Nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà Nội - Pdf 37

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGUYÊN TẤT PHÚ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015


2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGUYÊN TẤT PHÚ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:


Nguyên nghĩa
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại
Khách hàng cá nhân
Tài sản đảm bảo
Ngân hàng bán lẻ
Công nghệ thông tin
Quản lý rủi ro tín dung


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng:

Biểu đồ:

Sơ đồ:


7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Cho vay KHCN là sản phẩm tín dụng xuất hiện từ lâu đời trên thế giới
và hiện nay đang phát triển rất mạnh nhất là ở các nước đang có tiềm lực về
kinh tế và cạnh tranh ngân hàng sôi động, nhưng mới phát triển 1 vài năm gần
đây ở Việt Nam. Trong xu hướng hội nhập quốc tế, các ngân hàng nước
ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng

là nhiệm vụ trọng tâm, có tính chiến lược lâu dài đảm bảo an toàn và hiệu quả
trong thời điểm hiện nay. Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ là vấn đề bức xúc và nhận được nhiều sự
quan tâm của Ban lãnh đạo Chi nhánh BIDV Bắc Hà Nội.
Xuất phát từ các nguyên nhân nêu trên, qua thời gian tìm hiểu và có cơ hội
tiếp cận nhu cầu vay vốn của các khách hàng cá nhân, tôi đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu là:“Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội,
luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động và hiệu quả hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
BIDV Bắc Hà Nội.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân tại BIDV Bắc Hà Nội.
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Hiệu quả hoạt động cho vay khách
hàng cá nhân tại BIDV Bắc Hà Nội


9

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: Luận văn nghiên cứu các vấn đề
về hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại BIDV Bắc Hà Nội trong giai
đoạn từ năm 2013 đến 2015.
2. Phương pháp nghiên cứu:

Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội


11

CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ
NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo từng quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế khác nhau đưa ra
nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại:
Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên
cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài
chính.
Tại Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp và cơ sở nào
thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác
các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay
dịch vụ tài chính. (theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941))
Tại Đan Mạch: Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký thác,
buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và hành nghề địa ốc, các phương
tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo
hiểm,….(theo luật ngân hàng của Đan Mạch 1930)
Tại Việt Nam, theo luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín
dụng, khái niệm về ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “Ngân
hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì
mục tiêu lợi nhuận”.

cần vay đầu tư phát triển sản xuất. Như vậy, ngân hàng thương mại đã đóng
vai trò trung gian về vốn trong xã hội và là trung gian thúc đẩy dòng vốn từ
trạng thái nhàn rỗi sang hoạt động đầu tư phát triển.


13

- Ngân hàng thương mại là trung gian về kỳ hạn vốn: Nguồn tiền nhàn
rỗi trong xã hội được ngân hàng thương mại tập hợp nhận gửi thông qua
nhiều kỳ hạn gửi (kỳ hạn gửi phụ thuộc thời gian nhàn rỗi) khác nhau. Bên
cạnh đó, nhu cầu đầu tư và thời gian vay của người vay cũng khác nhau phụ
thuộc thời gian của phương án kinh doanh và nguồn trả nợ nên để đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng, Ngân hàng sử dụng vốn huy động không kỳ
hạn để cho vay có kỳ hạn, dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung –
dài hạn. Ngân hàng thương mại đã tập hợp nhiều loại kỳ hạn của người gửi
khác nhau để thỏa mãn nhiều kỳ hạn vay của người vay khác nhau đã thể hiện
vai trò trung gian về mặt kỳ hạn của ngân hàng thương mại. Cơ chế chuyển
thời hạn như nêu trên dựa trên quy luật số lớn.
- Ngân hàng thương mại là trung gian về rủi ro: Tiền nhàn rỗi trong xã
hội gửi vào ngân hàng thương mại không kỳ hạn hay có kỳ hạn thì bất cứ lúc
nào người gửi cũng có thể đến ngân hàng để rút sử dụng và sẽ được nhận lại
tiền gốc và lãi đầy đủ (rất hiếm khi ngân hàng thương mại không thanh toán
đủ gốc và lãi). Điều đó khẳng định rủi ro của người gửi tiền vào ngân hàng là
rất thấp. Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại đem tiền cho khách hàng vay
theo một kỳ hạn vay nhất định, người vay có thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho
ngân hàng khi đến hạn hay không lại phụ thuộc vào khả năng trả nợ của người
đi vay (trên thực tế tồn tại một số người vay không thể thanh toán đầy đủ nợ
gốc và lãi). Trong mối quan hệ với người gửi tiền ngân hàng đảm bảo khả
năng thanh toán đầy đủ và với người vay ngân hàng gặp rủi ro ở một mức độ
nhất định. Như vậy, NHTM đã phát hành giấy nhận nợ có rủi ro thấp để cho

nhau và ngân hàng thương mại với ngân hàng Trung ương là mối quan hệ
ràng buộc chặt chẽ thể hiện qua các hoạt động thanh toán, vay mượn… lẫn
nhau. Do ngân hàng thương mại giữ vai trò rất quan trọng và có mối quan hệ
chặt chẽ với hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia, sự có mặt của một ngân
hàng trong hệ thống ngân hàng thương mại đòi hỏi các điều kiện hoạt động cụ


15

thể về vốn, tài sản, bộ máy quản lý, trình độ điều hành, sản phẩm dịch vụ, quy
trình vận hành nghiệp vụ…. Đây cũng là những điều kiện cần để ngân hàng
Trung ương cấp giấy phép hoạt động cho Ngân hàng thương mại.
c. Ngân hàng thương mại có các sản phẩm - dịch vụ đặc thù:
Khác với các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, ngân hàng thương mại
cung cấp các sản phẩm vô hình, chủ yếu là dịch vụ tài chính như: Các sản
phẩm liên quan đến hoạt động gửi tiền, các sản phẩm liên quan đến hoạt động
sử dụng vốn (cho vay, đầu tư, góp vốn, kinh doanh chứng khoán…) và cung
cấp các dịch vụ trung gian tài chính để thu phí như thanh toán, tư vấn, thu chi
hộ, quản lý hộ …
Các nhóm sản phẩm dịch về tài chính của các ngân hàng thương mại có
các đặc điểm là không có bản quyền, dễ thay đổi và hay bị bắt chước. Do vậy,
chiến lược kinh doanh của các ngân hàng thương mại là không thể dị biệt hóa
sản phẩm (như sản phẩm hàng hóa thông thường) mà phải là chính sách giá
(lãi suất), chất lượng dịch vụ và kênh phân phối (hệ thống chi nhánh và các
điểm giao dịch).
Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn xây dựng uy tín và hình ảnh của
mình trong xã hội. Đó là việc xây dựng hình ảnh tốt và uy tín cao trong xã
hội, hình ảnh và lòng tin của Ngân hàng thương mại được xây dựng và vun
đắp qua quá trình phát triển, thể hiện bằng vốn, quy mô hoạt động, mô hình tổ
chức, hiệu quả kinh doanh, kinh nghiệm điều hành, trình độ nghiệp vụ chuyên

trữ bắt buộc đảm bảo khả năng thanh khoản, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu,
tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn, điều kiện tín nhiệm,… Hàng
năm ngân hàng thương mại chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các tổ chức và cơ
quan chức năng như: Ban kiểm soát của Hội đồng quản trị, cơ quan kiểm toán
độc lập, cơ quan thanh tra giám sát của Ngân hàng Trung ương …
Như vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát của
03 chủ thể: Ngân hàng tự kiểm soát; kiểm soát bởi các cơ quan quản lý nhà


17

nước; kiểm soát bởi hiệp hội Ngân hàng. Ngay từ khi thành lập bằng các điều
kiện hoạt động và trong quá trình hoạt động vẫn tiếp tục chịu sự kiểm soát
chặt chẽ của các cơ quan chức năng nhằm phòng tránh, ngăn ngừa rủi ro đổ
vỡ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tiền tệ, đến nền kinh tế và kiểm soát
để khuyến nghị các ngân hàng hoạt động theo đúng chuẩn mực quy định.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Hoạt động của các ngân hàng thương mại rất đa dạng như hoạt động huy
động vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư, góp vốn, hoạt động thanh toán
quốc tế, mua cổ phần, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo
hiểm… Trong đó các hoạt động cơ bản bao gồm:
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Trước hết các NHTM phải có một số vốn chủ sở hữu làm tiền đề cho
hoạt động kinh doanh của mình. Số vốn này do các chủ sở hữu ngân hàng
đóng góp, hay từ các quỹ tạo ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng.Tuy
nhiên nguồn vốn chính của các NHTM là vốn huy động từ các tổ chức, cá
nhân trong nền kinh tế. Trước kia các ngân hàng chủ yếu là nhận tiền gửi từ
những người gửi tiền, ngày nay do sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, các
NHTM đã đưa ra rất nhiều hình thức khác để huy động vốn nhằm đảm bảo và
mở rộng hoạt động của mình.Ngân hàng tập chung được một số vốn lớn thông

hành và kinh doanh cùng chủ đầu tư.
1.1.2.3. Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Mặc dù mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của Ngân hàng là lợi
nhuận nhưng Ngân hàng thương mại vẫn cần có sự an toàn, tránh được các rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của mình. Do vậy, ngoài các nghiệp vụ chính
là Tín dụng, Ngân quỹ, Đầu tư Tài chính, các Ngân hàng thương mại hiện đại
ngày nay ngày càng quan tâm đến việc phát triển các dịch vụ mới, đáp ứng tối
đa nhu cầu của khách hàng qua đó Ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận với mức rủi
ro thấp nhất. Các dịch vụ khác mà ngân hàng cung cấp vô cùng phong phú,


19

gồm có:
*Dịch vụ thanh toán: Đây là nghiệp vụ mang tính dịch vụ đơn thuần mà
không cần sử dụng đến nguồn vốn của ngân hàng, thêm vào đó nó còn tạo ra
một nguồn vốn tương đối lớn cho ngân hàng thông qua quá trình thanh tóan.
Ngân hàng thương mại có thể thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước
thông qua các phương tiện thanh toán như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ
…hoặc thanh toán quốc tế dưới các hình thức như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C…
Thông qua các dịch vụ thanh toán, Ngân hàng thương mại không những thu
được các khoản phí mà còn tăng sức cạnh tranh của mình đối với các đối thủ.
*Dịch vụ Bảo Hiểm: Bao gồm trong đây có các loại hình như :Bảo
hiểm kinh doanh, Bảo hiểm nhà ở và đồ dùng…Khi xác định cung cấp loại
hình dịch vụ này, Ngân hàng thương mại cũng xác định sẽ phải cạnh tranh
gay gắt với các đối thủ chuyên doanh về Bảo hiểm. Tuy nhiên các Ngân hàng
thương mại vẫn cung cấp dịch vụ này vì mục đích đa dạng hoá danh mục sản
phẩm cũng như tăng thêm thu nhập cho bản thân mình.
*Dịch vụ Bảo lãnh: Cũng như Bảo hiểm, bảo lãnh là một nghiệp vụ
ngoại bảng của Ngân hàng thương mại. Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng

động lớn.
*Dịch vụ tư vấn: Là loại dịch vụ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký
kết và cung cấp cho bên được tư vấn những trợ giúp của những nhân viên
được đào tạo về chuyên môn một cách khách quan độc lập.
Hơn bất cứ một doanh nghiệp nào, ngân hàng thương mại là một doanh
nghiệp mà hoạt động kinh doanh luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn cao bởi đối
tượng kinh doanh của Ngân hàng thương mại là tiền tệ và nguồn vốn chủ yếu
của ngân hàng là do đi vay dưới nhiều hình thức. Chính vì vậy trong haot
động của mình Ngân hàng là một doanh nghiệp có quan hệ với rất nhiều
khách hàng, lưu giữ nhiều thông tin của các tổ chức kinh tế, hơn nữa ngân
hàng còn có các nhân viên đầy kinh nghiệm trong lĩnh vực Tài chính tiền tệ.


21

Điều này giúp cho các chuyên gia của ngân hàng có thể đưa ra các lời khuyên
tối ưu cho các khách hàng, giúp cho họ giải quyết các vấn dề trong kinh
doanh của mình một cách có hiêu quả nhất .
Dịch vụ tư vấn không chỉ giúp cho ngân hàng thu được các khoản phí
mà còn nâng cao hình ảnh của ngân hnàg trong mắt khách hàng. Ngoài các
dịch vụ trên, ngân hàng thương mại còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác
như: quản lý ngân quỹ, cho thuê két…
Nói tóm lại, các ngân hàng thương mại hiện nay, ngoài việc thực hiện
các nghiệp vụ truyền thống còn thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ khác
bằng cách đầu tư vào các thiết bị kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin vào
việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng sao cho có thể trở thành
ngân hàng đa năng hiện đại, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng để từ đó
thu về các khoản lợi nhuận.
Ngày nay, với sự tiến bộ của công nghệ thông tin, danh mục các dịch
vụ của ngân hàng tăng lên nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách

nên ta sẽ xem xét về hoạt động này. Cho vay KHCN là một hình thức tài trợ
của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân: “Đó là quan hệ kinh tế mà
trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền
với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ
mục đích của khách hàng.”
1.2.1.2. Đặc điểm cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại
Cho vay KHCN của ngân hàng nhằm tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng
của cá nhân và hộ gia đình. Khác với cho vay kinh doanh, ở đây người vay sử
dụng tiền vay vào mục đích không sinh lời, nguồn trả nợ độc lập so với sử
dụng tiền vay, vì vậy cho vay KHCN có những đặc điểm như sau:



Các sản phẩm Cho vay KHCN rất phong phú vì khách hàng vay vốn rất đa
dạng và mục đích sử dụng vốn linh hoạt.
Như đã nói ở trên, do đối tượng của cho vay KHCN hướng đến là tất cả
người dân có thu nhập trong xã hội, mà tùy theo hoàn cảnh, thu nhập, và
mong muốn của mỗi người mà mục đích vay vốn của họ là hoàn toàn khác
nhau. Những khách hàng là cá nhân, có thu nhập cao trong xã hội thì nhu cầu
tiêu dùng của họ khác hoàn toàn với những cá nhân có thu nhập thấp, trung


23

bình. Hoặc tùy vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, có người có những nhu
cầu về nhà ở, về những vật dụng xa xỉ, về những phương tiện đi lại có giá trị
cao như ô tô, xe máy… nhưng cũng có những người vay với mục đích đi du
học hoặc để trang trải các nhu cầu chi tiêu cho y tế… Chính vì vậy sản phẩm
cho vay KHCN cũng phải đa dạng và phong phú, nhằm đáp ứng tối đa nhu
cầu tiêu dùng của mọi người dân, mọi tầng lớp trong xã hội.

đầy đủ hoặc thiếu tính chính xác. Các thông tin cá nhân đưa ra thường không
rõ ràng và minh bạch như các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, việc thẩm
định xác minh cũng gặp nhiều khó khăn… Ngày nay, để hạn chế bớt rủi ro,
trong hầu hết các khoản cho vay KHCN ngân hàng đều đòi hỏi phải có đảm
bảo bằng tài sản.


Các khoản cho vay KHCN thường có lãi suất cao.
Điều này xuất phát từ việc các khoản cho vay KHCN có chi phí và rủi
ro cao nhất trong các loại cho vay của ngân hàng. cho vay KHCN thường
nhạy cảm theo chu kỳ, khi nền kinh tế phát triển, người dân có thu nhập cao,
nhu cầu về tiêu dùng của họ cũng tăng lên do họ thấy lạc quan về tương lai,
ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái đại bộ phận dân cư đều có xu
hướng thắt chặt tiêu dùng, tiết kiệm nhiều hơn chi tiêu. Mặt khác, người tiêu
dùng thường ít nhạy cảm với lãi suất, họ quan tâm đến khoản tiền phải trả
hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng.



Thời hạn trong cho vay KHCN khá đa dạng, cả ngắn, trung và dài hạn.
Thời hạn cho vay KHCN còn tùy thuộc vào mục đích vay vốn, giá trị
mỗi khoản vay, thu nhập hàng tháng của khách hàng và thỏa thuận giữa khách
hàng và ngân hàng trong hợp đồng tín dụng. Nếu khách hàng vay vốn với
mục đích mua nhà, bất động sản, ô tô… thì giá trị các khoản vay thường lớn,
thời hạn trả nợ thường dài, ngược lại nếu là các khoản vay nhỏ hơn như vay
để sửa nhà, mua xe máy… thì thời hạn trả nợ thường ngắn hơn.
1.2.1.3. Các hình thức cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng
thương mại



bằng nhau.
b.

Cho vay KHCN phi trả góp:

Là loại cho vay KHCN mà trong đó khách hàng chỉ thanh toán cho
ngân hàng một lần khi đến hạn.
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản vay.


a.

Cho vay KHCN trực tiếp.
Là hình thức khách hàng trực tiếp vay tiền từ ngân hàng để phục vụ cho
mục đích tiêu dùng của mình.



Cho vay trả theo định kỳ: Là phương thức trong đó khách hàng vay và trả trực tiếp
với ngân hàng với mức trả và thời hạn trả được quy định khi cho vay. Với hình
thức này, tiền vay có thể được cấp bằng tiền mặt hoặc chuyển thẳng vào tài khoản
cá nhân của khách hàng, đồng thời ghi Nợ tài khoản cho vay.



Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi
vượt trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status