luận án tốt nghiệp lãnh đạo quản lý văn hóa văn nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Khái quát chung về luận án
Vận dụng mĩ học Mác-Lênin để nghiên cứu vấn đề của luận án, chúng tôi xuất phát từ
những căn cứ sau:
Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng mỹ học MácLênin luôn khẳng định sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với lĩnh vực văn hoá văn nghệ.
Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay công khai thừa nhận sự lãnh đạo của mình đối
với văn hoá văn nghệ, đồng thời tìm mọi cách phát huy tự do sáng tạo nghệ thuật, bằng nhiều
biện pháp nâng cao trình độ thẩm mỹ và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân.
Để phát huy mọi khả năng sáng tạo nghệ thuật, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính tích
cực của chủ thể thẩm mỹ, có thể hướng hoạt động văn hoá văn nghệ tới những gì tốt đẹp nhất,
Đảng phải nắm vững những đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật, xử lý đúng đắn mối quan hệ đặc
thù của chủ thể thẩm mĩ và khách thể thẩm mĩ, phải vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm mỹ học
Mác- Lênin. Có như vậy thì mục tiêu về xây dựng một nền văn hoá tiến bộ mới được thực hiện
trên thực tế, là khi đất nước đã chuyển sang giai đoạn mới có sự tác động của kinh tế thị trường.
Đây là một trong những vấn đề quan trọng của quá trình đổi mới ở nước ta mà nhiều văn
kiện của Đảng từng đề cập đến.
Theo tinh thần đó, luận án vận dụng những quan điểm mỹ học Mác-lênin, nguyên lý Đảng, tính
giai cấp để nghiên cứu vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với văn
hoá văn nghệ không chỉ như một phạm trù lý luận thuần tuý mà còn là một phạm trù thực tiễn
trong công cuộc xây dựng nền văn hoá mới ở nước ta hiện nay. Theo nhận thức của chúng tôi,
nếu mở rộng đối tượng của mỹ học Mác-Lênin, cần quan tâm cả vấn đề lãnh đạo và quản lý văn
hoá văn nghệ; những người nghiên cứu mĩ học Mác-Lênin cần tham gia giải quyết vấn đề về sự
lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực của cái đẹp, lĩnh vực có tính đặc
thù này.
2. Lý do chọn đề tài:
Để nâng cao chất lượng sống, cần quan tâm không chỉ đến lĩnh vực sản xuất vật chất mà
còn phải quan tâm thích đáng đến lĩnh vực sản xuất tinh thần. Làm cho văn hoá văn nghệ phát
triển sẽ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Bởi trong đời sống con
người, văn hoá văn nghệ là nhu cầu không thể thiếu. Xã hội càng tiến lên, nhu cầu văn hoá của
con người càng phát triển.
Từ ngày có Đảng và sau đó, từ khi có chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi

Câu hỏi chung nhất ở đây là làm thế nào để lãnh đạo và quản lý văn hoá văn nghệ nước
nhà trong điều kiện kinh tế thị trường để văn hoá văn nghệ vẫn thực hiện được sứ mạng cao cả
là bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người Việt Nam ?
cần tìm câu trả lời để có phần xây dựng những căn cứ khoa học cho việc đề ra những giải pháp
của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng vền văn hoá Việt Nam dân tộc, hiện đại, nhân văn.
Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài này. Nghiên cứu vấn đề lãnh đạo và quản lý văn hoá văn
nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mang ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cấp thiết.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài:


Từ nhiều năm nay, vấn đề Đảng lãnh đạo văn hoá văn nghệ được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm. Riêng trong những năm từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, nhiều công
trình ra đời để tìm tòi phương pháp thúc đẩy văn hoá văn nghệ phát triển trong quá trình đổi mới
của đất nước. Đó là các công trình "phấn đấu sáng tạo theo đường lối văn nghệ của Đảng" của
các tác giả Hoàng Trinh, Hà Minh Đức, Lê Bá Hán và Vũ Đức Phúc (1986), "văn hoá văn nghệ
dưới ánh sáng Đại hội VI của Đảng" của Trần độ (1987) "Một số vấn đề trong công tác quản lý
văn hoá nghệ thuật hiện nay" (1990) và "5 năm văn hoá văn nghệ đổi mới" (1986-1990) (1991)
do Từ Sơn chủ biên, "Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới" do Hà Minh Đức chủ
biên (1991), v.v...
Những công trình đó chủ yếu đề cập đến những vấn đề về đường lối văn hoá văn nghệ,
về sự lãnh đạo của Đảng và một phần nào về sự quản lý của Nhà nước theo tinh thần Đại hội V
các sách trên chưa nghiên cứu sâu vấn đề lãnh đạo và quản lý văn hoá văn nghệ trong điều kiện
kinh tế thị trường .
Gần đây, ở một số hội thảo khoa học, trên một số báo và tạp chí, vấn đề lãnh đạo và quản
lý văn hoá văn nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường được bàn luận. Ở những mức độ và với
những góc độ khác nhau, sự bàn luận ngày một sôi nổi hơn. Nhưng theo tài liệu đã công bố mà
chúng tôi tiếp cận được thì chưa có tài liệu nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề lãnh đạo và quản lý
văn hoá văn nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường.
Cuốn "Văn hoá xã hội chủ nghĩa" của Khoa Văn hoá xã hội chủ nghĩa Học viện Nguyễn ái

về khoa học của luận án:
a) Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là sự hoạt động, là tác động qua lại giữa
tác giả - tác phẩm - công chúng dưới sự tác động có định hướng lãnh đạo và quản lý.
Sự vận động và các mối liên hệ này khá phức tạp và có phần trừu tượng. Do đó, chúng tôi
phải dựa vào cái "thực thể hoá", "vật chất hoá" của sự vận động và các mối quan hệ nói trên. Đó
là:
- Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hoá văn nghệ;
- Thực tiễn sáng tác và lưu hành sản phẩm văn hoá văn nghệ;
- Sự tiếp nhận của công chúng.
Nhưng dù nghiên cứu sản phẩm văn hoá văn nghệ, công chúng đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước, thì đối tượng nghiên cứu của luận án vẫn là mối quan hệ qua lại giữa
chúng chứ không phải bản thân chúng.
b) Nguồn tài liệu:
Nguồn tài liệu mà chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu là:
- Các tài liệu, văn bản Nghị quyết, quyết nghị của Đảng và Nhà nước liên quan đến văn
hoá văn nghệ;
- Các tài liệu khảo sát thực tế;


- Báo cáo tổng kết chuyên ngành;
- Báo, tạp chí của trung ương và một số địa phương;
- Những công trình khoa học có liên quan;
- Tiếp xúc với cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hoá văn nghệ ở trung ương và địa phương,
nhà nghiên cứu văn hoá, và nghệ sĩ...
c) Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ quan điểm hệ thống, lịch sử và phát triển của phương pháp luận triết học
Mác- Lênin để nghiên cứu thực tiễn, luận án đã khảo sát, miêu tả đối tượng theo phương pháp
lịch sử và lô gíc.
Do nội dung của luận án có liên quan đến nhiều lĩnh vực và quan hệ giữa các lĩnh vực đó

I. Đòi hỏi khách quan về sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ.
Ngay từ khi xã hội loài người chưa phân chia giai cấp, chưa biết đến đảng phái chính trị thì
đã có văn hoá. Văn hoá tồn tại như một phương thức để con người nhận thức, duy trì và phát
triển cuộc sống của mình. Văn hoá phát triển do con người, vì con người. Văn hoá trường tồn
cùng nhân loại.
Lịch sử cho thấy rằng, bất cứ lực lượng xã hội - chính trị nào muốn tác động tích cực vào
quá trình phát triển đều phải nắm lấy văn hoá. Khi xã hội có những chuyển biến lớn lao thì lực
lượng tiên phong lại càng coi trọng vai trò của văn hoá. Các chính đảng có sứ mệnh lãnh đạo xã
hội xưa nay đều sử dụng văn hoá văn nghệ như là một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh giai
cấp trên mặt trận tư tưởng. Dù công khai hay che giấu việc sử dụng văn hoá văn nghệ như là lợi
khí đều được các lực lượng chính trị sử dụng một cách có ý thức, có tổ chức.
Điều này có căn rễ sâu xa từ bản chất và chức năng của văn hoá văn nghệ : trong xã hội
có giai cấp, văn hoá văn nghệ tất có tính giai cấp. Văn hoá văn nghệ không phụ thuộc vào chính
trị của giai cấp này sẽ phụ thuộc vào chính trị của giai cấp khác.
Lịch sử cũng cho ta kinh nghiệm: giao lưu văn hoá giữa các nước là con đường tốt nhất để
tăng cường hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị giữa các dân tộc, làm phong phú lẫn
nhau giữa các nền văn hoá. Ngược lại, kẻ xâm lược cũng có thể thực hiện các cuộc xâm lăng
bắt đầu từ văn hoá.
Trong suốt nghìn năm đô hộ nước ta, phong kiến phương Bắc một mặt tìm cách tiêu huỷ
văn hoá Việt Nam (bằng cách đốt sách, đục bia, phá hoại các định hướng xã hội chủ nghĩa tích
lịch sử, nghệ thuật...), mặt khác tìm cách áp đặt văn hoá Trung Hoa vào nước ta trên nhiều lĩnh
vực (tổ chức xã hội, phong tục tập quán..), nhằm "đem thi thư để biến tục nước, lấy lễ nhạc để
sửa lòng người"; nhằm đồng hoá cả con người và nền văn hoá Việt Nam.
Thực dân Pháp khi xâm lược nước ta đã truyền bá văn hoá Pháp sang Việt Nam nhằm
gây ảnh hưởng về tinh thần, nắm lấy trí thức và thanh niên; lợi dụng phong tục, tập quán lạc hậu
ở nước ta để áp bức, bóc lột, kìm hãm bước tiến của nhân dân ta.
Nhảy vào Đông Dương, phát xít Nhật cũng lợi dụng văn hoá để tuyên truyền chủ nghĩa Đại
Đông Á, lôi kéo trí thức, văn nghệ sĩ nước ta phục Nhật, theo Nhật, sử dụng mọi phương tiện văn
hoá để phục vụ cho chế độ thống trị của chúng.


học sâu sắc về nhận thức và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, và cảnh giác cách mạng
trước những thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội. Còn chủ nghĩa đế quốc, đương nhiên đã có
thể bổ sung những kinh nghiệm chiến lược "diễn biến hoà bình" , tiếp tục tấn công vào các nước
xã hội chủ nghĩa còn lại.
Các trung tâm phá hoại tư tưởng từ các đế quốc vẫn sử dụng hàng trăm tờ báo, tạp chí,
đưa vào nước ta hàng chục ngàn ấn phẩm có nội dung chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội lại


việc truyền bá những sản phẩm văn hoá để bảo vệ những gì là nhân bản, nhân văn, giữ gìn bản
sắc văn hoá dân tộc của mình . Ở Xy Ry, Bộ văn hoá đã cấm quảng cáo không mang tính văn
hoá, tuyên truyền cho bạo lực, tình dục. Ở Xrilanca, bộ văn hoá cấm sản xuất hoặc nhập các
phim ảnh, băng hình có nội dung kích động tình dục, bạo lực. Trên đất nước này, người ta đã
hiểu rằng nhiều vụ án hình sử xảy ra mà nguyên nhân chính là do những sản phẩm phi văn hoá.
Ở Philipin, thị trưởng thành phố Maiia (A.Lin) cùng cựu tổng thống Philoppin (C.Aquinô) và
tổng giám mục nhà thời Thiên Chúa giáo (J.Sin) đã châm lửa đốt hàng nghìn cuốn sách tạp chí,
băng nhạc, băng hình có nội dung phản văn hoá.
Nhật Bản và Singapo tẩy chay cuốn sách "Sex" của Mađôn là cuốn sách bán chạy nhất
trong năm 1922 ở Mỹ. Theo luật kiểm duyệt, Singapo còn cấm lưu hành nhạc khiêu dâm Mỹ,
cấm Anbum nhạc "U se your LLLusion 2" vì lời nhạc có tính chất buông thả và khêu gợi nhục
dục; các ca sĩ còn bị cấm hát bài "Erotica" là bài "tủ" của Madona vì có nội dung kích động tình
dục.

Ở Nam Triều Tiên một hãng truyền hình (SBS) bị cảnh cáo vì đã đưa lên màn hình những
phim dâm loạn, bị xem là "phá họai nền văn hoá lâu đời của dân tộc".
Ở Gioocdani, toàn thánh thành phố Amman xử tù 6 tháng một chủ hiệu vi phạm các qui
định của Bộ văn hoá và Bộ Tôn giáo vì cho thuê 6 băng hình có nội dung kích thích tình dục và
khuyến khích sử dụng ma tuý không phù hợp với nền văn hoá của các dân tộc theo đạo hồi.
Ở Đài Loan, Hồng Kông, hiệp hội phụ huynh và khán giả truyền hình phản đối việc đưa lên
màn ảnh quá nhiều phim tình dục và cách xử sự giữa con người bằng đao, kiếm và súng đạn
trong chương trình hàng ngày, gây ra nguy cơ kích thích thanh niên áp dụng trong đời thường,

kiểm chế của hệ tư tưởng thống trị của chủ nghĩa thực, đưa văn nghệ trở về bản chất và lẽ sống
của nó. Bởi "dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. văn nghệ muốn tự do thì phải tham
gia cách mạng" (7, tr.63).
Khi chưa biết cách mạng, chưa hiểu cách mạng, nhiều nghệ sĩ có tài, yêu nước mà vẫn
không biết làm gì hơn là giấu mình trong những dòng thơ buồn khổ, với nỗi đau siêu hình. Chỉ
sau quá trình đi theo cách mạng, sống cuộc sống chiến đấu của nhân dân, những nhà thơ, nhà
văn ấy mới đi từ "chân trời của một người đến chân trời tất cả", tìm lại được niềm vui chân chính
trong sáng tạo; tìm thấy sự thống nhất giữa trách nhiệm trước cuộc đời với mong ước của bản
thân.
Trước Cách mạng 1945, Chế Lan Viên đã bỏ không làm thơ văn, chán, nhà thơ lần lượt
yêu Kinh Thánh, Phật nhưng vẫn không tìm ra lối thoát. Có cách mạng, anh tham gia vào cuộc
sống dân tộc, anh vui lại và làm thơ lại. "Chính nhờ chính trị mà làm thơ lại. Và khi đã làm thơ thì
không phải chỉ làm thơ chính trị mà cả thơ tình"(41). Chính Cách mạng, chính Bác Hồ - người
chủ trương đưa chính trị vào văn nghệ- đã thay đổi đời anh, thay đổi thơ anh.
Ngày nay xã hội vận động theo hướng dân chủ hoá, thực tiễn cuộc sống vô cùng đa dạng
và phức tạp; bối cảnh quốc tế diễn biến đan xen hợp tác và đấu tranh, cái đúng - cái sai, cái tốt cái xấu, cái thật - cái giả dễ lẫn lộn thì một sự tỉnh táo chính trị là hết sức cần thiết.
Nghệ sĩ sáng tác theo quy luật riêng của tình cảm. Tình cảm đó được hình thành từ một
trạng thái xúc động trước cuộc đời. Tình cảm ấy mang rõ dấu ấn cá nhân, sắc thái cá nhân đồng
thời mang nội dung xã hội cụ thể. Nó cần được định hướng về tư tưởng. "Viết văn là sự giải


thoát nỗi thắc mắc, ấp ủ bên trong. Hoặc ghi nhận, lý giải những gì mình đã cảm nhận ở ngoài.
Lại có khi diễn tả ra bằng lời tất cả những hình ảnh mà ý thức đã ghi lại. Cũng có khi khối óc bị
kích thích đến tột cùng hoặc những xúc động sâu xa bỗng nhiên bắt buộc cầm bút - cây bút hoá
thành vật có linh hồn... Người viết văn phải hiểu biết chính trị. Nếu không hiểu chính trị, bản thân
người viết cũng lầm lạc. Song ngược lại, người làm chính trị có văn hoá, phải hiểu biết văn
chương"(117).
Cũng có ý kiến, quan điểm cho rằng văn nghệ không cần có sự lãnh đạo hoặc phủ nhận
mối quan hệ tất yếu giữa chính trị và văn nghệ. Quan niệm này không có chỗ đứng trong thực tế
hiện nay. Về điều này, một nhà thơ đã viết: "Bản thân văn nghệ nhìn từ bất cứ góc độ nào cũng

những quan niệm và thước đo của chính nó. Lãnh đạo, định hướng cho sự phát triển và tiếp
nhận văn hoá chính là để đảm bảo cho văn hoá, cho mọi thành tố cấu thành của nó, trong đó có
bộ phận đặc biệt nhạy cảm là văn hoá nghệ thuật phát triển phù hợp với truyền thống dân tộc,
phát huy được bản sắc dân tộc, Nếu bản sắc dân tộc là một quá trình thường xuyên tự ý thức, tự
khám phá và tái tạo; nếu truyền thống của một dân tộc luôn luôn là sự bảo tồn và chắt lọc, kế
thừa và phát triển, giữ gìn và tiếp biên thông qua hiện tại, thì sự lãnh đạo, định hướng là cần thiết
để qua đó bản sắc truyền thống không chỉ là sự vận động theo quán tính mà còn là sự vận động
được con người nhận thức và thúc đẩy.
Ngày nay, trong quá trình cơ cấu kinh tế - xã hội các nước đều xem xét lại để điều chỉnh
những nguyên tắc chỉ đạo trong các chính sách văn hoá nhằm tìm ra cơ chế quản lý hiệu quả
nhất.
Ở Việt Nam, văn hoá ngày càng có vai trò quan trọng góp phần vào việc định hình nội dung
sống của con người và xã hội. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ IV khoá
VII (14-1-1993) khẳng định: "Nhiệm vụ trọng tâm của văn hoá văn nghệ nước ta là góp phần xây
dựng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp,
có bản lĩnh vững vàng ngang tầm sự nghiệp đổi mới vì dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh
(19, tr.53). Đảng đang đổi mới và văn hoá văn nghệ cũng đang và cần tiếp tục đổi mới theo
hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Là bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức văn hoá là tổng thể sống động
của các hoạt động sản xuất, hoạt động sáng tạo của con người, nó "có liên lạc với chính trị rất là
mật thiết" (7, tr.72). Điều đó làm cho cuộc cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng giữ độc lập quyền
lãnh đạo cách mạng, Đảng phải độc quyền lãnh đạo sự nghiệp văn hoá cách mạng. Kinh nghiệm
lịch sử của cách mạng nước ta và thực tế ở nhiều nước cho thấy: không có giai cấp nào nắm
được chính quyền lại muốn chia sẻ nó cho các giai cấp khác. Đảng phải chiếm lĩnh mặt trận văn
hoá. Nếu Đảng không nắm lấy mặt trận này thì ý thức tư sản sẽ chiếm lĩnh. Sự lãnh đạo của
Đảng là điều đảm bảo cho định hướng xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Điều này đòi hỏi Đảng có đường lối chính trị đúng và trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo (cũng
như quản lý) văn hoá văn nghệ tránh cái nhìn đồng nhất và vấn đề văn nghệ với các vấn đề
chính trị.

chiến kiến quốc là nhiệm vụ của văn hoá, vấn đề nhận thức sâu sắc hơn về quan điểm dân tộc,
khoa học, đại chúng trong Đề cương văn hoá trước yêu cầu mới, vấn đề học tập lý luận MácLênin để tạo bước chuyển căn bản trong thế giới quan và tâm hồn văn nghệ sĩ,.. (1) Chính trong
giai đoạn này, Hồ Chủ Tịch đã phát biểu luận điểm cơ bản của Đảng về văn hoá văn nghệ trong
bức thư Người gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ năm 1951: "Văn hoá nghệ thuật cũng là
một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy" (6, tr.349).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại, nửa nước được giải phóng, cách
mạng chuyển sang giai đoạn mới, nhân dân ta phải gánh vác hai nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và vĩ
đại: Chiến đấu chống một kẻ thù lớn mạnh và hung hãn là đế quốc Mỹ và chuẩn bị bắt tay xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên nửa nước.
Trong giai đoạn này, trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ đặt ra một số vấn đề mới và xuất hiện
những khó khăn nhất định. Đảng lại kịp thời đưa ra những giải đáp lý luận giúp quyết những vấn
đề tư tưởng và nghệ thuật (vấn đề Nhân văn, Giai phẩm, vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và
văn nghệ, về chủ nghĩa nhân đạo mới, về công tác lãnh đạo của Đảng với văn nghệ, vấn đề
miêu tả sự thật và phê bình xây dựng, v.v…
Những phương hướng sáng suốt và kịp thời của Đảng nêu ra trong thời kỳ này đã giúp văn
nghệ sĩ tránh được những sai lầm, vấp váp, xác định rõ nhiệm vụ của văn nghệ sĩ, lôi cuốn, cổ


vũ các nhà văn nghệ ở miền Bắc cũng như miền Nam "ra sức xây dựng một nền văn nghệ dân
tộc, phong phú, tích cực góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập
dân chủ và giàu mạnh (39, tr.199).
Tháng 6/1960, Đảng tiến hành Đại hội lần thứ III, "đại hội xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà" (16, tr.11). Đó là thời kỳ mà dân tộc đứng
trước những thử thách to lớn nhưng cũng tràn đầy niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Trong điều
kiện lịch sử đó, Đảng lại càng quan tâm hơn đến đời sống tinh thần của nhân dân. Báo cáo chính
trị tại Đại hội III khẳng định: "Chúng ta phải xây dựng một nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc
và nội dung xã hội chủ nghĩa phong phú. Văn nghệ phải có tính Đảng và tính nhân dân rõ rệt…
Phải không ngừng nâng cao tính tư tưởng và tính nghệ thuật của các tác phẩm văn nghệ, làm
cho các tác phẩm đó trở thành những vũ khí sắc bén trong việc xây dựng con người mới về tư
tưởng và tình cảm…" (16, tr.75) Tại Đại hội này, Đảng đặt vấn đề "trong sự nghiệp xây dựng nền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status