PHONG TRÀO THƠ MỚI (1932 – 1945)
Kết quả cần đạt
Giúp học sinh:
- Nắm được những nét chính về quá trình phát triển, đặc điểm cơ bản và
những đóng góp chủ yếu của Phong trào thơ mới
- Vận dụng các kiến thức đã học để luyện tập ( trắc nghiệm và tự luận).
- Có thái độ yêu mến, trân trọng các giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới.
Trong những năm đầu thập kỷ thứ ba của thế kỷ trước xuất hiện một dòng
thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn. Đó là Thơ mới (hay còn gọi là Thơ mới lãng
mạn). Thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân
tộc ở thế kỷ 20. Sự xuất hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào
thơ mới 1932-1945. Phong trào thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca”
1
,
mở
đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.
I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội.
Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định
của lịch sử xã hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng
lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự
xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu
thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn
đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945.
Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời. Vừa mới hình thành,
các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa,
một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương. So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư
sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn. Tuy không tham gia chống Pháp và
không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách
để giữ vững nhân cách của mình.
Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức
2- Giai đoạn 1936-1939:
Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên
nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn
như Xuân Diệu (tập Thơ thơ -1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê -1936, Đau thương
-1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn - 1937), Bích Khuê (Tinh huyết - 1939), … Đặc
biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa
mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”
3
. Xuân
Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này.
Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh
hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích
bằng sự khẳng định của cái Tôi. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang
đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật.
Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho
mình một cách thoát ly riêng.
3- Giai đoạn 1940-1945:
Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ
Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập
có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ
Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,…
Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc
cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Giai
cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc
2
lập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và
bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận
những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới
mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát.
III- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới
trong nhiều bài thơ. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp
(Em đi Chùa Hương); hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ
Huy Cận (Đẹp xưa); hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh
(Quê hương) v.v… Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng
quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao: Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ,
Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến
3
nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê
hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước.
Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn
bộc lộ một vài hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không
tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt
đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu
sau cách mạng tháng Tám.
IV- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới
1. Sự khẳng định cái Tôi
Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một
nền văn học phi ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện
trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,… Đến Phong trào thơ mới, cái Tôi
ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là
sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa
chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới.
Ý thức về cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu
hiện. Cái Tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của
thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người
bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước
ra “trình làng” (chữ dùng của Phan Khôi). Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong
trào thơ mới lên tiếng trước:
- “Tôi là con chim đến từ núi lạ …”,
- “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”…
ứa”. Về điều này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau
buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như: “Thà một phút huy hoàng
rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.
Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ
mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng
với đời và với chính mình.
3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu
Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc
mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”
7
. Cảm hứng về thiên nhiên và tình
yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc,
âm thanh, tràn trề sự sống.
Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.
Và đây là hình ảnh buổi trưa hè:
“Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ”
(Huy Cận).
Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như:
“Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng
Những khóm tre cao rủ trước thành”
tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam.
Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới.
“Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên:
“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”.
Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một
“thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”