MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trƣớc những biến động ngày càng bất lợi của thời tiết do biến đổi khí hậu toàn
cầu gây ra nhƣ suy giảm tài nguyên nƣớc cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng ảnh hƣởng đến
việc quản lý, khai thác tài nguyên nƣớc, ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp,
phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Ngành thủy lợi đã xác định nhiệm vụ và mục
tiêu đến năm 2020 phải thực hiện đƣợc là: Bảo đảm nhu cầu nƣớc tƣới cho 7,6 triệu ha
gieo trồng lúa, 1,2 triệu ha ngô, rau màu cây vụ đông; nhu cầu nƣớc cho nuôi trồng
thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm 0,65 triệu ha; nƣớc sinh hoạt cho 100% dân nông thôn
theo tiêu chuẩn hợp vệ sinh; nâng cao mức an toàn phòng chống và thích ứng với biến
đổi khí hậu để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao
đời sống nhân dân, xây dựng nông thôn mới.
Về cơ chế chính sách quản lý tƣới trong thủy lợi, Chính phủ đã ban hành Nghị
định 115/2008/NĐ-CP quy định mức thu TLP và miễn TLP đối với các công trình đầu
tƣ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc đƣợc quy định cho tƣới trong nông nghiệp và
biểu mức thu tiền nƣớc với các tổ chức, cá nhân sử dụng nƣớc làm dịch vụ từ công
trình thuỷ lợi để phục vụ cho các mục đích không phải sản xuất nông nghiệp. Nghị
định cũng quy định phạm vi miễn TLP và mức miễn TLP. Nghị định đã làm thay đổi
lớn đối với cuộc sống của ngƣời nông dân, đồng thời cũng có nhiều hạn chế cần phải
khắc phục nhƣ: (i) Mức thu TLP hiện còn nhiều bất hợp lý, cụ thể việc lấy mức quy
định của Nghị định 143 làm cơ sở tính toán và trên cơ sở đó nhân với hệ số điều chỉnh
trƣợt giá là 2.31 lần, do đó không phù hợp với thực tế vì quan điểm mức thu 143 và
115 là khác nhau; (ii) Theo mức thu quy định của Nghị định 115, kinh phí cấp bù cho
các tỉnh ĐBSCL là rất lớn, mặc dù chỉ tính theo mức thu tạo nguồn. Khi thực hiện việc
cấp bù kinh phí miễn thủy lợi phí đối với các tỉnh không thể thực hiện theo quy định
của Nghị định 115, vì nếu cấp đủ, các địa phƣơng sẽ chuyển việc sử dụng nguồn kinh
phí này theo hình thức xây dựng cơ bản… Mặc dù mức thu đối với nuôi cá lồng bè
theo quy định của Nghị định 115 không điều chỉnh. Tuy nhiên theo phản ánh của
ix
Những yếu tố về CLDV và Ý thức của hộ dùng nƣớc đã và đang ảnh hƣởng đến
hiệu quả tƣới của CTTL. Đã có nhiều nghiên cứu liên quan về vấn đề hiệu quả tƣới
đến các yếu tố trên nhƣng mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá định tính trong điều kiện
miễn giảm TLP. Vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu đánh giá đầy đủ (định tính,
định lƣợng và đa chiều) về CLDV tƣới của các công ty thủy nông và ý thức của hộ
dùng nƣớc khi thực thi chính sách miễn giảm TLP. Đó là cơ sở để đề xuất các biện
pháp nâng cao hiệu quả tƣới trong điều kiện miễn giảm TLP theo hƣớng tiếp cận mới
về CLDV và ý thức của hộ dùng nƣớc. Nghiên cứu này phù hợp với cách tiếp cận theo
quản lý định hƣớng dịch vụ mà ngành thủy lợi Việt Nam đang hƣớng tới đã đề cập
trong mục tiêu tổng quát của Đề án nâng cao hiệu quả khai thác CTTL hiện có ban
hành theo QĐ 784/QĐ-BNN-TCTL ngày 21/04/2014 của Bộ trƣởng Bộ NN&PTNT.
Do đó, đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới trong
điều kiện miễn giảm thủy lợi phí vùng Đồng bằng sông Hồng” là hết sức cần thiết,
mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu
(i) Nghiên cứu tác động của chính sách TLP đến các đối tƣợng hƣởng lợi, hiệu
quả sử dụng nƣớc, năng suất cây trồng, kinh phí nhà nƣớc;
(ii) Đánh giá CLDV tƣới nông nghiệp;
(iii) Đánh giá SHL của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức sử dụng nƣớc và bảo vệ
CTTL của hộ dùng nƣớc khi không phải trả phí;
(iv) Đề xuất, kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả tƣới phục vụ sản xuất
nông nghiệp một cách phù hợp trong điều kiện thực tế quản lý khai thác CTTL của
vùng ĐBSH.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Chính sách thuỷ lợi phí của Việt Nam (với các đối tƣợng, phạm vi miễn TLP
theo Nghị định 67/2012/ NĐ-CP cho sản xuất nông nghiệp);
xi
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ÁP DỤNG
Phƣơng pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu định lƣợng
Mô hình SERVQUAL
(Parasuraman)
- Phương pháp kế thừa
- Phương pháp định tính
- Phương pháp định lượng
- Phương pháp phân tích đa chiều
- Phương pháp tổng kết phân tích thực tế
- Phương pháp mô hình toán
- Phương pháp chuyên gia và tham vấn cộng đồng
Mô hình 1
Chất lượng
dịch vụ tưới
nông nghiệp
(CLDV)
Mô hình 2
Sự hài lòng của
nhà quản lý
thủy lợi (SHL)
Nội dung chƣơng 3
Đề xuất biện pháp
nâng cao CLDV tưới
nông nghiệp
Đề xuất biện pháp
nâng cao ý thức
của người dân về
sử dụng nước tiết
kiệm, tham gia
quản lý khai thác
và bảo vệ CTTL
Hình 1. Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu
xiii
Giải pháp phát
triển ứng dụng hệ
thống thông tin
nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý
tưới
Để thực hiện quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phƣơng pháp sau:
+ Phương pháp kế thừa: Kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học, lý
thuyết, thực tiễn trong và ngoài nƣớc;
+ Phương pháp định tính: Phƣơng pháp này đƣợc ứng dụng phân tích các tác
động có tính chất định tính của chính sách miễn giảm TLP đƣợc thực hiện bằng việc
phỏng vấn các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Luận án đã đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn tác động đa chiều về ảnh
hƣởng của chính sách miễn giảm TLP ở vùng ĐBSH đến: (i) Các đối tƣợng liên quan
(hộ dùng nƣớc, HTX, IMC, cơ quan quản lý nhà nƣớc); (ii) Hiệu quả sử dụng nƣớc;
(iii) Ngân sách nhà nƣớc; (iv) Năng suất cây trồng (lúa);
+ Đã áp dụng thành công các mô hình đƣợc nghiên cứu xây dựng trong luận án
để đánh giá CLDV, SHL nhà quản lý thuỷ lợi vùng ĐBSH;
+ Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp các đơn vị quản lý nhà nƣớc,
công ty QLKT CTTL nâng cao hiệu quả QLKT, CLDV và ý thức của ngƣời dân khi
thực thi chính sách miễn giảm TLP;
+ Biên soạn cuốn tài liệu giới thiệu về những mô hình quản lý, chính sách TLP
ở một số nƣớc trên thế giới và ở Việt Nam phục vụ cho các đối tƣợng nghiên cứu
trong lĩnh vực quy hoạch, thể chế, chính sách thuỷ lợi;
+ Xây dựng phần mềm quản lý TLP và khảo sát đánh giá CLDV tƣới nông
nghiệp trực tuyến.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã xây dựng thành công phƣơng pháp và mô hình định lƣợng về
CLDV tƣới nông nghiệp tại vùng ĐBSH;
- Luận án đã xây dựng thành công phƣơng pháp và mô hình định lƣợng về SHL
của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức sử dụng nƣớc và bảo vệ công trình thuỷ lợi của hộ
dùng nƣớc trong điều kiện miễn giảm TLP các tỉnh thuộc ĐBSH.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 4 chƣơng:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và mô hình áp dụng
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tƣới
Kết luận và kiến nghị
xv
xuống cấp, khả năng chuyển nƣớc bị hạn chế. Máy móc thiết bị của các trạm bơm hiệu
suất thấp, tiêu thụ nhiều điện năng, chi phí sửa chữa bảo dƣỡng lớn, gây lãng phí nƣớc,
tốn diện tích đất...
Vùng ĐBSH đƣợc lựa chọn là vùng nghiên cứu vì một số lý do sau:
- Thứ nhất, đây là vùng đồng bằng châu thổ đóng vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội của cả nƣớc. Mặc dù diện tích chỉ chiếm có 6,4% nhƣng dân số
chiếm tới 22,8%. Giá trị GDP của vùng chiếm 27% tổng giá trị GDP cả nƣớc.
- Thứ hai, hệ thống CTTL đƣợc đầu tƣ xây dựng tƣơng đối hoàn thiện từ công
trình đầu mối đến mặt ruộng. Mặc dù chủ yếu phục vụ tƣới tiêu bằng động lực nhƣng
các CTTL trong vùng cũng đa dạng và tiêu biểu, bao gồm cả công trình trọng lực (hồ
chứa, đập dâng) và công trình động lực (trạm bơm). Ngoài nhiệm vụ chính là tƣới, tiêu
phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhiều hệ thống công trình trong vùng đã đƣợc khai thác
tổng hợp, đa mục tiêu kết hợp với cấp nƣớc sinh hoạt, giao thông thuỷ, phát điện,
phòng chống lũ.
- Thứ ba, hệ thống tổ chức QLKT CTTL cũng cơ bản đồng bộ và hoạt động có
hiệu quả. Đây là vùng có 100% các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ƣơng có doanh
nghiệp QLKT các hệ thống CTTL vừa và lớn. Các CTTL nhỏ, thuỷ lợi nội đồng chủ
yếu do các tổ chức là HTX dịch vụ nông nghiệp QLKT (chiếm gần 90% số Tổ chức
hợp tác dùng nƣớc).
Đây là những đặc trƣng tiêu biểu cho công tác thuỷ lợi (cơ sở hạ tầng, hệ thống
tổ chức QLKT và tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội), đồng thời cũng là
các yếu tố có mối liên hệ trực tiếp đến chính sách thuỷ lợi. Do vậy, vùng ĐBSH đƣợc
tác giả lựa chọn để thực hiện nghiên cứu này.
2
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về chính sách thủy lợi phí
Nói đến chính sách TLP hay còn đƣợc hiểu là các chính sách, quy định liên quan
nông nghiệp, hay sự phát triển bền vững và giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo
giữa thành thị và nông thôn đáp ứng đƣợc yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi
hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trƣớc hết là thuỷ lợi - một lĩnh
vực cơ bản có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nƣớc, một trong
những điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng nhƣ các loại hình
sản xuất, đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững
của đất nƣớc, không ngừng nâng cao đời sống cả về Kinh tế và Văn hoá - Xã hội.
Việt Nam là một nƣớc đi lên từ nông nghiệp, do đó ngành thủy lợi có vai trò rất
quan trọng đối với nền kinh tế của đất nƣớc, công tác thủy lợi là biện pháp quan trọng
hàng đầu trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, tăng
vụ, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Công tác thủy lợi nƣớc ta căn bản đáp ứng
đƣợc yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai ở các
vùng, miền trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Tuy
nhiên, trƣớc yêu cầu đòi hỏi ngày một cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc và những bất lợi về thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra, nhiệm vụ
của công tác thủy lợi đang đứng trƣớc nhiều khó khăn, thách thức. Yêu cầu đặt ra là
nhà nƣớc cần phải đề ra những chính sách phù hợp để giải quyết các vấn đề liên quan
đến công tác thủy lợi, liên quan đến đại bộ phận ngƣời lao động sản xuất nông nghiệp.
Chính sách TLP là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nƣớc với mục
tiêu giúp công tác thủy lợi đạt hiệu quả cao.
Trải qua 66 năm (1949 - 2015) chính sách TLP ở nƣớc ta đã qua 7 lần thay đổi,
gần đây nhất, chính phủ đã ban hành Nghị định 115 nhằm sửa đổi bổ sung một số điều
của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP. Nghị định này đã có sự thay đổi cơ bản về việc
miễn, giảm TLP. Chính sách miễn TLP là một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc
ta đối với ngƣời nông dân, nhằm giảm gánh nặng, cải thiện đời sống của ngƣời dân,
tuy nhiên khi thực thi chính sách miễn giảm TLP còn nhiều bất cập xảy ra và còn là
vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà khoa học ở nƣớc ta hiện nay. Nghị định 115 thực thi
đƣợc 4 năm có những bất cập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP
ngày 10/09/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP và thay
cung cấp nƣớc tƣới, bằng các chỉ số đo đạc và tính toán kỹ thuật, hiệu quả kinh tế…
Nhƣng trong luận án này, một hƣớng tiếp cận đƣợc đề xuất là đánh giá CLDV của các
công ty thủy nông thông qua đánh giá SHL của các hộ dùng nƣớc.
5
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá CLDV
cung cấp nƣớc, từ đánh giá CLDV cung cấp nƣớc sinh hoạt, xử lý nƣớc thải, đến đánh
giá chất lƣợng cấp nƣớc tƣới. Theo nghiên cứu của Hayretin và nhóm nghiên cứu,
đánh giá tính bền vững của hệ thống quản lý tƣới tại hệ thống tƣới Bursa–Karacabey
phía tây Thổ Nhĩ Kỳ [6]. Nghiên cứu này đã kết hợp cả về phƣơng pháp đánh giá chỉ
tiêu kỹ thuật (chỉ số kỹ thuật gồm hiệu suất tƣới, và tỷ lệ cấp nƣớc), chỉ tiêu về tài
chính (hiệu quả thu TLP, mức tự chủ về tài chính và tỷ suất công nhân trên một đơn vị
diện tích ha). Đánh giá mức độ hài lòng của ngƣời dân mới dừng lại ở mức nghiên cứu
định tính về xác suất cũng nhƣ tỷ lệ phần trăm mức độ hài lòng CLDV khi đƣợc hỏi.
Vì vậy, việc đánh giá chƣa mang tính khái quát và chƣa định lƣợng đƣợc mức độ hài
lòng sẽ dựa trên các thành phần nhân tố nào. W.A.S. Lakmali và nnk [7] đã tiến hành
nghiên cứu trên ba hệ thống Batalagoda, Hakwatuna Oya và Kimbulwana Oya ở
thƣợng nguồn lƣu vực sông Deduru Oya và so sánh giữa các hệ thống dựa trên một số
chỉ số đánh giá CLDV. Số liệu thu thập từ các hệ thống này gồm có lƣợng mƣa, năng
suất, hiệu quả canh tác, cấp và phân phối nƣớc trong giai đoạn các vụ canh tác (Maha
và Yala) năm 2012-2013. Nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc mối liên hệ giữa CLDV cung cấp
nƣớc tƣới với năng suất cây trồng, các nghiên cứu này đƣợc tiến hành đồng thời trên
ba hệ thống mạng có quy mô và tính chất tƣơng tự và có sự tƣơng đồng. Một số nghiên
cứu áp dụng công nghệ vào đánh giá CLDV nhƣ nghiên cứu đánh giá CLDV tƣới dựa
vào số liệu viễn thám của Mali Sander J. Zwart và Lucie M. C. Leclert [8]: Một nghiên
cứu điển hình ở hệ thống ở Mali. Hiệu quả (hay chất lƣợng) dịch vụ tƣới của hệ thống
này là một hệ thống tƣới lúa quy mô lớn, đƣợc phân tích trên cơ sở sử dụng công nghệ
viễn thám. Ƣu điểm lớn nhất của việc sử dụng số liệu lấy từ hệ thống viễn thám so với
số liệu đo thực tế là nó cung cấp các thông tin theo yêu cầu về mặt không gian cho
đạc, nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể với thời gian và tốn kém. Đối với hiện
trạng thủy lợi Việt Nam hiện nay thì các thông số kỹ thuật, công cụ đo đạc kỹ thuật
này chƣa có và chƣa thực hiện đƣợc. Do đó luận án này đề cập, tiếp cận và đo lƣờng
đánh giá hiệu quả của một hệ thống tƣới thông qua đánh giá CLDV cung cấp nƣớc
tƣới của các công ty thủy nông bằng những đánh giá, nhận xét và mức độ hài lòng của
các hộ dùng nƣớc. Nhƣ vậy, trong phạm vi ảnh hƣởng của chính sách miễn giảm TLP,
luận án mong muốn tìm đƣợc câu trả lời từ các hộ dùng nƣớc đánh giá về CLDV tƣới
nƣớc vùng ĐBSH nhƣ thế nào? Và CLDV này có tốt hơn so với trƣớc khi miễn giảm
TLP từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện nâng cao hiệu quả tƣới, nâng cao CLDV
tƣới.
7
Khi đánh giá một chính sách thì cần có cách tiếp cận đa chiều, nhiều đối tƣợng
có liên quan và ảnh hƣởng của chính sách. Ở trên ta đã xem xét CLDV của các công ty
thủy nông đối với các hộ dùng nƣớc, trong chiều ngƣợc lại thì liệu chính sách miễn
giảm TLP có tác động đến ý thức sử dụng tiết kiệm nƣớc, tham gia quản lý và bảo vệ
CTTL hay không? Ảnh hƣởng đến CLDV tƣới của các công ty thủy nông? Theo FAO,
việc đánh giá hiệu quả tƣới hiện nay cho thấy rằng những cải cách trƣớc đây và đầu tƣ
trong lĩnh vực tƣới, tập trung cả vào vấn đề thể chế và công trình, đã không thể đạt
đƣợc những kết quả mong muốn trong việc cải thiện dịch vụ tƣới cho nông dân. Đánh
giá hiệu quả tƣới của nhiều dự án hiện đại hoá tƣới (FAO, 1999) đã chỉ ra rằng thiếu
hiểu biết về các giải pháp thích hợp là lý do chính ảnh hƣởng tới sự thành công của các
dự án hiện đại hoá tƣới và hiệu quả cung cấp dịch vụ tƣới sau khi thực hiện dự án.
Đánh giá sự phát triển tƣới ở Nam Á và Đông Nam Á (Barker và Molle, 2005) [12]
cho rằng hạn chế trong việc cải cách thể chế chuyển giao quản lý tƣới có sự tham gia
(IMT) và Quản lý tƣới có sự tham gia (PIM) đã dẫn tới những thất bại trong việc cải
thiện dịch vụ tƣới cho nông dân. Điều này cho thấy rằng ý thức sử dụng tiết kiệm, sự
tham gia quản lý và bảo vệ CTTL sẽ là một vấn đề quan trọng ảnh hƣởng đến hiệu quả
giá chất lƣợng cấp nƣớc tƣới. Nhƣng trong cùng một nghiên cứu chƣa có nghiên cứu
nào xét cả hai chiều về CLDV và Ý thức của hộ dùng nƣớc. Còn ở Việt Nam về đánh
giá CLDV thì mới chỉ đánh giá CLDV của một số ngành nhƣ hành chính công, y tế,
bảo hiểm, điện, ngân hàng… Chƣa có một nghiên cứu nào về CLDV tƣới trong nông
nghiệp khi thực hiện miễn giảm TLP.
Qua kết quả nghiên cứu tổng quan trong và ngoài nƣớc liên quan về chính sách
TLP và CLDV, luận án định hƣớng nghiên cứu nâng cao hiệu quả tƣới nông nghiệp
trong điều kiện miễn giảm TLP vùng ĐBSH bằng cách tập trung phân tích (định tính,
định lƣợng và đa chiều) các vấn đề cốt lõi về tác động của chính sách miễn giảm TLP
đến:
(i) Các đối tƣợng hƣởng lợi từ chính sách; (ii) Hiệu quả sử dụng nƣớc; (iii)
Ngân sách nhà nƣớc cấp bù; (iv) Năng suất cây trồng; (v) CLDV tƣới nông nghiệp;
(vi) Ý thức của hộ dùng nƣớc về sử dụng nƣớc tiết kiệm, tham gia và bảo vệ CTTL
thông qua SHL của ngƣời quản lý thủy lợi.
9
Để thực hiện đánh giá toàn diện và đầy đủ các nội dung trên theo các phƣơng
pháp đã đƣợc áp dụng ở các nƣớc phát triển đòi hỏi phải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ
về kỹ thuật, kinh tế và xã hội trong hoạt động quản lý khai thác CTTL. Hiện nay, công
tác quản lý khai thác CTTL của Việt Nam chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ cơ sở dữ liệu để
thực hiện đánh giá này. Do đó, luận án này sử dụng phƣơng pháp đánh giá theo mô
hình toán sử dụng cơ sở dữ liệu là các phiếu điều tra trực tiếp.
10
CHƢƠNG 2 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ÁP DỤNG
2.1 Khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn
nghiệp chuyển đổi từ nông trƣờng quốc doanh) để sản xuất nông nghiệp theo quy định
của pháp luật.
- Hộ gia đình, cá nhân là nông trƣờng viên đã nhận đất giao khoán ổn định của
nông trƣờng quốc doanh để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có quyền sử dụng đất nông nghiệp
góp đất của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật
HTX.
2) Miễn TLP đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đƣợc Nhà nƣớc giao
hoặc công nhận cho hộ nghèo.
3) Miễn TLP đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản
xuất thử nghiệm, diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm;
diện tích đất làm muối. Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong
năm.
2.1.1.2 Phạm vi miễn thủy lợi phí
Phạm vi thực hiện miễn thu TLP đƣợc tính ở từ vị trí cống đầu kênh của tổ chức
hợp tác dùng nƣớc đến công trình đầu mối của CTTL.
Trong luận án tập trung nghiên cứu tác động của chính sách TLP đến những đối
tƣợng, phạm vi đƣợc miễn giảm TLP và gọi tắt là chính sách miễn giảm TLP.
2.1.1.3 Những điểm mới về chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí hiện hành
Chính sách miễn giảm TLP hiện hành quy định tại Nghị định số 67 của Chính
phủ đã khắc phục đƣợc một số tồn tại cơ bản so với các quy định trƣớc đây. Điểm mới
của chính sách này cụ thể nhƣ sau:
a) Mở rộng đối tƣợng miễn giảm TLP thêm cho một số loại diện tích đất nông
nghiệp:
12
- Đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, đất trồng cây hàng
năm có ít nhất một vụ lúa;
2.1.2.2 Hiệu quả tưới
Hệ thống CTTL bao gồm các CTTL có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai
thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. Hệ thống thủy lợi tƣới nƣớc đƣợc gọi theo
tên truyền thống là Hệ thống thủy nông hay hệ thống tƣới (HTT) [14].
Hiệu quả tưới: Theo định nghĩa của Viện quản lý nƣớc quốc tế IWMI (International Water Management Institute) thì: “Hiệu quả tƣới (HQT) của hệ thống tƣới là
mức độ đạt đƣợc của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống tƣới đó” [15].
Đánh giá hiệu quả tƣới là những hoạt động nhằm kiểm tra xem xét sau những
giai đoạn nhất định của dự án, hoặc chu kì quản lý, để xác định đƣợc mức độ đạt đƣợc
mục tiêu, nhiệm vụ ban đầu, tìm ra nguyên nhân làm giảm hiệu quả, để có giải pháp
nâng cao hiệu quả tƣới, hoặc đề xuất ra mục tiêu, nhiệm vụ mới và việc đánh giá hiệu
quả phải dựa trên các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, đánh giá phù hợp. Để đạt đƣợc hiệu quả tƣới
thì cần phải đạt đƣợc các giải pháp đồng bộ từ cơ chế vận hành quản lý, CLDV cung
cấp, đến sự tham gia của hộ dùng nƣớc, các yếu tố tài chính và giải pháp kỹ thuật.
Những mục tiêu để đạt được hiệu quả tưới trong luận án này chỉ tập trung vào
hai thành phần quan trọng đó là CLDV tưới và ý thức của hộ dùng nước về sử dụng
nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL.
2.1.2.3 Nội dung đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống thủy lợi
Bƣớc 1: Quyết định các mục tiêu
Các mục tiêu cụ thể của luận án đƣợc xác định cụ thể trong trong giai đoạn này
đó là đánh giá tác động của chính sách miễn giảm TLP đến: (i) Các đối tƣợng hƣởng
lợi từ chính sách; (ii) Hiệu quả sử dụng nƣớc; (iii) Ngân sách nhà nƣớc cấp bù; (iv)
Năng suất cây trồng; (v) CLDV tƣới nông nghiệp; (vi) Ý thức của hộ dùng nƣớc về sử
dụng nƣớc tiết kiệm, tham gia và bảo vệ CTTL thông qua SHL của ngƣời quản lý thủy
lợi.
Bƣớc 2: Lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá đạt đƣợc các mục tiêu trên
14
+ Các đối tƣợng hƣởng lợi từ chính sách: xem xét các tiêu chí nào để thể hiện
các đối tƣợng hƣởng lợi từ chính sách và tập trung vào các đối tƣợng nhƣ Công ty khai
+ Sử dụng các tiêu chuẩn kiểm định tính phù hợp của các thang đo.
+ Sử dụng các kiểm định để xác định tính phù hợp, tính tin cậy của mô hình
định lƣợng.
+ Sử dụng các kiểm định khác nhau để kiểm tra ý nghĩa thống kê của các hệ số
và phƣơng trình hồi quy.
Bƣớc 5: Đánh giá
Dựa trên các số liệu phân tích và kết quả của mô hình đƣa ra những nhận xét
đánh giá về hiệu quả tƣới, ảnh hƣởng của chính sách miễn giảm TLP đến các đối
tƣợng liên quan, đánh giá chung về CLDV tƣới của vùng ĐBSH và ý thức sử dụng
nƣớc tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL thông qua SHL của nhà quản lý.
Bƣớc 6: Giải pháp
Các giải pháp đƣợc đề xuất nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của chính sách
miễn giảm TLP đến các đối tƣợng liên quan, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng
cao CLDV tƣới của các công ty thủy nông và nâng cao ý thức sử dụng nƣớc tiết kiệm,
tham gia quản lý và bảo vệ các CTTL của các hộ dùng nƣớc.
Hình 2.1. Chu trình đánh giá hiệu quả tƣới [16]
16
2.1.2.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả tưới trên thế giới
Đã có nhiều kết quả nghiên cứu về phƣơng pháp đánh giá hiệu quả tƣới của
HTT, trong đó đáng chú ý hơn cả là các công trình của:
- Chƣơng trình đánh giá nƣớc thế giới (WWAP);
- Các nghiên cứu điển hình của Viện quản lý nƣớc quốc tế (IWMI), Tổ chức
nông nghiệp và lƣơng thực liên hợp quốc (FAO), Ủy ban Tƣới tiêu quốc tế (ICID), Ủy
ban tƣới tiêu quốc gia và Cục thủy lợi Hoàng gia Thái Lan và nhiều kết quả nghiên
cứu tại các nƣớc Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Mexico, Nam Phi, Australia và Việt Nam về đánh giá hiệu quả hoạt động của các HTT. Dƣới đây là tổng hợp các
đề xuất của các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị [15].
thập, tính toán bộ chỉ số đánh giá công tác QLKT CTTL đƣợc xây dựng dựa trên
phƣơng pháp RAP/MASSCOTE (gồm 22 chỉ số và 29 thông số) tại các địa phƣơng
trên toàn quốc là tƣơng đối khó khăn. Trên địa bàn cả nƣớc có 63% địa phƣơng triển
khai áp dụng đƣợc một phần các chỉ số đánh giá này. Cụ thể là chỉ có 44% thông số có
thể thu thập đƣợc và tính toán đƣợc 42% chỉ số.
3. Đánh giá có sự tham gia của cộng đồng
Phƣơng pháp này có ƣu điểm là dễ đạt đƣợc sự đồng thuận giữa các bên về tồn
tại của hệ thống cũng nhƣ giải pháp cải tiến dịch vụ, nhƣng kết quả của phƣơng pháp
phụ thuộc nhiều vào trình độ, quan điểm và kỹ năng của những ngƣời đánh giá nên các
kết quả chỉ có tính chất tƣơng đối để đánh giá sơ bộ.
4. Sử dụng công nghệ viễn thám (GIS)
Ứng dụng công nghệ viễn thám để đánh giá hoạt động của hệ thống thủy lợi chỉ
phù hợp với các hệ thống lớn đƣợc hiện đại hóa. Hơn nữa chi phí để có đƣợc ảnh vệ
tinh (có đủ độ chính xác) thƣờng rất cao. Do vậy, công nghệ này chƣa phổ biến đối với
các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam và nhiều nƣớc đang phát triển khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm.
18