Những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành
và phát triển t tởng triết học- ý nghĩa trong nghiên cứu lịch
sử triết học hiện nay
1. Mở đầu
Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng
thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI tr.CN ở ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã
và ở một số nớc khác thời kỳ cổ đại từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ đợc
thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Triết học là hình thái ý thức xã hội ra
đời, tồn tại, phát triển cùng với lịch sử xã hội loài ngời đến nay. Lịch sử triết
học là lịch sử phát triển của t tởng triết học qua các giai đoạn khác nhau của
xã hội. Nh vậy, yếu tố nào mang tính quy luật đã tác động, chi phối đến sự
hình thành, phát triển những t tởng triết học đó?
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, lịch sử triết học có hai nhóm
tính quy luật: nhóm tính quy luật phản ánh và nhóm tính quy luật giao lu.
Nhóm tính quy luật phản ánh bao gồm phản ánh điều kiện kinh tế, xã hội và
sự phát triển khoa học nhất là khoa học tự nhiên. Nhóm tính quy luật giao lu
bao gồm giao lu đồng loại và giao lu khác loại. Giao lu đồng loại bao gồm
giao lu theo lịch đại và giao lu theo đồng đại. Giao lu khác loại bao gồm giao
lu giữa triết học với các hình thái ý thức xã hội khác và giao lu giữa các hệ
thống triết học khác nhau.
2. Nội dung
Theo quan điểm mácxít, lịch sử t tởng triết học đợc phát sinh, phát triển
tuân theo những tính quy luật sau đây:
Một là, sự hình thành, phát triển của các t tởng triết học phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội.
Sự phát triển của t tởng triết học- một hình thái ý thức xã hội, phụ thuộc
vào tồn tại xã hội, mà trớc hết là phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất
vật chất. Mác khẳng định: Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con ngời,
và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: ngời ta phải có khả năng sống đã rồi
mới có thể làm ra lịch sử. Nhng muốn sống đợc thì trớc hết cần phải có thức
lực mạnh mẽ cho khoa học phát triển, đây là thời kỳ phát triển t duy trừu tợng
của ngời ấn Độ cổ đại.
Về chế độ chính trị- xã hội: chế độ thị tộc tan rã, xã hội phân chia thành
các giai cấp khác nhau; các quốc gia chiếm hữu nô lệ phát triển và thờng gây
chiến tranh thôn tính lẫn nhau, dẫn tới hình thành các quốc gia lớn, các vơng
triều thống nhất ở ấn Độ; làm cho xã hội luôn diễn ra các cuộc đấu tranh hết
sức quyết liệt giữa các lực lợng đối lập. Thời kỳ này cũng hình thành hệ thống
các tôn giáo lớn ở ấn Độ cổ đại. Những đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị- xã
hội đó là tiền đề về lý luận và thực tiễn làm nảy sinh và phát triển những t tởng
triết học ấn Độ cổ, trung đại. Triết học ra đời lý giải về nguồn gốc, nguyên lý
của vũ trụ, giải thích đời sống tâm linh và nỗi khổ của con ngời v.v..
Một số đặc điểm về t tởng triết học ấn Độ cổ, trung đại: bớc đầu đặt ra
và giải quyết nhiều vấn đề của triết học nh về bản thể luận, nhận thức luận,
nhân sinh quan, đạo đức...Triết học ở thời kỳ này đã thể hiện tính biện chứng
và tầm khái quát khá sâu sắc, đã đem lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng
di sản triết học của nhân loại. Triết học ấn Độ cổ, trung đại đã quan tâm giải
quyết vấn đề đời sống tâm linh, gắn với đời thực, việc thực. Triết học ấn Độ
cổ, trung đại trong mấy nghìn năm phát triển không diễn ra cuộc cách mạng t
tởng, nó chỉ phát triển dới hình thức chú thích, diễn giải, chỉ có sự phát triển
kế thừa, không có sự phủ định các học thuyết trớc đó. Hầu hết các trờng phái
đều biến đổi theo xu hớng từ vô thần đến hữu thần, từ ít hay nhiều duy vật
sang duy tâm hoặc nhị nguyên. Điều đó phản ánh sức ỳ của xã hội ấn Độ cổ,
trung đại- một xã hội dựa trên cơ sở của phơng thức sản xuất châu á trong
suốt mấy nghìn năm lịch sử.
Thời kỳ Trung Quốc cổ, trung đại (khoảng thiên niên kỷ thứ V tr.CN đến
cách mạng Tân hợi 1911), nền sản xuất vật chất phát triển mạnh chủ yếu là
trồng lúa nớc, sử dụng công cụ bằng đá, gỗ, đồ đồng, đồ sắt để thâm canh, thủ
công nghiệp và thơng nghiệp phát triển...Về chính trị xã hội, từ chế độ thị tộc
thiên nhợng phát triển đến chế độ thế tập vơng vị- chế độ phong kiến hình
thành và phát triển, duy trì , kéo dài suốt mấy chục thế kỷ (đến khi cách mạng
mạnh, nó đem lại cho xã hội nhiều thành tựu vĩ đại: toán học (Talét, Pitago,
Ơclít...), vật lý học (Acsimét, Arixtốt, Đêmmôcít...), thiên văn học (Talét tìm
ra lịch 1 năm có 360 ngày và đêm...). Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học do đó, ở thời kỳ này các nhà khoa học đã khám phá ra những luận điểm
sai lầm của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo về vũ trụ, về con ngời...Vì vậy, cuộc
đấu tranh giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ trên lĩnh vực t tởng đặc biệt là
trên lĩnh vực triết học diễn ra hết sức gay gắt.
Một số đặc điểm về t tởng triết học Hy Lạp cổ, trung đại: phát triển
phong phú về trờng phái, sự phân chia và đối lập giữa các trờng phái triết học
duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình vô thần và hữu thần... Trong đó,
điển hình là cuộc đấu tranh của hai đờng lối triết học duy vật của Đêmôcrít và
triết học duy tâm của Platôn. Các hệ thống triết học ra đời cơ bản đi sâu vào
giải quyết các vấn đề về bản thể luận và nhận thức luận triết học: đó là mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức. Tuy nhiên chủ nghĩa duy vật còn thô sơ mộc
mạc và phép biện chứng còn ở trình độ tự phát. Ăngghen viết: Hình thức thứ
nhất là triết học Hy Lạp. T duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác
tự nhiên...do đó mà sau này, nó buộc phải nhờng chỗ cho những cách nhìn
khác...Nếu về chi tiết, chủ nghĩa siêu hình là đúng hơn so với những ngời Hy
Lạp, thì về toàn thể những ngời Hy Lạp lại đúng hơn so với chủ nghĩa siêu
hình2.
Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị- xã hội hình thành triết học cổ điển
Đức: nớc Đức còn điển hình về chế độ phong kiến với 360 quốc gia tự lập
trong một liên bang Đức hình thức và lạc hậu. Giai cấp phong kiến thống trị
hầu hết các quốc gia đó, giai cấp t sản sống rải rác ở những vơng quốc nhỏ,
tách rời nhau, ít về số lợng, nhỏ bé về chính trị, yếu kém về kinh tế, vừa muốn
làm cách mạng vừa sợ cách mạng, nên đã thoả hiệp với giai cấp phong kiếntầng lớp quý tộc Phổ đang thống trị lúc bấy giờ; giữ lập trờng cải lơng trong
việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nớc. Về khoa học tự nhiên phát
triển rất mạnh. Nớc Đức đầu thế kỷ XVIII chịu ảnh hởng của triết học khai
sáng Pháp, do đó, xuất hiện trào lu ánh sáng Đức...Từ những tiền đề đó đã đặt
nền tảng cho quan niệm mới về triết học. Đặc điểm nổi bật của triết học cổ
hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học v.v.. 4. Đặc biệt, t tởng triết học là sự
phản ánh nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội; nó trực tiếp phụ thuộc vào
thực tiễn đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị xã hội. Do yêu cầu ấy đòi hỏi
phải có một lý luận, khái quát về sự phát triển của xã hội và dẫn đờng các cuộc
đấu tranh lúc bấy giờ, (triết học Trung Hoa cổ đại là một điển hình).
Ăngghen đã khái quát và đa ra một nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản
định hớng cho việc nghiên cứu giới tự nhiên và lịch sử: Bằng chứng phải đợc
rút ra từ bản thân lịch sử...Bây giờ thì bất cứ ở đâu, vấn đề không còn là tởng tợng ra những mối liên hệ từ trong đầu óc, mà là phát hiện ra chúng từ những
sự thực5.
Hai là, sự hình thành, phát triển của các t tởng triết học phụ thuộc vào
sự phát triển của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.
Trong lịch sử triết học, khoa học không phát triển thì triết học không có
khái quát mới. Trình độ phát triển của t duy triết học nhân loại phụ thuộc vào
trình độ nhận thức chung của nhân loại, tức là phụ thuộc vào sự phát triển của
khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Khoa học phát triển, vừa là cơ sở, điều
kiện cho triết học phát triển. Ngợc lại triết học phát triển, vừa là kết quả, vừa
là cơ sở cho sự phát triển của các khoa học. Triết học với tính cách là một
khoa học phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học và văn hoá của nhân loại.
Ăngghen viết: Chủ nghĩa duy vật đã trải qua một loạt các giai đoạn phát
triển. Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực
khoa học lịch sử- tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi
hình thức của nó; và từ khi bản thân lịch sử cũng đợc giải thích theo quan
điểm duy vật chủ nghĩa thì ở đây, cũng mở ra một con đờng phát triển mới6.
Cả điều kiện kinh tế xã hội và trình độ phát triển khoa học, xét đến cùng quyết
định nội dung các luận thuyết triết học và trong chừng mực, quyết định cả
hình thức thể hiện t tởng triết học.
Thời kỳ cổ đại, triết học hoà tan với khoa học: các nhà khoa học đồng
thời là nhà triết học. Mác, Ăngghen đánh giá Đêmôcrít là: ông có bộ óc bách
khoa đầu tiên của Hy Lạp cổ đại, bởi vì ông vừa là nhà triết học, đạo đức học,
tâm lý học, toán học, sinh vật học, vật lý học, mỹ học, ngôn ngữ học, âm
một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự nhiên 7. Qua phân tích, đấu
tranh có phê phán các học thuyết triết học trớc đó, Mác và Ăngghen đã chỉ ra
cơ sở duy tâm của triết học Hêghen, vạch ra mâu thuẫn chủ yếu giữa hệ thống
triết học bảo thủ, giáo điều với phơng pháp biện chứng cách mạng. Hệ thống
triết học của Hêghen đã coi thờng nội dung đời sống thực tế và xuyên tạc bức
tranh khoa học hiện thực. Chính phép biện chứng duy tâm của Hêghen đã bất
lực trớc sự phân tích thực tiễn, phân tích sự phát triển của nền sản xuất vật
chất và đặc biệt là bất lực trớc sự phân tích các sự kiện chính trị do không bám
sát thực tiễn, không bám vào sự phát triển của khoa học. Trong lĩnh vực xã hội
Phoiơbắc không bám sát thực tiễn, ông đa ra đạo đức, tình yêu và tôn giáo;
đạo đức của con ngời là tình yêu ngời với ngời, hạn chế hợp lý của bản thân
mình để đạt đến hạnh phúc; hạnh phúc là bẩm sinh, hạnh phúc là cơ sở của
đạo đức. Mặt khác Phoiơbắc mong muốn xoá bỏ tôn giáo nhng lại muốn xây
dựng một thứ tôn giáo mới- thứ tôn giáo tình yêu: tình yêu nam nữ là thiêng
liêng nhất. Ăngghen viết: Với t cách là nhà triết học, ông còn dừng lại ở nửa
đờng, nửa dới thì duy vật, nhng nửa trên thì lại duy tâm8. Mác và Ăngghen
đã xây dựng chủ nghĩa duy vật triết học chân chính khoa học bằng cách: bám
sát thực tiễn, bám sát sự phát triển của khoa học và xuất phát từ con ngời hiện
thực, con ngời hoạt động thực tiễn mà trớc hết là thực tiễn sản xuất vật chất và
thực tiễn đấu tranh chính trị để xây dựng nên học thuyết của mình- một chủ
nghĩa duy vật triết học hoàn bị, ở đó chủ nghĩa duy vật thì biện chứng, còn
phép biện chứng thì duy vật; lý luận triết học gắn bó chặt chẽ với thực tiễn- đó là
chủ nghĩa duy vật biện chứng cả trong tự nhiên và trong xã hội.
Nh vậy, triết học Mác ra đời đã chấm dứt tham vọng của nhiều nhà triết
học muốn biến triết học thành khoa học của mọi khoa học, đứng trên khoa
học. Mác và Ăngghen đã thực hiện đợc sự liên minh chặt chẽ giữa triết học
với khoa học cụ thể, giải quyết mối quan hệ đúng đắn giữa triết học với khoa
học cụ thể. Ăngghen viết: Chỉ có trong giai cấp công nhân thì cái khiếu lý
luận của ngời Đức mới tiếp tục tồn tại không tàn lụi đi...khoa học càng hành
động một cách dũng cảm và vô t thì nó càng phù hợp với lợi ích và nguyện
Đây là một hình thức giao lu đặc biệt giữa các hệ t tởng triết học trong
toàn bộ lịch sử của nó.
Lịch sử triết học có nhiều trờng phái triết học khác nhau, nhng chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai trờng phái lớn nhất trong lịch sử, nó hình
thành từ khi triết học mới phát triển và tồn tại đến ngày nay.
Lịch sử triết học từ cổ đại đến nay là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm, vì vậy trong nghiên cứu lịch sử triết học tất cả các
trờng phái triết học đều quan tâm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đó là
quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và t duy hay giữa tự nhiên và tinh
thần; vai trò của con ngời trong nhận thức thế giới. Tất cả những hiện tợng mà
chúng ta gặp hàng ngày chỉ có thể là hiện tợng vật chất tồn tại bên ngoài ý
thức của con ngời, hoặc là hiện tợng tinh thần tồn tại trong ý thức của con ngời. Không có bất kỳ hiện tợng nào nằm ngoài hai lĩnh vực đó. Nh vậy, bất kỳ
trờng phái triết học nào cũng quan tâm nghiên cứu giải quyết vấn đề cơ bản
đó. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi vật
chất hay ý thức cái nào có trớc, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?.
Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi con ngời có khả năng nhận thức đợc thế giớ
hay không?.
Tuỳ vào cách trả lời đó mà các học thuyết triết học khác nhau chia thành
hai trào lu cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trớc, ý thức có sau; thế giới vật
chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con ngời, không do ai
sáng tạo ra; còn ý thức là phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con ngời;
không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất. Con ngời có thể nhận
thức đợc thế giới và các quy luật của thế giới.
Đối lập với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm cho rằng: tinh thần, ý
thức có trớc và là cơ sở tồn tại của giới tự nhiên, của vật chất. Đa số các nhà
triết học duy tâm cũng thừa nhận thế giới là có thể nhận thức đợc, nhng chỉ là
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr 434.
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr 449.
Các trờng phái sau thờng biến đổi theo xu hớng duy tâm hoặc nhị nguyên
luận.
Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đờng lối Platôn đấu tranh với đờng lối Đêmôcrít
đã trở thành cuộc đấu tranh giữa hai đờng lối triết học điển hình trong lịch sử
triết học. Đó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và thần học của Platôn
với hệ thống quan niệm duy vật của Đêmôcrít. Vì thế, hệ thống quan niệm
duy vật của Đêmôcrít đợc coi là giá trị tinh thần kết tinh của thời đại đó và đợc gọi là đờng lối Đêmôcrít. Đờng lối này hoàn toàn đối lập với đờng lối
Platôn- dòng hệ thống triết học duy tâm. Vì vậy, học thuyết của Đêmôcrít là
một bớc tiến khổng lồ lên phía trớc trong phát triển triết học duy vật ở Hy Lạp
cổ đại.
Thời kỳ trung đại triết học chịu ảnh hởng nặng nề của tôn giáo và thần
học, nó diễn ra cuộc đấu tranh giữa phái duy danh và phái duy thực: đấu tranh
giải quyết mối quan hệ giữa khái niệm chung và sự vật cá biệt, nó không có
đóng góp lớn cho lịch sử triết học.
Lịch sử phát triển của triết học từ khi xuất hiện triết học đến nay cả trờng
phái duy vật và duy tâm trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, nhng mỗi
giai đoạn khác nhau về nội dung, hình thức, trình độ, phơng pháp và các vấn
đề đặt ra... đó là nguồn gốc, động lực phát triển của lịch sử t tởng triết học. Có
thể nói cuộc đấu tranh giữa hai đờng lối triết học Đêmôcrít và đờng lối Platôn
mở đầu cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong
7
lịch sử t tởng triết học. Đỉnh cao của cuộc đấu tranh này phải kể tới cuộc đấu
tranh giữa triết học của Hêghen với Phoiơbắc, hạt nhân hợp lý trong triết học
của các ông là tiền đề trực tiếp hình thành triết học Mác sau này. Quá trình
phát triển của lịch sử triết học là quá trình chủ nghĩa duy vật từng bớc chiến
thắng chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy vật của Đêmôcrít chiến thắng chủ
nghĩa duy tâm của Platôn; chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc đã chiến thắng chủ
chứng minh ở trên.
Bốn là, sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phụ thuộc vào
cuộc đấu tranh giữa hai phơng pháp nhận thức trong lịch sử là phơng pháp
biện chứng và phơng pháp siêu hình.
Lịch sử có nhiều cách trả lời khác nhau đối với vấn đề các sự vật, hiện tợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh thế nào, nhng đều quy về hai điểm
Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 1981, T.29, tr 282- tr 285.
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tập 36, tr 785.
14 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 4, tr 232.
12
13
8
chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình. Phép biện chứng và siêu hình
dùng để chỉ hai phơng pháp t duy đối lập nhau, đó là phơng pháp t duy biện
chứng và phơng pháp t duy siêu hình. Sự phát triển của lịch sử triết học cũng
chính là sự phát triển của trình độ nhận thức, của phơng pháp t duy nhân loại,
thông qua cuộc đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình. Đây cũng là sự đấu
tranh giữa hai mặt đối lập, tạo nên động lực bên trong của sự phát triển t tởng
triết học nhân loại.
Sự đối lập hai phơng pháp biện chứng và siêu hình biểu hiện: quan điểm
siêu hình chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt, không liên hệ, không vận
động, phát triển- tính chất t duy cứng nhắc, nhìn sự vật đứng im, không có sự
phát sinh, phát triển. Mác viết: Nó chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà
không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn
tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của
những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quyên
mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1994, tập 20, tr 37- tr 38.
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1981, tập 29, tr 240.
9
biện chứng duy tâm xuất hiện mà điển hình là phép biện chứng duy tâm của
Hêghen. Mâu thuẫn lớn nhất của triết học của ông là mâu thuẫn giữa phơng
pháp biện chứng với hệ thống duy tâm.
Chính sự phát triển của khoa học và thực tiễn, mà trực tiếp là sản xuất vật
chất và đấu tranh giai cấp, đòi hỏi phải có cách xem xét mới. Phép biện chứng
duy vật của Mác và Ăngghen đã xuất hiện, các ông đã cải biến phép biện
chứng duy tâm của Hêghen, thống nhất với chủ nghĩa duy vật nhân bản của
Phoiơbắc- đã cải biến cho ra đời phép biện chứng duy vật, làm cho chủ nghĩa
duy vật trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng. Ăngghen viết: Phép biện
chứng là khoa học về những quy luật phổ biến nhất của mọi vận động17.
Nh vậy, đấu tranh giữa phơng pháp nhận thức biện chứng và siêu hình đã
gắn liền với cuộc đấu tranh giữa thế giới quan duy vật và duy tâm trong lịch sử
triết học, nhng không phải là đồng nhất với nhau, không hoà trộn vào nhauthống nhất trong sự khác biệt.
Năm là, sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phụ thuộc vào sự
kế thừa và phát triển các t tởng triết học trong tiến trình lịch sử.
Đây là quy luật giao lu t tởng triết học cùng loại theo chiều dọc tiến trình
lịch sử. Giao lu t tởng triết học cùng loại trong lịch sử là một phơng thức tái
tạo t tởng. Sự tái tạo t tởng của một hệ thống triết học là một quá trình triển
khai những tiềm thế tồn tại ở cái ban đầu, cái xuất phát của cả hệ thống triết
học đó trong lịch sử. Triết học của mỗi thời đại lịch sử bao giờ cũng dựa vào
tài liệu lịch sử của triết học các thời đại trớc, lấy đó làm tiền đề, làm điểm
xuất phát cho hệ thống triết học của mình.
Phép biện chứng duy vật của Mác đã kế thừa tất cả yếu tố tiến bộ của các
xuất phát. Nhng hình thức hiểu Hêghen thì phơng pháp ấy lại không dùng đợc20. Ăngghen viết tiếp: ở Hêghen, sự phát triển biện chứng biểu hiện trong
giới tự nhiên và trong lịch sử...chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của ý
niệm, một sự tự vận động diễn ra vĩnh viễn, không biết ở đâu, nhng dù sao
cũng độc lập đối với mọi bộ óc đang t duy của con ngời. Sự xuyên tạc có tính
chất t tởng hệ ấy là cái cần phải gạt bỏ. Chúng tôi lại xem xét một lần nữa một
cách duy vật rằng những ý niệm trong đầu óc của chúng ta, coi đó là những
phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không phải xem xét những sự vật hiện
thực, coi đó là những phản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của ý
niệm21. Trên cơ sở đó, Ăngghen định nghĩa về phép biện chứng duy vật:
Phép biện chứng đã đợc coi là khoa học về những quy luật phổ biến nhất của
mọi vận động22. Quy luật của thế giới bên ngoài cũng nh của t duy con ngời,
thành hai loại quy luật đồng nhất về chất nhng về biểu hiện thì khác nhau theo
ý nghĩa là bộ óc con ngời có thể áp dụng những quy luật đó một cách có ý
thức, và chỉ ra tính thứ nhất của biện chứng khách quan và biện chứng thứ hai
của tính chủ quan- biện chứng của ý niệm chỉ là sự phản ánh vào ý thức sự vận
động biện chứng của thế giới hiện thực, cần phải sửa chữa, phát triển và cải
tạo phép biện chứng nói chung và phép biện chứng duy tâm của Hêghen bằng
cách: Phép biện chứng của Hêghen đã đợc đặt đầu lên trên hay nói đúng hơn,
từ chỗ trớc kia nó đứng bằng đầu, bây giờ ngời ta đặt cho nó đứng bằng
chân23. Nh vậy, Mác và Ăngghen đã chỉ ra cơ sở duy tâm của triết học
Hêghen, vạch ra mâu thuẫn chủ yếu giữa hệ thống triết học bảo thủ, giáo điều
với phơng pháp biện chứng cách mạng. Hệ thống triết học của Hêghen đã coi
thờng nội dung đời sống thực tế và xuyên tạc bức tranh khoa học hiện thực.
Phép biện chứng duy tâm của Hêghen đã bất lực trớc sự phân tích thực tiễn,
phân tích sự phát triển của nền sản xuất vật chất và đặc biệt là bất lực trớc sự
phân tích các sự kiện chính trị, đó cũng là thể hiện tính chất hai mặt trong triết
học Hêghen.
Mặt khác, Mác và Ăngghen đã khắc phục tính phiến diện, không triệt để
của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc. Phoiơbắc đã phê phán triết học
của Cantơ và triết học của Hêghen và khẳng định: thế giới tự nhiên là vật chất,
vật triết học chân chính khoa học bằng cách xuất phát từ con ngời hiện thựccon ngời hoạt động thực tiễn mà trớc hết là thực tiễn sản xuất vật chất và thực
tiễn đấu tranh chính trị- xã hội.
Tóm lại, với việc kết hợp một cách tài tình giữa việc giải phóng chủ nghĩa
duy vật khỏi tính chất trực quan, máy móc siêu hình và giải phóng phép biện
chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí, Mác và Ăngghen, lần đầu tiên trong lịch
sử, đã sáng tạo ra một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, ở đó chủ nghĩa duy
vật thì biện chứng, còn phép biện chứng thì duy vật; lý luận triết học gắn bó
chặt chẽ với thực tiễn- đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Về chủ nghĩa duy vật lịch sử, lần đầu tiên trong lịch sử Mác và Ăngghen
đã xây dựng đợc hệ thống quan điểm triết học khoa học về lĩnh vực xã hội, đó
là một trong những phát minh vĩ đại của các ông. Mác viết: Trái lại, triết học
về lịch sử, đặc biệt triết học về lịch sử mà Hêghen là đại biểu, thừa nhận rằng
những động cơ bề ngoài và cả những động cơ thực sự của những nhân vật hoạt
động trong lịch sử, quyết không phải là những nguyên nhân cuối cùng của các
sự biến lịch sử, rằng đằng sau những động cơ đó, còn có những động lực khác
cần phải phát hiện ra...Hêghen đã đề ra nhiều ý kiến hay và sâu sắc về những
ngời Hylạp thời cổ, song không vì thế mà chúng ta có thể bằng lòng với sự
giải thích đó, nó chỉ là một câu nói trống rỗng thôi 25. Ăngghen coi cái đã
đúng với giới tự nhiên mà do đó chúng ta coi là một quá trình phát triển lịch
sử, thì cũng đúng với tất cả các bộ môn của lịch sử xã hội và cũng đúng với
toàn bộ các khoa học nghiên cứu những cái thuộc về con ngời (và thuộc về
thần thánh)26. Theo Ăngghen, phải loại bỏ những mối liên hệ nhân tạo và
phải tìm ra những mối liên hệ hiện thực, nhất là phải phát hiện ra các quy luật
chung chi phối sự phát triển của lịch sử. Đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa duy vật
lịch sử. Ăngghen phân biệt sự khác nhau giữa quy luật lịch sử- đối tợng
nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử với các quy luật tự nhiên- đối tợng
nhận thức của các khoa học tự nhiên. Trong giới tự nhiên, các quy luật diễn ra
tự động, bên ngoài ý thức của con ngời trái lại các quy luật xã hội diễn ra
thông qua hoạt động có ý thức của con ngời. Nhng cũng giống với các quy
luật tự nhiên, quy luật xã hội cũng bị chi phối bởi vô số những ngẫu nhiên.
một dân tộc; những động cơ đã đẩy họ... đến chỗ tiến hành những hành động
lâu dài đa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại 30. Ăngghen đã chỉ ra rằng, động
lực của toàn bộ lịch sử hiện đại chính là cuộc đấu tranh giữa ba giai cấp lớn và
những xung đột về quyền lợi của họ- giai cấp địa chủ quý tộc, giai cấp t sản và
giai cấp vô sản. Nh vậy theo ông đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã
hội có giai cấp phát triển. Ăngghen viết: Chính là cuộc đấu tranh của ba giai
cấp lớn đó và những sự xung đột về quyền lợi của họ31. Để tìm ra động lực
của động lực, Ăngghen đi sâu vào xem xét nguồn gốc của giai cấp và đấu
tranh giai cấp, ông chỉ ra rằng, nguồn gốc của giai cấp và kết cấu của giai cấp
xã hội là do nguyên nhân thuần tuý kinh tế quy định và cuộc đấu tranh giai
cấp giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp t sản, cũng nh cuộc đấu
tranh giữa giai cấp t sản và giai cấp vô sản, thì trớc hết, vấn đề là ở những lợi
ích kinh tế. Chính mâu thuẫn trong kinh tế phản ánh qua mâu thuẫn giữa các
giai cấp. Mâu thuẫn đó tất yếu sẽ dẫn đến phải phá gông xiềng cho lực lợng
sản xuất bằng cách thay đổi phơng thức sản xuất mới. Từ những phân tích
trên, Ăngghen đi đến kết luận: Tất cả các cuộc đấu tranh chính trị đều là đấu
tranh giai cấp và tất cả các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, dù hình thức
chính trị tất yếu của chúng là thế nào đi nữa- vì bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp
nào cũng đều là đấu tranh chính trị- xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề giải
phóng về kinh tế32.
Nh vậy, trong quá trình nghiên cứu lịch sử Mác và Ăngghen đã không
phủ nhận mà đánh giá cao vai trò của các nhà triết học trớc đó mà tiêu biểu là
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr 438- tr 439.
Triết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr183.
29,30 Triết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr184.
27
28
30
31
chất siêu hình, nó chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của giai cấp
phong kiến. Chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó đợc xây dựng trên cơ sở khoa
học hiện đại và thực tiễn của thời đại.
Nh vậy, các t tởng triết học ở giai đoạn sau bao giờ nó cũng đợc chọn lọc,
sửa chữa lại, lý giải lại và phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử mới và theo
tinh thần mà nó đại biểu về t tởng. Đây chính là sự phủ định biện chứng, bao
gồm duy trì những giá trị tiềm thế và cải tạo có phê phán những thành tựu t tởng có giá trị, nghĩa là sự kế thừa biện chứng trên con đờng phát triển của lịch
sử t tởng triết học.
Sáu là, sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phụ thuộc vào sự
liên hệ, ảnh hởng, kế thừa, kết hợp giữa các học thuyết triết học trong mối
quan hệ dân tộc và quốc tế.
T tởng triết học nhân loại không phải là tổng số đơn thuần của các hệ
thống triết học hình thành trong từng nớc riêng lẻ, tách rời, độc lập với nhau.
Những học thuyết triết học phát sinh và phát triển ở mỗi nớc, bằng các phơng
thức khác nhau, đều nằm trong mối quan hệ lẫn nhau nhất định với những học
thuyết triết học ở các nớc khác, vừa chịu ảnh hởng, vừa tác động trở lại các
học thuyết triết học khác. Đây chính là tính quy luật về sự giao lu cùng loại,
cùng thời đại lịch sử của các t tởng triết học khác nhau ở các vùng, miền, các
quốc gia, dân tộc khác nhau.
33
Lịch sử triết học, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003, tr 216.
14
Sự phát triển t tởng triết học là kết quả của sự thống nhất và liên hệ lẫn
nhau giữa các t tởng triết học trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế.
Ăngghen đã phân tích sự hình thành các tôn giáo và khi xem xét tôn giáo
phát triển từ tôn giáo dân tộc thành tôn giáo thế giới, đạo Cơ đốc phát triển từ
quyền: t tởng triết học trở thành cơ sở lý luận của hệ t tởng chính trị, nhà nớc
pháp quyền, và ngợc lại hệ t tởng chính trị, nhà nớc pháp quyền có cho phép
hoặc không cho phép triết học nào đó tồn tại hay không tồn tại khi nó có lợi
hay không có lợi cho hệ t tởng, nhà nớc pháp quyền đó. Ăngghen đã xem xét
mối quan hệ với cơ sở kinh tế của một số yếu tố của kiến trúc thợng tầng nh
nhà nớc và pháp luật, chính trị và hệ t tởng chính trị, triết học và tôn giáo. Khi
xem xét mối quan hệ giữa nhà nớc và xã hội công dân, Ăngghen khẳng định
nhà nớc là yếu tố tuỳ thuộc, còn xã hội công dân, tức là lĩnh vực của những
quan hệ kinh tế, là yếu tố quyết định35.
Nếu nh nhà nớc và công pháp là do các quan hệ kinh tế quyết định thì t
pháp cũng thế, vì t pháp, theo Ăngghen, về thực chất, chỉ xác nhận những
quan hệ kinh tế hiện có và nếu quy tắc pháp luật t sản chỉ là sự biểu hiện, dới
34
35
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr 449.
Triết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr186.
15
hình thức pháp lý, của những điều kiện sinh hoạt kinh tế của xã hội, thì điều
đó có thể diễn ra tốt hay xấu tuỳ theo hoàn cảnh 36. Vấn đề chính trị và hệ t tởng chính trị cũng vậy, nhng dờng nh trong thực tế ý thức về mối liên hệ giữa
chính trị và hệ chính trị với cơ sở kinh tế bị mờ dần đi và thậm chí có thể hoàn
toàn biến mất. Còn những hệ t tởng cao hơn, xa hơn cơ sở kinh tế nh triết học
và tôn giáo, thì do những khâu trung gian mà mối liên hệ đó bị lãng quên.
Song dù sao, theo Ăngghen, mối quan hệ đó vẫn tồn tại và những t tởng triết
học từ thế kỷ XV trở đi qua triết học Pháp, triết học Anh và đến triết học của
Hêghen đều phản ánh sự phát triển của giai cấp t sản.
Mặt khác, nhờ sự giao lu đồng loại và khác loại mà một dân tộc có thể
thế giới mà vấn đề là cải tạo thế giới: Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế
giới bằng nhiều cách khác nhau; vấn đề là cải tạo thế giới38.
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr 443.
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1994, tập 20, tr 489.
38 C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tâp 3, tr 12.
36
37
16
Lịch sử triết học là lịch sử phát triển t duy của nhân loại dới hình thức lý
luận triết học, giúp ta nắm đợc kinh nghiệm của sự nhận thức khoa học, sự
hình thành và phát triển của phơng pháp nhận thức khoa học trong lịch sử. Do
vậy, nghiên cứu lịch sử triết học giúp ta xây dựng phơng pháp nhận thức khoa
học, phơng pháp t duy đúng đắn, rèn luyện năng lực t duy độc lập, phê phán,
biết tranh luận, tự tranh luận, kế thừa, lọc bỏ, phát triển nhận thức khoa học;
giúp ta xây dựng thế giới quan, phơng pháp luận khoa học, thoát khỏi ảnh hởng tự phát của quan điểm duy tâm, siêu hình phiến diện.
Hai là, nghiên cứu lịch sử triết học, giúp chúng ta hiểu rõ tính chất đúng
đắn, tiến bộ của thế giới quan duy vật, trang bị cho ta vũ khí sắc bén trong
cuộc đấu tranh t tởng lý luận hiện nay, đồng thời khắc phục tính chất hạn chế,
sai lầm của thế giới quan duy tâm trên cơ sở khoa học. Lịch sử phép biện
chứng từ lúc khởi thuỷ cho đến nay là lịch sử đấu tranh, tìm tòi chân lý, phát
triển nhận thức khoa học. Bởi vì, sản xuất vận động trong điều kiện thống trị
của một giai cấp nhất định, biểu hiện trong hình thức nhà nớc, vì vậy bất cứ
cuộc đấu tranh cách mạng nào cũng nhằm chống lại giai cấp thống trị cũ. Mác
viết: Những điều kiện trong đó những lực lợng sản xuất nhất định có thể đợc
sử dụng, là những điều kiện thống trị của một giai cấp nhất định trong xã hội,
giai cấp quyền lực của nó- quyền lực do sở hữu của nó mang lại,- thờng có sự
biểu hiện duy tâm- thực tiễn dới hình thức nhà nớc riêng của mỗi thời kỳ, và vì
công nhân nói riêng. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ngày nay càng
chứng tỏ sự cần thiết phải có t duy biện chứng duy vật và ngợc lại, chỉ có dựa
trên những thành tựu của khoa học hiện đại để phát triển thì triết học Mác mới
không ngừng nâng cao đợc sức mạnh cải tạo thế giới của mình. Mác chỉ rõ:
Giống nh triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp
vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình42.
Đấu tranh không khoan nhợng với chủ nghĩa duy tâm, xét lại đang xuyên
tạc chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh kể cả trong nhận thức cũng nh
trong hành động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lực lợng vũ trang hiện nay, đồng thời bám sát cuộc sống, tổng kết kinh nghiệm
phát triển lý luận phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đó là nhiệm vụ của những
ngời cộng sản hiện nay. Kẻ thù đang tìm cách tuyên truyền xuyên tạc chống
lại Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta hiện nay, bóp méo chủ nghĩa Mác chúng
đang rêu rao về giải phóng, phát triển toàn diện, dân chủ, nhân quyền con ngời phi giai cấp, đó chỉ là con ngời tộc loại, con ngời toàn thể, một cách chung
chung...mục đích nhằm che đậy đấu tranh giai cấp mà thôi; điều chỉnh quan
hệ sản xuất, các hình thức sở hữu v.v.nhng tự bản thân chủ nghĩa t bản không
thể vợt qua chính nó. Đòi hỏi các Đảng ta và các lực lợng vũ trang nhân dân,
cũng nh toàn thể giai cấp công nhân Việt Nam cần hết sức cảnh giác và đấu
tranh không khoan nhợng với mu đồ đó. Đồng thời kiên quyết phê phán các
trào lu t tởng lợi dụng chủ nghĩa duy tâm bóp méo vai trò con ngời trong nền
sản xuất vật chất. Đó là thái độ đúng đắn của những ngời cộng sản. Đó cũng
là thể hiện công khai tính đảng của triết học, biến triết học của mình thành vũ
khí tinh thần của giai cấp vô sản. Do gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách
mạng của giai cấp vô sản, triết học Mác trở thành hạt nhân lý luận khoa học
cho thế giới quan cộng sản của giai cấp công nhân, là điều kiện tiên quyết để
giai cấp công nhân thực hiện đợc sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình. Trong lực lợng vũ trang, với lập trờng nhất nguyên duy vật và phơng pháp biện chứng
cách mạng, phải nắm chắc học thuyết quân sự vô sản giải quyết một cách
đúng đắn, khoa học các vấn đề về tính chất xã hội của chiến tranh; về nguồn
gốc, bản chất của chiến tranh, của quân đội; giải quyết mối liên hệ nội tại và
sự phụ thuộc tất yếu của chiến tranh, của quân đội vào chính trị, vào cơ sở
khẳng định bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh.
Ba là, nghiên cứu lịch sử triết học cho thấy, chỉ có triết học nào gắn liền
mật thiết với cuộc sống, với thực tiễn mới giúp con ngời tìm ra chân lý khách
quan, giải thích đúng đắn thế giới và cải biến có hiệu quả thế giới hiện thực vì
cuộc sống con ngời thì triết học đó có sức sống trờng tồn. Triết học MácLênin có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống xã hội. Sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, đã trở thành
nguồn động lực to lớn thúc đẩy cả lý luận và thực tiễn cách mạng của giai cấp
công nhân phát triển. Nhận thấy khoa học là động lực lịch sử nó trở thành một
lực lợng cách mạng; khoa học đích thực là giải phóng con ngời, phục vụ lợi
ích con ngời, do đó thông qua khoa học, nhất là khoa học tự nhiên để rút ra
các kết luận mới chính là làm tăng sức mạnh chiến đấu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng. Qua nghiên cứu lịch sử triết học cho chúng ta thấy lý luận của chủ
nghĩa Mác- Lênin là nhân đạo cao cả vì theo Mác chỉ ra lý luận của các ông là
nhằm giải phóng con ngời. Con ngời ở đây là con ngời hiện thực; lý luận của
các ông không phải không dựa trên một tiền đề nào khác, mà là tiền đề của
việc nghiên cứu con ngời- con ngời hiện thực, con ngời sản xuất vật chất. Đó
là những tiền đề hiện thực, là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và
những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn
cũng nh những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra. Đây chính là điểm
khác nhau căn bản giữa quan điểm của Mác với tất cả những quan điểm trớc
đó về con ngời. Con ngời ở Bauơ và Stuyếcnơ, đợc xem xét nh một thực thể
tinh thần. Con ngời ở Phoiơbắc, đợc xem xét một cách cụ thể, bằng xơng,
bằng thịt, con ngời tộc loại, mang nặng tình cảm, tình yêu, đạo đức họ đã
không thể giải thích đợc vì sao ở mỗi thời đại khác nhau lại có những con ngời
khác nhau. Con ngời của họ là con ngời bất biến, trừu tợng, phi lịch sử tách rời
hoạt động xã hội và hoạt động sản xuất vật chất.. Nhng do thiếu một quan
điểm thực tiễn, nên chủ nghĩa triết học nhân bản của Phoiơbắc mang tính chất
trực quan. Do đó, trong cuộc sống ông không hiểu đợc bản chất của con ngời,
dừng lại ở con ngời chung chung trừu tợng, phi lịch sử không gắn với sản xuất
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã
hội45. Các quan hệ xã hội luôn là cái đợc xác định và vận động biến đổi
không ngừng, điều đó cho thấy, bản chất của con ngời cũng là cái cụ thể và luôn
vận động, phát triển; con ngời tạo ra hoàn cảnh nh thế nào thì hoàn cảnh cũng tạo
ra con ngời nh thế ấy- con ngời và hoàn cảnh gắn chặt với nhau, con ngời không
thể tách rời hoàn cảnh- hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội...Do đó, những cá
nhân là nh thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản
xuất của họ. Tất nhiên cũng cần phải thấy rằng, lối sống của cá nhân là kết
quả tổng hợp của nhiều yếu tố: sản xuất vật chất; điều kiện sống nh thế nào;
truyền thống của mỗi dân tộc; nền giáo dục xã hội; thể chất của mỗi cá nhân.
v.v. trong đó sản xuất vật chất là yếu tố xét đến cùng quyết định. Mác đã
khẳng định: Con ngời tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo
ra con ngời đến mức ấy46.
Mong muốn xây dựng một xã hội mà ở đó không có ngời bóc lột ngời,
con ngời đợc giải phóng và đợc phát triển toàn diện là mong muốn của các
nhà t tởng trớc Mác. Song những mong muốn đó không trở thành hiện thực vì
nó không đi vào nghiên cứu xã hội cụ thể, con ngời cụ thể, thiếu đờng lối, phơng pháp cách mạng...do đó nó chỉ là khẩu hiệu chung chung và rơi vào chủ
nghĩa xã hội không tởng mà thôi. Chủ nghĩa xã hội mở đầu là Cách mạng
Tháng mời Nga (năm 1917) đã đánh dấu một bớc ngoặt lịch sử nó đã trở thành
chủ nghĩa xã hội hiện thực- phong trào cách mạng hiện thực, nó đã phát động
đợc giai cấp công nhân và quần chúng cách mạng dới sự lãnh đảo của đảng
cộng sản- đội tiền phong của giai cấp công nhân- lãnh tụ của phong trào đứng
lên làm cách mạng và đã giành đợc thắng lợi và đã trở thành một hệ thống xã
hội chủ nghĩa đối trọng với chủ nghĩa t bản. Đó là bằng chứng đầy sức thuyết
phục cả về lý luận và thực tiễn- khẳng định tính chân lý, tính hiện thực sức
sống mãnh liệt và chủ nghĩa nhân đạo cao cả của chủ nghĩa Mác- Lênin nói
chung và triết học Mác nói riêng.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập 3, tr10.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập 3, tr 11.
46 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 55.
cảnh cụ thể. Ăngghen viết: Lý luận của chúng tôi không phải là một giáo
điều, mà là sự giải thích quá trình phát triển, quá trình này bao hàm trong bản
thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếp nhau 47. Lênin ngời học trò xuất sắc
của Mác và Ăngghen đã chỉ ra rằng: Chúng ta không hề coi lý luận của Mác
nh là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin
rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những ngời xã hội
chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở
thành lạc hậu đối với cuộc sống48.
Năm là, nghiên cứu lịch sử triết học cho thấy tính tất yếu của cuộc đấu
tranh với các quan điểm sai lầm, phản động, cơ hội, xét lại... nhằm bảo vệ và
phát triển triết học mác xít hiện nay. Hiện nay chủ nghĩa xã hội đang lâm vào
khủng hoảng, thoái trào, điều đó không phải do lý luận Mác sụp đổ mà là sự
khủng hoảng, sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa cụ thể- có tính chất
giáo điều, điều đó cũng có nghĩa là các nhà cộng sản cha nắm bắt kịp thời
thực tiễn cuộc sống xã hội đang vận động- sự phát triển của khoa học công
nghệ, sự bùng nổ thông tin...để khái quát, phát triển lý luận, làm cơ sở định hớng và cải tạo thế giới theo đúng tính thần của Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ
huấn: Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần
phải sáng tạo ra, không phải là một lý tởng mà hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, xoá bỏ trạng
47
48
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, t 36, tr 785.
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 4, tr 232.
21
thái hiện nay49. Tuy nhiên một số Đảng cộng sản và phong trào công nhân
quốc tế vẫn kiên định đờng lối lấy lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng,
và Ăngghen biến triết học của mình thành vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản.
Do gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, triết
học Mác đã trở thành hạt nhân lý luận khoa học cho thế giới quan cộng sản
của giai cấp công nhân. Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong
triết học Mác là sự thống nhất hữu cơ với nhau. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bớc chuyển
biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác- một điều kiện tiên
quyết để giai cấp công nhân thực hiện đợc sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình.
Hiện nay các thế lực thù địch đã và đang chống phá cách mạng nớc ta hết
sức tinh vi và quyết liệt, nhất là trên mặt trận lý luận t tởng. Chúng sử dụng
chiến lợc diễn biến hoà bình chống phá ta về đờng lối chủ trơng chính sách
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 3, tr 51.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập 3, tr 65.
51V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 1980, T.18, tr 445.
52V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 1981, T.29, tr 282- tr285.
49
50
22
của Đảng, tiến tới phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, đặc biệt là triết học Mác.
Vì vậy cuộc đấu tranh chống chiến lợc diễn biến hoà bình diễn ra rất quyết
liệt, phức tạp và lâu dài, đòi hỏi phải linh hoạt, khôn khéo...lấy cái tích cực
đẩy lùi cái tiêu cực trong đời sống xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc, phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính
trị, không đợc để kẻ địch lợi dụng. Thực hiện mục tiêu đa nớc ta thoát khỏi
khủng hoảng, xây dựng xã hội dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh; quốc phòng, an ninh đợc giữ vững, thợng sách là không để
xảy ra chiến tranh. Vì vậy đội ngũ các nhà khoa học đặc biệt là khoa học xã