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển
năng lực người. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin chưa bao giờ nói rằng
mọi người đều có năng lực ngang nhau. Quan niệm bình đẳng của Chủ nghĩa
Mác-Lênin là sự bình đẳng xã hội chứ không phải là sự bình đẳng về mặt sinh
học, bình đẳng về năng lực. Bởi thế nên "hành vi" của các dân tộc, các giai cấp,
12
các tập đoàn xã hội được quy định về mặt xã hội thì trong sự quy định hành vi
của từng con người cụ thể cần phải tính đến sự tác động qua lại hết sức phức tạp
giữa mặt xã hội và mặt sinh vật.
Như vậy, tương ứng với luận điểm mà Mác nêu ra về bản chất của con
người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội trong tính hiện thực của nó, thì con
người chính là một thực thể xã hội. Cùng với điều đó cũng cần phải khẳng định
rằng con người là một bộ phận của tự nhiên, là một thực thể sinh học, tổ chức
sinh học của thực thể người là một cái gì đó có giá trị tự thân. Việc nhìn nhận,
đánh giá con người trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố sinh học và
yếu tố xã hội là phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa duy vật
con người mà chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét con người trong sự thống nhất giữa
bản chất và tồn tại, giữa lý luận và thực tiễn. Công lao bất hủ của các ông chính
là ở chỗ đã làm cho người ta thấy "sự phù hợp giữa sự biến đổi của hoàn cảnh và
hoạt động của con người, chỉ có thể xét và hiểu một cách hợp lý như là thực tiễn
cách mạng"6.
Cần phải coi lịch sử như một quá trình tự sinh của con người, do con
người thực hiện quá trình cải tạo thế giới. Đối với triết học Mác-Lênin, quá trình
xây dựng và phát triển của con người là sự tác động của điều kiện khách quan,
thống nhất với quá trình tự biến đổi, phát triển của con người. Quá trình đó được
thực hiện trong tiến trình hoạt động của chính con người.
Thực tiễn phát triển lịch sử của nhân loại đã chứng minh tính đúng đắn của
những tư tưởng, quan niệm đó của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Lịch sử xã hội
loài người đã trải qua nhiều nấc thang phát triển khác nhau, nhiều chế độ xã hội có
trình độ khác nhau, ứng với mỗi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát
triển của lịch sử xã hội là xã hội với những con người tương ứng. Những con người
ấy vừa là sản phẩm của xã hội, vừa là chủ thể cải tạo xã hội. Xã hội càng phát triển
6
S®d, TËp 2, tr.493
14
thì càng tạo ra những con người phát triển cả về năng lực, trình độ, thể chất.... Đồng
thời những con người ấy lại chính là chủ thể để cải biến xã hội.
3. Ý nghĩa đối với việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi
mới ở nước ta hiện nay
Những tư tưởng của triết học Mác - Lênin về con người tuy đã ra đời cách
đây hơn 150 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lần
đầu tiên trong lịch sử, triết học Mác - Lênin đã đưa lại cho chúng ta một phương
Nam, có những nhân cách kẻ sỹ, bậc trượng phu, người quân tử làm nòng cốt
xây dựng xã hội ấy. Xã hội tư sản đã coi các thương gia, các nhà tư bản là nòng
cốt xây dựng xã hội đó. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu phấn đấu trong
cuộc cách mạng của chúng ta là chủ nghĩa xã hội, vì vậy “muốn có chủ nghĩa xã
hội thì trước hết phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa”.
Con người xã hội chủ nghĩa vừa là sản phẩm sinh thành của quá trình phát
triển xã hội mới, vừa là kết quả của hoạt động lao động sản xuất tích cực. Con
người xã hội chủ nghĩa là những con người có phẩm chất rất mới mà xã hội cũ
không có. Con người xã hội chủ nghĩa khác với nhân cách của kẻ sỹ, thương gia,
trượng phu, quân tử, nhà tư bản. Đó là những con người được hình thành không
chỉ gắn với tiến trình cách mạng của nhân dân, mà nó còn phải đại diện cho các
giá trị đạo đức mới, lý tưởng của xã hội mới. Đó là những con người kiên quyết
chống áp bức và bóc lột, coi lao động là nguồn sống, là trách nhiệm, là vinh dự,
là nguồn tạo ra hạnh phúc. Đó là những con người có tình yêu sâu sắc với đồng
loại, yêu những người lao động nghèo khổ trên thế giới. Nhân tố cơ bản tạo
thành tính cách của những con người như vậy là tính cách mạng của nó. Con
người vừa có đạo đức trong sạch, vừa có lý tưởng cao đẹp.
Những quan điểm, tư tưởng trên đây và những lời dạy của Chủ tịch Hồ
Chí Minh: "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta
phải hết sức tránh", "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người", "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người mới xã hội
16
chủ nghĩa" đã trở thành những tư tưởng xuyên xuốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng
của Đảng ta trong thế kỷ XX, trong những năm đầu và những năm tiếp theo của
thế kỷ XXI.
Thực tế chứng minh rằng, những tư tưởng vĩ đại về con người của các nhà
kinh điển, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào
là nhân tố trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội. Có như vậy thì mới khai
thác tối đa tinh thần và tài trí của con người, vì con người và do con người.
Ngày nay, trước sự nghiệp công nghiệp hoá, hện đại hoá đất nước nhằm
phát triển lực lượng sản xuất thì yếu tố con người vẫn luôn luôn là yếu tố quyết
định. Những tư tưởng, quan niệm về con người của Chủ nghĩa Mác Lê nin, của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhận thức lại ngày càng đúng đắn hơn, rõ ràng
hơn. Việc nhận thức đúng đã đặt cơ sở khoa học vững chắc cho sự lựa chọn con
đường xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trong đó nhân
tố con người phải vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng khẳng định “Trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố
cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” 7. Trong nhận thức và hành động,
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, những chính sách xã hội hợp lý,
đặc biệt chú trọng và coi nhân tố con người là trung tâm cho sự phát triển, coi
trọng lợi ích của cá nhân cũng như của mọi thành viên trong xã hội, giải quyết
hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng trong mối quan hệ biện chứng thống
nhất. Chúng ta nhận thức rằng: phát triển nguồn lực con người không chỉ tạo ra
động lực của sự phát triển mà còn là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Đại hội IX, Đảng ta chỉ rõ mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đến năm
2020 là đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghệp theo hướng hiện đại;
nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực
7
T×m hiÓu v¨n kiÖn §¹i héi VIII cña §¶ng, NXBCTQG, HN.1996. tr.41.
18
kinh t, quc phũng, an ninh c tng cng; th ch kinh t th trng nh
19
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải được đặt trong mối
quan hệ với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển nhân cách, trí lực, thể lực,
tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cộng đồng dân
tộc Việt Nam. Việc không ngừng gia tăng tính tự giác, năng lực, làm tăng sáng
tạo của mỗi người, việc phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân kết hợp
với sức mạnh tập thể lao động của cả cộng đồng dân tộc trên một cơ sở nền tảng
tinh thần vững chắc phải được coi là định hướng chiến lược cho việc phát huy,
bồi dưỡng nhân tố con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.
Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội,
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, các doanh nghiệp và từng cá nhân
phát huy mọi tiềm năng sẵn có của mình. Giải quyết việc làm, khuyến khích các
ngành nghề truyền thống, tự do hành nghề, phát triển dịch vụ việc làm, khuyến
khích làm giàu hợp pháp, gắn chặt với việc xóa đói giảm nghèo, chú ý đến đời
sống của nhân dân ở vùng xâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, thành lập các
quỹ từ thiện, nhân đạo, xây dựng các phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Lá lành
đùm lá rách”... sâu rộng trong các tầng lớp dân cư.
Hai là: Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, làm cho giáo
dục và đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu nhằm mục đích để nâng cao dân
trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi để phát triển con người, quyết định đến việc
tạo ra nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thông qua giáo dục đào tạo, chúng ta sẽ tạo ra được một thế hệ người Việt Nam
có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, có đủ tri thức và năng lực
để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Chỉ có thể tăng
trưởng nguồn lực con người khi quá trình hiện đại hoá các ngành giáo dục, văn
hoá, văn nghệ, bảo vệ sức khoẻ, dân số và kế hoạch hoá gia đình, gắn liền với
việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc.
21
động các lực lượng xã hội và thông tin đại chúng tham gia kế hoạch giáo dục
thường xuyên, giáo dục liên tục, giáo dục suốt đời, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dạy: “Học hành là vô cùng, học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt”.
Ba là: Thực hiện tốt dân chủ hóa đời sống xã hội, thường xuyên đổi mới
và hoàn chỉnh cơ chế quản lý của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Con người chỉ có thể phát triển toàn diện trong một môi trường dân chủ
thực sự. Ở đó, con người được bảo đảm đầy đủ các quyền lợi về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội.... Dân chủ hóa xã hội sẽ tạo ra một tâm trạng xã hội năng
động, kích thích con người vươn tới các tầm cao, đồng thời góp phần tích cực
vào việc khắc phục những hiện tượng xâm phạm quyền con người.
Dân chủ hóa xã hội chỉ được bảo đảm khi thực hiện tốt một trong những
giải pháp là xây dựng, đổi mới công tác quản lý của nhà nước theo hướng phát
huy tốt quyền làm chủ của nhân dân.
Phải luôn bảo đảm cho công tác quản lý của Nhà nước thực sự là của nhân
dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới phương thức hoạt động của
các thành tố trong hệ thống chính trị xã hội, đặc biệt là việc xây dựng Nhà nước
thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân bằng các công cụ quản lý, các
thiết chế, các tổ chức quản lý có tác dụng to lớn trong việc phát huy dân chủ xã
hội hướng đến nhân tố con người. Cơ chế quản lý của Nhà nước là con đường,
cách thức để con người vừa phát huy tốt vai trò làm chủ xã hội, tham gia tích cực
vào các hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động xã hội, vì vậy nhân tố con người
càng được phát huy tốt hơn. Đồng thời phải thực hiện tốt việc củng cố, xây dựng
đội ngũ cán bộ, tinh giản bộ máy theo hướng tinh gọn, kiện toàn hệ thống pháp
chế bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Văn kiện Hội nghị BCHTW lần 3, khoá VIII, NXB CTQG, HN, 1998, tr.34,35.
23
Năm là: Tập trung mọi nỗ lực để xây dựng những con người mới xã hội
chủ nghĩa.
Phát triển con người cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện nhân cách
của những con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó chính là quá trình tạo ra những
con người giác ngộ xã hội chủ nghĩa sâu sắc, có lập trường tư tưởng vững vàng,
có kiến thức sâu, rộng về chuyên môn nghiệp vụ, là con người có tinh thần và
năng lực làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên và bản thân, là những con người lao
động mới, lao động có kỷ luật, năng suất, kỹ thuật và văn hoá. Kết hợp hài hoà
sự phát triển phong phú về tinh thần, trong sạch về đạo đức, thể lực tốt, có tinh
thần yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế của giai cấp công nhân.
Những con người mới trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước phải là những con người không ngừng phát huy tính tích cực cá nhân, biết
làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, biết giữ gìn và phát huy các giá
trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, có tư duy
sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
và kỷ luật, có sức khoẻ, đủ sức gánh vác công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Có thể nói đây là những nét nổi trội mà con người Việt Nam hiện nay cần có so
với các giai đoạn trước đây. Nó phản ánh nét đặc thù của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần phải đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng
và không ngừng phát triển cho thế hệ trẻ. Để bồi dưỡng và phát triển nhân tố con
người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhất thiết phải từng bước hiện đại hoá đất
nước và đời sống xã hội.
dựng được những quân nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung
thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, tin tưởng vào thắng lợi của chế độ xã
10
Hå ChÝ Minh, toµn tËp, NXBCTQG , H.1987. TËp 7. tr.544.
25
hội chủ nghĩa. Giáo dục, bồi dưỡng được những quân nhân “vừa hồng thắm, vừa
chuyên sâu”, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, tham gia tích cực vào việc xây dựng kinh
tế, phát triển đất nước.
Vận dụng phương pháp luận triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
vào việc xây dựng nhân tố con người trong quân đội giai đoạn hiện nay, cần phải
thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần luôn nhất quán nhận thức ở lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các
cấp về vấn đề con người, xây dựng nhân tố con người là yếu tố quyết định sự
trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội, nên tập trung mọi nguồn
lực vào việc xây dựng con người, tổ chức trong quân đội vững mạnh.
Thứ hai, coi trọng giáo dục đào tạo, huấn luyện, đào luyện nên những
quân nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
quân sự giỏi phù hợp với từng chuyên môn, chuyên ngành đáp ứng tốt với yêu
cầu xây dựng quân đội.
Thứ ba, phải có hệ thống các chính sách đúng đắn đối với việc nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của quân nhân, quan tâm giải quyết tốt chính sách
hậu phương quân đội.
Thứ tư, Chăm lo phát triển văn hoá quân nhân, làm cho văn hoá thấm sâu
vào tinh thần của quân nhân, văn hoá sẽ làm thức tỉnh những yếu tố tích cực,
những yếu tố chân, thiện, mỹ trong phẩm chất, năng lực của quân nhân.